Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Kỷ luật lao động là công cụ bảo đảm trật tự, kỷ cương và duy trì tính ổn định của quy trình sản xuất, kinh doanh trong doanh nghiệp. Trong các hình thức kỷ luật lao động được pháp luật Việt Nam ghi nhận, sa thải là chế tài nghiêm khắc nhất do người sử dụng lao động áp dụng, dẫn đến hậu quả pháp lý trực tiếp là chấm dứt hợp đồng lao động và tước bỏ việc làm cùng nguồn thu nhập của người lao động. Xuất phát từ tính chất phức tạp và xung đột lợi ích sâu sắc giữa hai chủ thể trong quan hệ lao động, việc áp dụng biện pháp này nếu không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật sẽ trực tiếp xâm phạm quyền làm việc chính đáng của người lao động, đồng thời khiến người sử dụng lao động phải đối mặt với các rủi ro pháp lý, tranh chấp kéo dài và tổn thất chi phí bồi thường.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả lựa chọn nghiên cứu gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính tiêu dùng cá nhân tại Việt Nam. Giai đoạn từ năm 2018 đến hết năm 2022 ghi nhận Hàn Quốc là quốc gia đứng thứ hai về tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam với 28,9 tỷ USD. Nắm bắt tiềm năng thị trường, Tập đoàn LOTTE đã đầu tư thành lập Công ty Tài chính TNHH Một thành viên LOTTE Việt Nam (Lotte Finance) vào năm 2018. Là doanh nghiệp tài chính ứng dụng công nghệ Fintech và Big Data, hoạt động quản trị nhân sự và kiểm soát tuân thủ tại Lotte Finance đối mặt với nhiều thách thức đặc thù: dịch bệnh Covid-19 kéo dài và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thời điểm đó đang trong quá trình hoàn thiện, làm phát sinh nguy cơ gian lận, làm giả thông tin tín dụng từ phía khách hàng cũng như rủi ro vi phạm quy trình nghiệp vụ từ đội ngũ nhân sự.

