KLTN: Phát huy vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan, Salavan trong xây dựng gia đình

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu phát huy vai trò của phụ nữ huyện Tụm Lan, tỉnh Salavan trong xây dựng gia đình thời kỳ đổi mới tại CHDCND Lào.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phát huy vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan tỉnh Salavan

Nghiên cứu về vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan tỉnh Salavan mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Huyện Tụm Lan nằm ở vùng cao của tỉnh Salavan thuộc CHDCND Lào. Nơi đây tập trung nhiều nhóm dân tộc như Lào Lum và Lào Thâng cùng sinh sống. Trong tiến trình đổi mới đất nước, gia đình giữ vai trò nền tảng tế bào xã hội. Phụ nữ giữ vị trí then chốt trong việc duy trì hạnh phúc và kết nối các thế hệ. Họ vừa thực hiện thiên chức tái sản xuất con người, vừa trực tiếp lao động sản xuất. Quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào luôn coi trọng sự tiến bộ của phụ nữ. Nghị quyết đại hội các cấp khẳng định phụ nữ là động lực to lớn của công cuộc phát triển. Khóa luận làm rõ cơ sở khoa học dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng lãnh đạo của Đảng. Đề tài xác định rõ mối quan hệ giữa bình đẳng giới và phát triển bền vững. Nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện về đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Từ đó, công trình mở ra hướng tiếp cận mới trong công tác hoạch định chính sách cơ sở.

1.1. Cơ sở lý luận về vai trò phụ nữ trong xây dựng gia đình

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định phụ nữ quyết định chất lượng đời sống gia đình và xã hội. Gia đình là tế bào xã hội, nơi duy trì nòi giống và giáo dục nhân cách. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào kế thừa quan điểm này trong thời kỳ đổi mới toàn diện. Đảng ban hành nhiều chính sách nhằm giải phóng phụ nữ khỏi định kiến lạc hậu. Phong trào thi đua 'Ba tốt' trở thành kim chỉ nam cho phụ nữ Lào. Nội dung gồm công dân tốt, phát triển tốt và xây dựng gia đình văn hóa. Cơ sở lý luận này tạo tiền đề định hướng hành động cho phụ nữ huyện Tụm Lan vươn lên khẳng định vị thế cá nhân.

1.2. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tại huyện Tụm Lan

Huyện Tụm Lan sở hữu điều kiện tự nhiên đa dạng nhưng địa hình đồi núi còn nhiều hiểm trở. Cơ cấu dân cư gồm hai nhóm dân tộc chủ yếu là Lào Lum và Lào Thâng. Người dân có truyền thống cần cù, đoàn kết và kiên cường vượt khó. Kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp nương rẫy và chăn nuôi nhỏ lẻ. Quá trình đổi mới kinh tế mang lại nhiều cơ hội việc làm mới cho phụ nữ. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng thiếu thốn gây khó khăn cho việc giao thương và học tập. Điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù này tác động trực tiếp tới đời sống gia đình phụ nữ cơ sở.

II. Thực trạng vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan trong xây dựng gia đình

Thực trạng phát huy vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực xen lẫn thách thức. Phụ nữ địa phương thực hiện tốt chức năng tái sản xuất và nuôi dưỡng thế hệ tương lai. Nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình từng bước cải thiện. Trong kinh tế gia đình, phụ nữ tham gia tích cực vào trồng trọt, chăn nuôi và dệt vải truyền thống. Thu nhập từ bàn tay người phụ nữ đóng góp quan trọng vào ngân sách hộ gia đình. Họ cũng giữ vai trò trung tâm giữ lửa hạnh phúc và cân bằng tâm lý gia đình. Dù vậy, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại dai dẳng ở nhiều bản làng xa xôi. Phụ nữ chịu gánh nặng lao động kép từ công việc đồng áng đến nội trợ gia đình. Quyền tham gia quyết định các vấn đề kinh tế lớn của họ vẫn còn bị hạn chế. Tình trạng bạo lực gia đình và hủ tục lạc hậu chưa được xóa bỏ hoàn toàn. Trình độ học vấn thấp cản trở khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật của chị em.

