phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về kỷ luật lao động theo hình thức sa thải Chƣơng 2: Thực trạng quy định của pháp luật về kỷ luật lao động theo hình thức sa thải Chƣơng 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về kỷ luật lao động theo hình thức sa thải, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về kỷ luật lao động theo hình thức sa thải. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG THEO HÌNH THỨC SA THẢI 1. Khái quát chung về kỷ luật lao động 1. Khái niệm về kỷ luật lao động Trong từng thời điểm phát triển xã hội, mọi ngƣời phải tuân thủ theo quy tắc chuẩn mực nhất định, những quy tắc chuẩn mực ấy chính là kỷ luật trong xã hội, một trong những nền tảng xây dựng mối quan hệ trong xã hội.
Theo từ điển Luật học 1999 Kỷ luật là Những quy tắc trong công việc, trong giao tiếp, trong đời sống do cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc đoàn thể chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng đặt ra và có hiệu lực bắt buộc thi hành và tuân theo đối với mọi thành viên các tổ chức, cơ quan ấy”1. Tùy theo tính chất của các nhóm quan hệ xã hội cũng nhƣ yêu cầu mục đích của các hoạt động chung mà có nhiều loại kỷ luật khác nhau. Có kỷ luật của các tổ chức đảng phái, kỷ luật của các tổ chức xã hội, kỷ luật của công chức trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc, kỷ luật của lực lƣợng vũ trang và kỷ luật của các đơn vị kinh tế. Kỷ luật lao động chỉ là một trong những dạng của kỷ luật.
Trong quá trình lao động, con ngƣời đặt ra những yêu cầu để hƣớng mỗi ngƣời theo một trật tự, nề nếp nhất định nằm tạo hiệu quả trong công việc. Cái để hƣớng NLĐ đi theo một trật tự, một nề nếp nhất định chính là kỷ luật lao động. Kỷ luật lao động đƣợc hiểu là “chế độ làm việc đã đƣợc quy định và đƣợc sự chấp hành nghiêm túc đúng đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm ngƣời, mỗi ngƣời trong quá trình lao động, tạo ra sự hài hòa của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi ngƣời vào một quá trình thống nhất2”. Nhƣ vậy, dƣới góc độ chung nhất (theo nghĩa rộng), kỷ luật lao động đƣợc hiểu là trật tự nề nếp mà ngƣời lao động phải tuân theo khi tham gia vào các quan hệ lao động.
Trƣờng hợp, ngƣời lao động 1 Nguyễn Hữu Quỳnh (chủ biên) (1999), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, trang 257. 2 Từ điển bách khoa, tập 2 (2002), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, trang 1023 6 không chấp hành hoặc không chấp hành đầy đủ nghĩa vụ đƣợc giao, họ sẽ phải chịu hình thức xử lý kỷ luật tƣơng ứng. Theo Từ điển Việt Nam 2006 thì kỷ luật lao động là: “Tổng thể những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức”3. Cách hiểu này thì KLLĐ có thể đƣợc hiểu là tổng thể những quy định có tính chất bắt buộc đối với NLĐ nhằm đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức trong quá trình tham gia hoạt động lao động.
Tính chất của kỷ luật trong quá trình lao động là do quan hệ sản xuất thống trị mà trƣớc hết là quan hệ sở hữu về tƣ liệu sản xuất quyết định. Khi phƣơng thức sản xuất của xã hội thay đổi thì bản chất và hình thức của kỷ luật lao động cũng thay đổi theo. Thời kỳ chế độ phong kiến, tƣ liệu sản xuất nhƣ ruộng đất đa phần do địa chủ nắm, ngƣời dân chỉ làm thuê cho địa chủ hoặc thuê đất để làm ruộng với chi phí cao cho nên rất yếu thế, thời kỳ này kỷ luật chủ yếu do địa chủ đặt ra và hình thức xử lý dựa trên bạo lực là chính. Thời kỳ tƣ bản chủ nghĩa, xã hội có hai giai cấp gồm thống trị và bị trị, giai cấp thống trị nắm tƣ liệu sản xuất, giai cấp bị trị trong đó có NLĐ bị bóc lột sức lao động thậm tệ, thời kỳ này kỷ luật lao động có tiến bộ hơn thời kỳ chế độ phong kiến nhƣng vẫn là sự cƣỡng bức của giai cấp thống trị đối với giai cấp bị trị.
Thời kỳ xã hội chủ nghĩa hiện tại, phƣơng thức sản xuất xã hội chủ nghĩa ra đời, tạo ra một mối quan hệ lao động tiên tiến, công bằng giữa NSDLĐ và NLĐ. Hai bên tự nguyện ràng buộc mình vào mối quan hệ lao động với lợi ích khác nhau, không bên nào ép buộc bên nào. Bên cạnh đó quan hệ lao động giữa NSDLĐ và NLĐ đƣợc pháp luật điều chỉnh tạo sự cân bằng về quyền lợi cả hai bên cho nên kỷ luật lao động trong thời kỳ này là loại kỷ luật lao động trên tinh thần tự nguyện, nằm trong khuôn khổ pháp luật. 3 Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển Việt Nam, NXB Đà Nẵng, trang 519.