Từ bối cảnh nêu trên, khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về kỷ luật sa thải và pháp luật điều chỉnh quan hệ kỷ luật sa thải, bao gồm bản chất, ý nghĩa, căn cứ, nguyên tắc, thẩm quyền, thời hiệu, trình tự thủ tục và hậu quả pháp lý.
  2. Phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành theo Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành; đối chiếu với thực tiễn xét xử thông qua các bản án tranh chấp lao động điển hình.
  3. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và Nội quy lao động tại Công ty Tài chính TNHH MTV LOTTE Việt Nam (Lotte Finance), chỉ ra những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế cùng nguyên nhân phát sinh.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động và nâng cao hiệu quả thi hành kỷ luật sa thải tại doanh nghiệp tài chính tiêu dùng.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật lao động Việt Nam về kỷ luật sa thải và thực tiễn thi hành tại Lotte Finance. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào địa bàn hoạt động của Lotte Finance tại Việt Nam; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ khi công ty chính thức đi vào hoạt động (tháng 09/2018) đến thời điểm áp dụng Bộ luật Lao động năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của khoa học pháp lý chuyên ngành luật lao động. Tác giả tiếp cận khái niệm kỷ luật lao động và kỷ luật sa thải dưới góc độ ngôn ngữ học và khoa học pháp lý, kế thừa định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt, Từ điển Luật học và các công trình nghiên cứu trước đây (điển hình là luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thành Vinh). Theo đó, kỷ luật sa thải được xác định là hình thức kỷ luật lao động cao nhất mà pháp luật cho phép người sử dụng lao động áp dụng đối với người lao động có hành vi vi phạm ở mức độ nghiêm trọng nhất, với hậu quả là người sử dụng lao động chấm dứt quan hệ lao động.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng phân tích gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 20 về quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm).
  • Bộ luật Lao động năm 2019 (trọng tâm là các điều 34, 41, 48, 122, 123, 125, 127, 129, 131) và Bộ luật Lao động năm 2012 (để đối chiếu, so sánh tính kế thừa và sửa đổi).
  • Các nghị định hướng dẫn thi hành: Nghị định 145/2020/NĐ-CP (các điều 68, 69, 70, 73, 84), Nghị định 05/2015/NĐ-CP, Nghị định 148/2018/NĐ-CP, Nghị định 28/2020/NĐ-CP.
  • Các đạo luật liên quan: Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Điều 162, Điều 353), Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Điều 109), Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019.
  • Pháp luật lao động quốc tế mang tính so sánh: Luật Lao động Hoa Kỳ (chế định sa thải theo ý muốn - employment-at-will), Nhật Bản, Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Hàn Quốc năm 1997, Bộ luật Lao động Liên bang Nga năm 2001, Luật Lao động Campuchia năm 1997, Đạo luật số 300 của Cộng hòa Ý.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích quy phạm: Bóc tách cấu trúc, điều kiện áp dụng và nội dung điều chỉnh của các điều khoản luật thực định.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 với Bộ luật Lao động năm 2012, đồng thời so sánh với pháp luật của các quốc gia khác về thời hiệu, căn cứ sa thải và thủ tục giải quyết.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống (Case study): Khai thác và phân tích lập luận của Tòa án trong các bản án phúc thẩm và sơ thẩm thực tế tại Việt Nam để làm rõ khoảng trống giữa luật thành văn và thực tiễn áp dụng.