2.1. Đóng góp nổi bật của phụ nữ Tụm Lan trong kinh tế và đời sống

Phụ nữ huyện Tụm Lan ngày càng chứng minh vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế hộ. Họ chủ động áp dụng kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất lúa và cây hoa màu. Nhiều chị em phát triển nghề dệt thủ công truyền thống để tăng thêm thu nhập lúc nông nhàn. Bên cạnh kinh tế, phụ nữ đóng vai trò chính trong chăm sóc sức khỏe thành viên gia đình. Họ chủ động đưa con đi tiêm chủng và động viên con đến trường học chữ. Sự hy sinh thầm lặng của người mẹ, người vợ giúp ổn định trật tự gia đình bản làng. Đời sống văn hóa tinh thần các hộ gia đình nhờ đó ngày càng khởi sắc.

2.2. Những rào cản và thách thức đối với phụ nữ địa phương

Bên cạnh thành tựu, phụ nữ Tụm Lan đối mặt nhiều khó khăn xuất phát từ hủ tục địa phương. Tư tưởng trọng nam khinh nữ khiến tiếng nói của phụ nữ trong việc lớn bị xem nhẹ. Phân công lao động gia đình còn bất bình đẳng khi phụ nữ phải làm việc nhiều giờ mỗi ngày. Tỷ lệ phụ nữ mù chữ hoặc tái mù chữ ở vùng sâu vùng xa vẫn ở mức cao. Tình trạng tảo hôn và sinh nhiều con gây suy giảm sức khỏe của người mẹ. Nguồn vốn vay ưu đãi dành cho phụ nữ khởi nghiệp kinh tế gia đình còn rất eo hẹp. Thiết chế văn hóa thiếu thốn hạn chế việc nâng cao hiểu biết pháp luật của chị em.

III. Giải pháp nâng cao vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan tỉnh Salavan

Để phát huy hiệu quả vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan, hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai. Cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương phải tăng cường tuyên truyền bình đẳng giới sâu rộng. Các cơ quan chức năng cần lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm. Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện cần đổi mới phương thức hoạt động hướng về cơ sở bản làng. Việc tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt cho phụ nữ là cấp thiết. Nhà nước cần tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi phát triển sản xuất. Công tác xóa mù chữ và nâng cao dân trí cho phụ nữ dân tộc phải được ưu tiên hàng đầu. Địa phương cần xây dựng các mô hình phòng chống bạo lực gia đình và trợ giúp pháp lý. Nam giới cần được vận động chia sẻ công việc nhà để giảm tải áp lực cho người vợ. Đào tạo cán bộ nữ nguồn là yếu tố quyết định nâng cao vị thế phụ nữ trong hệ thống chính trị.

3.1. Đẩy mạnh giáo dục và đào tạo nghề cho phụ nữ dân tộc

Nâng cao trình độ văn hóa là chìa khóa mở rộng cơ hội phát triển cho phụ nữ Tụm Lan. Huyện cần mở thêm các lớp học xóa mù chữ linh hoạt theo mùa vụ nông nghiệp. Trung tâm dạy nghề cần đào tạo các nghề phù hợp như dệt thổ cẩm, may mặc và chế biến nông sản. Phụ nữ được trang bị kiến thức tài chính để quản lý chi tiêu và đầu tư sản xuất gia đình hiệu quả. Giáo dục kiến thức dinh dưỡng giúp chị em chăm sóc con cái phát triển toàn diện. Nhờ nâng cao nhận thức, phụ nữ tự tin hơn trong giao tiếp và chủ động tham gia sinh hoạt cộng đồng.

3.2. Củng cố hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ cơ sở

Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tụm Lan giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ quyền lợi hội viên. Hội cần đa dạng hóa hình thức sinh hoạt chi hội tại các bản vùng sâu vùng xa. Phong trào thi đua 'Ba tốt' cần được cụ thể hóa bằng tiêu chí thiết thực với đời sống. Hội phối hợp chặt chẽ với ngân hàng chính sách giúp chị em tiếp cận nguồn vốn lãi suất thấp. Việc biểu dương các điển hình phụ nữ làm kinh tế giỏi tạo động lực lan tỏa sâu rộng. Đội ngũ cán bộ Hội cơ sở cần được bồi dưỡng kỹ năng hòa giải và tư vấn hôn nhân gia đình.