7 Dƣới góc độ pháp lý với tƣ cách là chế định của Luật Lao động, kỷ luật lao động đƣợc hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của ngƣời lao động đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng nhƣ các biện pháp xử lý đối với những ngƣời không chấp hành hoặc không chấp hành đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ đó. Theo Khoản , Điều 82, BLLĐ 1994 khái niệm kỷ luật lao động đƣợc hiểu là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.” Trên cơ sở đó, Nghị định của Chính phủ làm rõ hơn về kỷ luật lao động quy định tại Điều 82 của BLLĐ 1994, cụ thể Điều 3 Nghị định số 41/CP ngày 6/7/1995 quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vất chất quy định: “Kỷ luật lao động theo Khoản 1 Điều 82 BLLĐ bao gồm những quy định về: “1. Chấp hành thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; 2.Chấp hành mệnh lệnh điều hành sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ; 3.Chấp hành quy định công nghệ, các quy định về nội quy an toàn lao động và vệ sinh lao động; 4.Bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh thuộc phạm vi trách nhiêm được giao.” Đến BLLĐ 2012, về cơ bản khái niệm kỷ luật lao động cũng không thay đổi so với BLLĐ 1994, cụ thể tại Điều 118 BLLĐ 2012 quy định “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.” Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng khái niệm kỷ luật lao động theo pháp luật lao động Việt Nam là kỷ luật lao động trong phạm vi của đơn vị sử dụng lao động. Từ những phân tích trên ta rút ra khái niệm: Kỷ luật lao dộng là những tiêu chuẩn do người sử dụng lao động ban hành căn cứ theo quy định pháp luật bắt buộc người lao động phải tuân thủ, nếu người lao động vi phạm tiêu chuẩn do 8 người sử dụng lao động đặt ra phải chịu trách nhiệm bởi hành vi vi phạm của mình.
Nhƣng cũng phải hiểu rằng kỷ luật lao động khác với các kỷ luật của các tổ chức, đảng phái, kỷ luật của cán bộ, công chức. Trên thực tế thƣờng xảy ra sự nhầm lẫn trong quan niệm về kỷ luật lao động với kỷ luật của các tổ chức, đảng phái khác. Vậy chúng khác nhau nhƣ thế nào? Nếu kỷ luật của các tổ chức, đảng phái là kỷ luật mang tính chất nội bộ, do tổ chức đảng phái đó đề ra thì kỷ luật lao động lại là kỷ luật của nhà nƣớc về những nguyên tắc, trật tự mà NLĐ phải tuân thủ khi tham gia quan hệ lao động. Kỷ luật lao động đƣợc áp dụng đối với lao động làm công ăn lƣơng, tức là những NLĐ thiết lập quan hệ trên cơ sở hợp đồng.
Còn kỷ luật của cán bộ công chức đƣợc áp dụng đối với cán bộ, công chức – những ngƣời thiết lập quan hệ lao động trên cơ sở tuyển dụng vào biên chế nhà nƣớc. Kỷ luật lao động chỉ bao gồm các quy định liên quan đến trật tự nề nếp trong lao động. Kỷ luật của cán bộ công chức ngoài những quy định về trật tự nề nếp trong lao động còn bao gồm những quy định liên quan đến tƣ cách, đạo đức và việc chấp hành pháp luật nói chung của cán bộ công chức. NLĐ khi tham gia quan hệ lao động, phải đặt mình dƣới sự quản lý của NSDLĐ, phải tuân thủ các quy định về kỷ luật lao động.
Do đó, khi NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động, NLĐ phải chịu trách nhiệm kỷ luật. Bản chất của kỷ luật lao động 1. Bản chất xã hội của kỷ luật lao động Kỷ luật lao động là cơ sở để tổ chức hoạt động lao động trong xã hội, là yêu cầu tất yếu của bất kỳ đơn vị sử dụng lao động. Nó đƣợc hình thành từ nhu cầu khách quan của quá trình lao động, của những hoạt động lao động mang tính tập thể.
Chính vì vậy, kỷ luật lao động luôn tồn tại trong mọi chế độ xã hội, luôn mang tính chất xã hội và do tính chất của quan hệ sản xuất trong xã hội quyết định. Nó luôn đƣợc quy định cho phù hợp với tính chất của mối quan hệ lao động. Vì vậy, ở các xã hội khác nhau, kỷ luật lao động sẽ khác nhau. Bản chất pháp lý của kỷ luật lao động Khi bàn về mặt pháp lý, ngƣời ta thấy rằng kỷ luật lao động mang thiên hƣớng bảo vệ NSDLĐ nhiều hơn là bảo vệ NLĐ, điều này đƣợc thể hiển ở việc NSDLĐ có quyền ban hành các quy định nhằm thiết lập kỷ luật lao động trong đơn vị và quyền xử lý kỷ luật đối với NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động.
Đây là một trong những nội dung cơ bản thuộc quyền quản lý lao động của NSDLĐ. Quyền hạn này của NSDLĐ có một số đặc trƣng cơ bản sau: - Việc thiết lập kỷ luật lao động và xử lý vi phạm kỷ luật lao động là quyền đơn phương của người sử dụng lao động, xuất phát từ quyền quản lý lao động chứ không phải là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên, nó là một nội dung của hợp đồng lao động. Điều này có nghĩa là khi giao kết hợp đồng lao động các bên không phải thỏa thuận về vấn đề này.