  • Phương pháp tổng hợp, thống kê: Sử dụng số liệu thực tế về quy mô vốn FDI, số liệu nhân sự, cơ cấu văn bản nội bộ (Nội quy lao động gồm 08 chương, 45 điều) của Lotte Finance.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội, các bài viết trên Tạp chí Nghề Luật, ấn phẩm khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các bản án công khai của Tòa án nhân dân các tỉnh/thành phố (Cần Thơ, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh) và hồ sơ thực tế tại Công ty Tài chính TNHH MTV LOTTE Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KỶ LUẬT SA THẢI

Chương 1 thiết lập hệ thống cơ sở lý luận về chế định kỷ luật sa thải với các nội dung trọng tâm:

  • Khái niệm và đặc điểm: Tác giả xác định kỷ luật sa thải có 3 đặc điểm bản chất: (i) Chủ thể áp dụng là người sử dụng lao động và chủ thể bị áp dụng là người lao động; (ii) Là hình thức kỷ luật nặng nhất làm chấm dứt quan hệ lao động, tước bỏ việc làm và nguồn thu nhập của người lao động; (iii) Căn cứ áp dụng phải được pháp luật quy định cụ thể nhằm giới hạn quyền lực của người sử dụng lao động. Tác giả phân biệt rõ rệt giữa sa thải và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: sa thải là biện pháp chế tài kỷ luật mang tính bắt buộc tuân theo trình tự họp xét nghiêm ngặt và người sử dụng lao động không có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc.
  • Ý nghĩa của việc xử lý kỷ luật sa thải: Được phân tích đa chiều dưới ba góc độ: (i) Đối với người sử dụng lao động, là công cụ quản lý, điều hành, thiết lập nền nếp và bảo đảm tính tuân thủ quy trình; (ii) Đối với người lao động, tạo áp lực răn đe, nâng cao trách nhiệm nhưng cũng đòi hỏi cơ chế bảo vệ trước nguy cơ bị lạm quyền; (iii) Đối với Nhà nước và xã hội, duy trì sự ổn định thị trường lao động, phòng ngừa tranh chấp và xung đột xã hội.
  • Nội dung pháp luật điều chỉnh: Bao quát qua kinh nghiệm quốc tế và quy phạm chung:
    • Căn cứ sa thải: So sánh mô hình của Hoa Kỳ (người sử dụng lao động có quyền sa thải rộng rãi nhưng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Tòa án về bồi thường thiệt hại), Nhật Bản (sa thải vì lý do kinh tế), Hàn Quốc (yêu cầu lý do chính đáng và quy định tại Điều 25 Luật Tiêu chuẩn Lao động 1997 buộc ưu tiên tuyển dụng lại người lao động bị sa thải trong 3 năm nếu tuyển mới cùng vị trí).
    • Nguyên tắc và thời hiệu: Nêu rõ sự đa dạng về thời hiệu sa thải như Nga (không quá 1 tháng kể từ ngày phát hiện), Campuchia (rất ngắn, trong vòng 15 ngày kể từ ngày phát hiện vi phạm), Ý (thảo luận ngay lập tức khi phát hiện).
    • Trình tự thủ tục và hậu quả pháp lý: Khẳng định việc bắt buộc có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, quyền tự bào chữa và lập biên bản là các nguyên tắc cốt lõi nhằm chống lại sự độc đoán của người sử dụng lao động. Hậu quả pháp lý của sa thải trái pháp luật buộc người sử dụng lao động phải khôi phục quan hệ lao động, bồi thường tiền lương và các chế độ bảo hiểm.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT SA THẢI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH TNHH MTV LOTTE VIỆT NAM