IV. Ý nghĩa và định hướng phát huy vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan

Khóa luận phát huy vai trò phụ nữ huyện Tụm Lan tỉnh Salavan mang giá trị tham khảo thực tiễn cao. Đề tài chứng minh giải phóng phụ nữ là điều kiện tiên quyết để xây dựng gia đình hạnh phúc. Khi phụ nữ có tri thức và tự chủ kinh tế, chất lượng cuộc sống gia đình được nâng cao rõ rệt. Con cái được học hành đầy đủ, giảm thiểu nguy cơ mắc vào các tệ nạn xã hội. Công trình góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc thực thi chính sách bình đẳng giới tại Lào. Huyện Tụm Lan sẽ phát triển bền vững hơn khi nguồn nhân lực nữ được khai phóng toàn diện. Định hướng tương lai đòi hỏi sự chung tay của cả hệ thống chính trị và toàn thể xã hội. Gia đình văn hóa mới tại huyện Tụm Lan phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tiến bộ và yêu thương. Việc tôn vinh vai trò người phụ nữ chính là bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

4.1. Tác động của nghiên cứu đối với hoạch định chính sách địa phương

Kết quả nghiên cứu cung cấp số liệu thực tế về thực trạng bình đẳng giới tại huyện Tụm Lan. Lãnh đạo tỉnh Salavan có cơ sở vững chắc để phân bổ ngân sách hỗ trợ phụ nữ nghèo. Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và giáo dục có thể điều chỉnh sát thực tế địa bàn. Nghiên cứu khuyến nghị chính quyền ban hành cơ chế đặc thù cho phụ nữ vùng dân tộc thiểu số. Đây là tài liệu quý báu phục vụ công tác bồi dưỡng cán bộ làm công tác phụ nữ tại CHDCND Lào. Tính ứng dụng cao của đề tài góp phần thúc đẩy tiến trình xóa đói giảm nghèo bền vững.

4.2. Định hướng xây dựng mô hình gia đình văn hóa tiến bộ

Xây dựng gia đình văn hóa tại huyện Tụm Lan cần kết hợp giữa truyền thống và giá trị hiện đại. Mô hình gia đình ấm no, bình đẳng và tiến bộ cần được nhân rộng ra toàn huyện. Mọi thành viên trong gia đình có trách nhiệm tôn trọng và hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống. Nam giới gương mẫu bỏ các thói quen xấu như nghiện rượu và bạo hành gia đình. Phụ nữ phát huy vai trò trung tâm đoàn kết, giữ gìn thuần phong mỹ tục của đồng bào Lào. Gia đình bền vững chính là nền tảng vững chắc xây dựng huyện Tụm Lan ngày càng phồn vinh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn phát huy vai trò phụ nữ huyện tụm lan tỉnh salavan trong xây dựng gia đình thời kỳ đổi mới ở nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VÀ VỊ TRÍ CỦA GIA ĐÌNH 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của người phụ nữ và vị trí của gia đình 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về vai trò của người phụ nữ trong xây dựng gia đình và xã hội Trong sự phát triển của lịch sử, ở các chế độ khác nhau, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong gia đình, đảm trách những công việc nội trợ, đồng thời tham gia vào các hoạt động kinh tế như: chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán, làm thuê… để có nguồn thu nhập cho gia đình. Phụ nữ không những làm kinh tế mà còn là người mẹ, người vợ tham gia đắc lực vào giáo dục con cái, truyền đạt những giá trị văn hóa cho thế hệ mai sau.

Họ có công lao to lớn trong việc lưu giữ và tuyền bá văn hóa cho dân tộc. Trước khi có sự phân công giữa nam giới và nữ giới về kinh tế, trước khi có sự phân công lao động theo giới tính thì đã có sự phân công giữa nam giới và nữ giới về mặt sinh con đẻ cái, điều mà C.Ăngghen gọi là, “sự phân công lao động đầu tiên”, “sự phân công đầu tiên là sự phân công giữa đàn ông và đàn bà trong việc sinh đẻ con cái” [39, tr. Ở giai đoạn đầu của lịch sử, loài người sống trong chế độ thị tộc, mẫu quyền, phụ nữ có vai trò quyết định trong gia đình thị tộc. Sự xuất hiện và tồn tại của chế độ thị tộc mẫu quyền là tất yếu trong một giai đoạn phát triển nhất định bởi lúc đó, trình độ lực lượng sản xuất rất thấp kém, con người sống chủ yếu dựa vào của cải hái lượm (chiếm đoạt) của tự nhiên, của cải xã hội được tạo ra không nhiều và được đặt dưới sự cai quản của người phụ nữ, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc tái sản xuất, chăm sóc nguồn nhân lực mới của xã hội, họ là người tổ chức, quản lý gia đình, phân phối nguồn thức ăn cho các thành viên.