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng quy định tại Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn xét xử, cùng thực trạng thi hành tại Lotte Finance:

  • Thực trạng pháp luật về căn cứ kỷ luật sa thải (Điều 125 BLLĐ năm 2019):
    • Nhóm hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc: Pháp luật không quy định giá trị tài sản tối thiểu bị trộm cắp hoặc tham ô để làm căn cứ sa thải, điều này trao quyền định lượng cho người sử dụng lao động trong Nội quy lao động nhưng cũng dẫn đến vướng mắc khi hành vi tham ô được thực hiện bởi người không có chức vụ (đối chiếu Điều 353 BLHS 2015). Đối với hành vi đánh bạc, phát sinh bất cập khi xác định tính pháp lý của trường hợp người lao động đánh bạc ngoài giờ làm việc nhưng tại nơi làm việc, hoặc trong giờ làm việc nhưng ở ngoài phạm vi trụ sở.
    • Nhóm hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng: Điểm d khoản 2 Điều 69 Nghị định 145/2020/NĐ-CP buộc doanh nghiệp phải lập danh mục tài sản, bí mật trong Nội quy lao động mới có cơ sở xử lý. Tác giả đưa ra vụ án tranh chấp giữa bà Tạ Thị Kim Tr. và Công ty Cổ phần Sài Gòn Vi Na (Bản án số 359/2019/LĐ-PT ngày 22/07/2019): bà Tr. gửi nhầm tài liệu nội bộ ra ngoài, Tòa án xác định việc sa thải có vi phạm nếu tài liệu đó là các quy chế chung đã được công bố công khai không thuộc diện bí mật. Về hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của người sử dụng lao động, Bản án số 01/2018/LĐ-PT ngày 08/08/2018 giữa ông A và Công ty D cho thấy việc công ty sa thải ông A vì không đi làm ngày Giỗ tổ Hùng Vương bị Tòa án tuyên trái pháp luật do công ty không chứng minh được thiệt hại thực tế phát sinh.
    • Căn cứ quấy rối tình dục tại nơi làm việc: Là điểm mới tiến bộ tại khoản 2 Điều 125 BLLĐ năm 2019, được định nghĩa cụ thể tại khoản 9 Điều 3 BLLĐ năm 2019 và quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 84 Nghị định 145/2020/NĐ-CP (bao gồm hành vi cử chỉ, ngôn ngữ, đề nghị trao đổi tình dục để lấy ưu đãi trong công việc).
    • Căn cứ tái phạm và tự ý bỏ việc: Quy định tái phạm tại khoản 3 Điều 125 bị đánh giá là mang tính "máy móc" vì chỉ xử lý khi người lao động lặp lại đúng hành vi cũ; nếu người lao động thực hiện hành vi vi phạm khác có mức độ tương đương hoặc nghiêm trọng hơn trong thời gian chưa xóa kỷ luật thì lại không thể áp dụng căn cứ này. Căn cứ tự ý bỏ việc quy định mốc 05 ngày cộng dồn trong 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong 365 ngày mà không có lý do chính đáng.
  • Thực trạng về nguyên tắc, thời hiệu, thẩm quyền và trình tự thủ tục:
    • Nguyên tắc bảo vệ lao động đặc thù: Phân tích Bản án số 02/2018/LĐ-PT của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (tranh chấp giữa bà H và Công ty TNHH S về thủ tục phê duyệt đơn nghỉ phép) và Bản án số 06/2018/LĐ-ST ngày 27/06/2018 của TAND thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương (Công ty Samil MC sa thải trái pháp luật bà Đoàn Thị Hồng V. đang mang thai 11 tuần 5 ngày, Tòa tuyên buộc bồi thường 139.140.666 đồng).
    • Thời hiệu: Quy định chung 06 tháng; kéo dài 12 tháng đối với vi phạm trực tiếp đến tài chính, tài sản, bí mật công nghệ/kinh doanh. Khi hết thời gian tạm hoãn (nghỉ ốm, thai sản...), thời hiệu được kéo dài tối đa 60 ngày.
    • Trình tự 4 bước theo Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP: (1) Lập biên bản/thu thập chứng cứ; (2) Thông báo mời họp trước ít nhất 05 ngày làm việc (quy định chỉ cho phép thay đổi thời gian/địa điểm tối đa 01 lần đã khắc phục triệt để tình trạng người lao động cố tình trì hoãn làm hết thời hiệu); (3) Tiến hành họp xử lý kỷ luật và lập biên bản; (4) Ban hành quyết định sa thải trong thời hiệu.
  • Thực tiễn tại Công ty Tài chính TNHH MTV LOTTE Việt Nam (Lotte Finance):
    • Thông tin doanh nghiệp: Thành lập ngày 24/09/2018, trụ sở tại Tầng 12A, Tháp Tây, Lotte Center, 54A Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội. Quy mô nhân sự gồm 1.100 nhân viên chính thức và hơn 3.000 cộng tác viên. Sản phẩm kinh doanh chính: thẻ tín dụng, cho vay tiền mặt, cho vay mua ô tô, vay mua nhà dự án.
    • Công tác ban hành Nội quy lao động: Ban hành ngay khi thành lập với kết cấu 08 chương và 45 điều, bao quát toàn diện về thời giờ làm việc, an toàn vệ sinh lao động, bảo mật thông tin, bí mật kinh doanh, phòng chống quấy rối tình dục và trách nhiệm vật chất.
    • Khó khăn thực tế: Doanh nghiệp vận hành trong bối cảnh chịu ảnh hưởng của Covid-19 và giai đoạn đầu xây dựng cơ sở dữ liệu định danh dân cư, dẫn tới tình trạng khách hàng cung cấp thông tin sai lệch nhằm lừa đảo tín dụng, gây áp lực lên công tác kiểm soát nội bộ và xử lý vi phạm của nhân viên nghiệp vụ tín dụng.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KỶ LUẬT SA THẢI TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH

Chương 3 trình bày các định hướng và nhóm giải pháp thực tế:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Đảm bảo sự cân bằng giữa việc tôn trọng quyền quản trị, điều hành sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động với việc bảo vệ quyền làm việc, chống sa thải tùy tiện đối với người lao động.
  • Hoàn thiện các quy định của pháp luật:
    • Cụ thể hóa tiêu chí định lượng hoặc ban hành văn bản hướng dẫn xác định khái niệm "thiệt hại nghiêm trọng", "đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động" để tạo chuẩn mực chung cho Tòa án và doanh nghiệp.
    • Sửa đổi quy định về "tái phạm" tại khoản 3 Điều 125 BLLĐ năm 2019 theo hướng: không chỉ giới hạn ở hành vi lặp lại đúng lỗi cũ, mà cần mở rộng áp dụng đối với trường hợp người lao động tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm kỷ luật khác có mức độ lỗi tương đương hoặc nghiêm trọng hơn trong thời gian chưa được xóa kỷ luật.
    • Sửa đổi cách tính thời điểm bắt đầu thời hiệu xử lý kỷ luật đối với các vi phạm tài chính, bí mật công nghệ: nên tính từ ngày người sử dụng lao động "phát hiện ra hành vi vi phạm" thay vì tính từ ngày "xảy ra hành vi vi phạm", nhằm tránh trường hợp người lao động che giấu tinh vi vượt quá mốc 12 tháng luật định.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành tại công ty tài chính:
    • Hoàn thiện Nội quy lao động: Định kỳ rà soát, lập danh mục chi tiết các loại bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, dữ liệu khách hàng thẻ tín dụng và khoản vay tín chấp phù hợp với quy định của Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
    • Chuẩn hóa quy trình phê duyệt nghỉ phép bằng văn bản điện tử hoặc hệ thống phần mềm nhân sự, khắc phục kẽ hở giao đơn nghỉ phép bằng miệng hoặc nhờ chuyển hộ gây tranh chấp như trong thực tiễn xét xử.
    • Tăng cường đào tạo nghiệp vụ pháp lý cho cán bộ quản lý trực tiếp và khối nhân sự; phối hợp với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở nhằm nâng cao tính minh bạch, khách quan trong mọi phiên họp xử lý kỷ luật.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và đối chiếu các điểm sửa đổi, bổ sung then chốt giữa Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019 liên quan đến chế định kỷ luật sa thải:

Tiêu chí pháp lý Bộ luật Lao động năm 2012 Bộ luật Lao động năm 2019
Số lượng nhóm căn cứ sa thải Ghi nhận 03 nhóm trường hợp (Điều 126). Tách và mở rộng thành 04 nhóm trường hợp cụ thể (Điều 125).
Căn cứ quấy rối tình dục Chưa quy định chế tài sa thải đối với hành vi quấy rối tình dục nơi làm việc. Bổ sung chính thức thành một căn cứ sa thải độc lập (khoản 2 Điều 125).
Thẩm quyền ra quyết định Chỉ người giao kết HĐLĐ bên phía NSDLĐ mới có thẩm quyền (Nghị định 05/2015/NĐ-CP). Mở rộng thẩm quyền cho người được quy định cụ thể trong Nội quy lao động (Điều 69 NĐ 145/2020/NĐ-CP).
Quy trình hoãn cuộc họp kỷ luật NLĐ có thể đưa lý do chính đáng để hoãn họp nhiều lần, dễ làm hết thời hiệu xử lý. Chỉ cho phép hoãn và thay đổi thời gian/địa điểm họp duy nhất 01 lần (Điều 70 NĐ 145/2020/NĐ-CP).
Căn cứ xử lý không có trong NQLĐ Căn cứ duy nhất là NQLĐ; vướng mắc với đơn vị dưới 10 lao động không có NQLĐ bằng văn bản. Bổ sung căn cứ theo thỏa thuận trong HĐLĐ hoặc quy định của pháp luật lao động (Điều 127).

Khóa luận làm rõ các kết quả và phán quyết thực tế từ hồ sơ án văn:

  • Tại Bản án số 06/2018/LĐ-ST, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã tuyên buộc người sử dụng lao động bồi thường 139.140.666 đồng cho lao động nữ bị sa thải trái pháp luật khi đang mang thai 11 tuần 5 ngày.
  • Tại vụ việc tranh chấp giữa bà Tạ Thị Kim Tr. và Công ty Cổ phần Sài Gòn Vi Na (Bản án số 359/2019/LĐ-PT), yêu cầu bồi thường của người lao động được xác định là 315.000.000 đồng khi doanh nghiệp không chứng minh được tính chất bí mật kinh doanh của văn bản đã công bố.
  • Tại tranh chấp của ông A với Công ty D (Bản án số 01/2018/LĐ-PT), số tiền người lao động yêu cầu bồi thường là 35.616.000 đồng do doanh nghiệp ra quyết định kết thúc hợp đồng trước thời hạn mà không chứng minh được thiệt hại nghiêm trọng.