Con cái sinh ra chỉ biết có mẹ, thừa kế tài sản của mẹ, 11 cá nhân không tách rời tập thể, cuộc sống cộng đồng về nhiều mặt.Ăngghen viết: “Kinh tế gia đình cộng sản. là cơ sở hiện thực của quyền thống trị của người đàn bà, cái quyền thống trị phổ biến khắp mọi nơi trong thời nguyên thuỷ” [42, tr. Do vậy, cả hai phương diện đó - tái sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất ra con người - đều khẳng định uy quyền của người phụ nữ. Người phụ nữ được đề cao trong đời sống hiện thực, rồi từ đó trở thành biểu tượng thiêng liêng trong tôn giáo nguyên thuỷ.Ăngghen viết: “Chừng nào chế độ quần hôn còn tồn tại thì dòng dõi chỉ có thể xác định được về bên mẹ mà thôi, và vì vậy, chỉ có nữ hệ là được thừa nhận” [42, tr.

Sản xuất ngày càng phát triển, của cải tăng lên nhanh chóng và của cải ấy đều thuộc của riêng từng gia đình. Vai trò của người đàn ông ngày càng quan trọng bởi hầu hết tài sản của gia đình lúc này do họ làm ra như lương thực, gia súc, nô lệ… số tài sản càng lớn và có ý nghĩa quyết định trong gia đình. Khi đàn ông đã nắm được vị trí kinh tế trong gia đình, tất yếu họ sẽ lợi dụng địa vị ngày càng quan trọng của mình để đánh đổ chế độ huyết tộc theo mẹ bằng huyết tộc theo cha và xác lập quyền thừa kế tài sản theo cha.Ăngghen nhận xét: sự thay thế chế độ mẫu quyền bằng chế độ phụ quyền đã diễn ra hoàn toàn không có gì khó khăn mà thật nhẹ nhàng, bởi nó không hề thông qua một cuộc chiến tranh nào. Nói cách khác, sự thắng lợi của chế độ tư hữu cũng chính là sự thất bại chế độ mẫu quyền.Ăngghen cho rằng: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại lịch sử có tính chất toàn thế giới của phụ nữ.

Ngay cả trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần [42, tr. Sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến tình trạng áp bức, nô dịch của giai cấp có của và giai cấp không có của. Sự nô dịch ấy trùng với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà.Ăngghen chỉ ra sự áp bức giai cấp đầu tiên trùng 12 hợp với sự nô dịch của đàn ông đối với đàn bà. Từ đây, trong gia đình “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được tham gia vào nền sản xuất xã hội” trở thành “nô lệ” của đàn ông.

Thân phận “bị nô dịch” và bị áp chế của phụ nữ ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng về mức độ và tính chất bóc lột lao động làm thuê của chế độ tư hữu. Như vậy, người phụ nữ bị tha hóa cả trong gia đình và ngoài xã hội. Trong xã hội TBCN, sự phát triển của sản xuất công nghiệp TBCN đã tạo ra những điều kiện cho phụ nữ có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, các hoạt động sản xuất xã hội - song chỉ là đối với phụ nữ vô sản mà thôi. Khẳng định việc sử dụng lao động nữ trong sản xuất công nghiệp TBCN, C.Ăngghen viết: “Chúng tôi coi khuynh hướng của nền công nghiệp hiện đại thu hút trẻ em và thiếu niên nam nữ tham gia vào công việc sản xuất xã hội lớn lao là một khuynh hướng tiến bộ, lành mạnh và chính đáng, mặc dù, trong chế độ tư bản đó đã mang những hình thức quái gở” [41, tr.Ăngghen coi việc sử dụng lao động nữ trong nền sản xuất công nghiệp TBCN là một khuynh hướng tiến bộ bởi vì, một mặt, nó tạo ra cơ sở kinh tế mới cho sự phát triển của gia đình ở hình thức cao hơn; mặt khác, nó là tác nhân quan trọng làm thay đổi từng bước trong nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, từ đó dẫn đến những thay đổi trong quan hệ giữa nam và nữ, đồng thời là những yếu tố thúc đẩy tiến tới bình đẳng nam - nữ trên thực tế.