Về mặt đóng góp, nghiên cứu đã:

  • Chỉ ra những vướng mắc mang tính cấu trúc của pháp luật thực định: sự thiếu vắng tiêu chí xác định "lợi ích của người sử dụng lao động", tính chất cơ học của khái niệm "tái phạm", và kẽ hở thời hiệu khi tính từ "ngày xảy ra vi phạm" đối với các sai phạm tài chính phức tạp.
  • Khảo sát thực tế mô hình quản trị lao động tại một công ty tài chính tiêu dùng có quy mô hơn 4.100 nhân sự và cộng tác viên (Lotte Finance), phản ánh mối quan hệ giữa công tác kiểm soát rủi ro tín dụng và việc duy trì kỷ cương lao động theo văn bản Nội quy lao động gồm 45 điều.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và khả năng tiếp cận thông tin:

  • Tác giả chưa tiếp cận được hệ thống thống kê chi tiết về số lượng các vụ việc xử lý kỷ luật sa thải thực tế đã phát sinh nội bộ tại Lotte Finance do tính bảo mật thông tin nhân sự và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tài chính.
  • Các phân tích thực tiễn tranh chấp chủ yếu dựa trên các bản án đã xét xử công khai của các doanh nghiệp khác nhằm soi chiếu và đối chiếu với bối cảnh vận hành của Lotte Finance, thay vì phân tích trực tiếp từ các vụ kiện có sự tham gia của chính công ty tài chính này.
  • Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào giai đoạn Lotte Finance mới đi vào hoạt động (từ 2018) và giai đoạn đầu chuyển tiếp thi hành Bộ luật Lao động năm 2019.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra gồm:

  • Mở rộng khảo sát thực nghiệm định lượng về tình hình tranh chấp kỷ luật lao động tại nhiều công ty tài chính tiêu dùng khác nhau tại Việt Nam để có bức tranh so sánh toàn diện hơn.
  • Nghiên cứu sâu cơ chế xử lý vi phạm bảo mật dữ liệu khách hàng và quy định phòng chống gian lận tín dụng cá nhân khi hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã được vận hành đồng bộ và tích hợp toàn diện vào quy trình thẩm định cho vay.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Cung cấp tài liệu phân tích chuyên sâu về chế định kỷ luật lao động sa thải theo Bộ luật Lao động năm 2019; hệ thống hóa các bản án thực tế minh họa trực tiếp cho từng căn cứ pháp lý tại Điều 125.
  • Cán bộ quản lý nhân sự (HR) và bộ phận Pháp chế (In-house Counsel): Đặc biệt hữu ích cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, Fintech trong việc thiết kế kết cấu Nội quy lao động (tham khảo khung 08 chương, 45 điều của Lotte Finance), cách xây dựng danh mục tài sản/bí mật kinh doanh, và quy trình tổ chức cuộc họp kỷ luật bảo đảm tính hợp pháp theo Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Toàn bộ nội dung Mục 2.1 của Chương 2 với hệ thống luận giải chi tiết 04 nhóm căn cứ sa thải và quy trình 4 bước triệu tập, tổ chức phiên họp kỷ luật lao động, kèm theo các lỗi sai phạm phổ biến khiến doanh nghiệp bị tuyên thua kiện tại Tòa án.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có quyền sa thải người lao động vì hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh nếu chưa ban hành danh mục bí mật trong Nội quy lao động không?
Không. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 69 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động bắt buộc phải liệt kê danh mục tài sản, tài liệu, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh trong Nội quy lao động của doanh nghiệp. Nếu không xây dựng danh mục cụ thể này, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn lớn và không đủ căn cứ pháp lý vững chắc để chứng minh hành vi vi phạm của người lao động trước Tòa án, dẫn tới nguy cơ quyết định sa thải bị coi là trái pháp luật (như thực tế xét xử tại Bản án số 359/2019/LĐ-PT).

2. Thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải đối với hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản của công ty tài chính được quy định là bao lâu?
Căn cứ Điều 123 Bộ luật Lao động năm 2019, thời hiệu xử lý kỷ luật lao động thông thường là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm. Riêng đối với các hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật được kéo dài tối đa là 12 tháng. Trường hợp hết thời gian tạm hoãn xử lý (như người lao động ốm đau, thai sản...) mà thời hiệu còn lại không đủ 60 ngày thì được gia hạn thời hiệu nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian tạm hoãn.

3. Tại sao quy định sa thải do "tái phạm" tại khoản 3 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019 lại bị tác giả nhận định là còn mang tính máy móc?
Quy định hiện hành xác định tái phạm là việc người lao động "lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật". Do đó, người lao động bắt buộc phải thực hiện lại đúng hành vi vi phạm cũ mới bị coi là tái phạm. Nếu trong thời gian chấp hành kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức, người lao động lại thực hiện một hành vi vi phạm kỷ luật khác có mức độ tương đương hoặc thậm chí nghiêm trọng hơn hành vi cũ thì người sử dụng lao động vẫn không thể áp dụng căn cứ tái phạm để sa thải.

4. Người sử dụng lao động có được sa thải lao động nữ tự ý bỏ việc 05 ngày liên tục nếu người đó đang mang thai hay không?
Không được sa thải. Mặc dù hành vi tự ý bỏ việc 05 ngày công dồn trong thời hạn 30 ngày mà không có lý do chính đáng thỏa mãn căn cứ sa thải theo khoản 4 Điều 125, nhưng người sử dụng lao động vẫn phải tuân thủ nguyên tắc cấm xử lý kỷ luật đối với người lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo điểm d khoản 4 Điều 122 Bộ luật Lao động năm 2019. Doanh nghiệp chỉ có thể tiến hành xử lý kỷ luật sau khi người lao động đã kết thúc thời gian này và thời hiệu xử lý được kéo dài thêm tối đa 60 ngày (như minh chứng tại Bản án số 06/2018/LĐ-ST).

5. Cơ cấu tổ chức và văn bản Nội quy lao động của Lotte Finance được xây dựng với quy mô như thế nào?
Công ty Tài chính TNHH MTV LOTTE Việt Nam (Lotte Finance) được thành lập năm 2018 với quy mô nhân sự gồm 1.100 nhân viên chính thức và hơn 3.000 cộng tác viên. Để thiết lập trật tự lao động, công ty đã ban hành Nội quy lao động ngay từ khi thành lập với kết cấu gồm 08 chương và 45 điều, điều chỉnh toàn diện các nội dung: thời giờ làm việc, trật tự nơi làm việc, an toàn vệ sinh lao động, phòng chống quấy rối tình dục, bảo mật tài sản, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh, kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lê Minh Đức đã giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định kỷ luật sa thải theo tinh thần của Bộ luật Lao động năm 2019. Thông qua việc phân tích sâu sắc các bản án tranh chấp thực tế kết hợp khảo sát mô hình quản trị lao động tại Công ty Tài chính TNHH MTV LOTTE Việt Nam (Lotte Finance), công trình đã chỉ rõ những bất cập lập pháp xoay quanh căn cứ sa thải, thời hiệu và thủ tục tổ chức họp kỷ luật. Các giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ khoa học hữu ích nhằm hoàn thiện pháp luật lao động, đồng thời là cẩm nang thực thi có giá trị định hướng cao cho các tổ chức tài chính tiêu dùng trong việc bảo đảm kỷ cương quản trị nội bộ gắn liền với tuân thủ pháp luật.