Như vậy, mặc dù phát triển kinh tế không hoàn toàn quyết định mức độ bình đẳng nam - nữ, song nó là cơ sở vật chất quan trọng, cần thiết để tiến tới thực hiện giải phóng phụ nữ và đạt được bình đẳng nam nữ trên thực tế. Vấn đề này được C.Mác khẳng định rằng: “…Trong khi đem lại cho phụ nữ, thiếu niên và trẻ em trai gái, một vai trò quyết định trong quá trình sản xuất xã hội có tổ chức ngoài phạm vi gia đình, đại công nghiệp cũng vẫn tạo ra một cơ sở kinh tế mới cho hình thức cao hơn của gia đình và của mối quan hệ giữa nam và nữ” [43, tr.Ăngghen cũng chỉ ra rằng, trong CNTB, việc sử dụng lao động nữ trong nền sản xuất xã hội dẫn đến sự mâu thuẫn và sự xung đột gay gắt với việc thực hiện chức năng gia đình và chức năng xã hội của người phụ nữ. Sự xung đội này không thể giải quyết triệt để trong CNTB, trái lại, nó càng làm trầm trọng thêm tình trạng “một cổ hai tròng” của người phụ nữ, bởi lẽ họ vừa bị nô dịch trong gia đình, vừa bị áp bức ngoài xã hội. Các ông chỉ rõ sự “quái gở” và vạch trần tính chất dã man, tàn bạo và vô cùng tinh vi của giới chủ tư sản khi sử dụng lao động nữ.

Về thực chất, giới chủ tư sản sử dụng lao động nữ trong các công xưởng hoàn toàn không phải vì mục đích giải phóng họ khỏi những công việc nặng nhọc trong gia đình, khỏi sự áp chế của đàn ông trong gia đình mà trước hết vì chính lợi ích, vì lợi nhuận của họ, đó là nhằm bóc lột lao động ngày càng nhiều hơn và tinh vi hơn. Bởi lẽ, lao động nữ thuộc loại lao động rẻ mạt, “dễ sai bảo” và ít chống đối, do đó là loại lao động “năng suất” hơn lao động nam. Bản chất của phụ nữ là thường xuyên chăm lo thu vén cho gia đình, sẵn sàng hy sinh vì chồng, vì con nên họ dễ dàng chấp nhận một khoản lương ít ỏi miễn là có việc làm, có thu nhập để duy trì cuộc sống và nuôi sống gia đình, con cái… Như vậy, CNTB phát triển đã tạo ra các tiền đề kinh tế - xã hội cho cuộc đấu tranh giải phóng các giai cấp bị áp bức bóc lột, giải phóng phụ nữ, nhưng bản thân chủ nghĩa tư bản khi xác lập vị trí của nó trên vũ đại lịch sử lại không giải phóng được con người nói chung, phụ nữ nói riêng khỏi sự áp bức trong gia đình và xã hội, thậm chí nó còn làm gia tăng sự áp bức bóc lột và làm tha hóa phụ nữ. Tác phẩm “Phụ nữ và chủ nghĩa xã hội” của A.Bebel (1840 - 1913) - nhà sáng lập Đảng dân chủ xã hội Đức - viết vào năm 1879 đã chỉ ra rằng, địa vị của người phụ nữ xét cho cùng phụ thuộc vào những quan hệ xã hội.

Sự xuất hiện chế độ tư hữu là cơ sở của sự hạ thấp phụ nữ và thậm chí “coi khinh” phụ nữ.Lênin đã kế thừa và phát triển học thuyết Mác trong giai đoạn lịch sử mới - giai đoạn CNTB chuyển từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc 14 và giai đoạn CNXH từ lý luận trở thành hiện thực. Lênin tố cáo rằng, dưới chế độ TBCN, phụ nữ tức là một nửa nhân loại bị hai tầng áp bức. Ngay cả ở những nước Cộng hòa tư sản dân chủ nhất vào đầu thế kỷ XX, phụ nữ vẫn trong tình cảnh “một cổ hai tròng” - vẫn bị mất bình đẳng, bị bóc lột và nô lệ cùng một lúc trong chính gia đình họ và ngoài xã hội, họ “không có quyền gì cả, vì pháp luật không cho họ có quyền bình đẳng với nam giới” [38, tr. Họ bị giam hãm trong chế độ gia đình, bị nghẹt thở dưới gánh nặng những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam lũ nhất, khổ cực nhất và làm cho mụ người nhất.

Cũng như trong giai đoạn của CNTB tự do cạnh tranh, ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, địa vị người phụ nữ cũng không có gì thay đổi, thậm chí còn tồi tệ hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