Khóa luận: Đổi mới tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn, Lào hiện nay, đề xuất giải pháp thiết thực.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
72
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn tại Lào hiện nay

Hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn giữ vai trò nòng cốt trong việc thực thi đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Cấu trúc này bao gồm tổ chức Đảng bộ tỉnh, bộ máy chính quyền các cấp cùng Mặt trận Lào xây dựng đất nước và các đoàn thể quần chúng. Về mặt lý luận, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tại địa phương vận hành dựa trên cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Cơ chế này bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân lao động thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện. Tỉnh Viêng Chăn sở hữu vị trí địa lý chiến lược gần thủ đô, có nền kinh tế nông nghiệp kết hợp công nghiệp năng lượng đang trên đà tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đòi hỏi sự chuyển biến tương ứng về năng lực quản lý hành chính và sự đồng thuận xã hội. Đổi mới hệ thống chính trị tại Viêng Chăn là yêu cầu khách quan nhằm thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc củng cố bộ máy chính trị tạo tiền đề vững chắc để ổn định trật tự an ninh, nâng cao đời sống dân cư và thu hút đầu tư trong giai đoạn mới.

1.1. Cơ sở lý luận về hệ thống chính trị địa phương

Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định hệ thống chính trị là công cụ thực thi quyền lực của giai cấp cầm quyền. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa tại Lào, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp công nhân và đại diện cho lợi ích của quần chúng nhân dân. Nền tảng kinh tế của hệ thống dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Cơ chế vận hành bao gồm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, hiệu lực quản lý của cơ quan công quyền và quyền làm chủ của công dân. Mối quan hệ giữa các thành tố này tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Sự đồng bộ giữa tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể cơ sở bảo đảm mọi chủ trương đều hướng tới mục tiêu phục vụ lợi ích nhân dân.

1.2. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Viêng Chăn

Tỉnh Viêng Chăn có vị trí địa lý tiếp giáp thủ đô Viêng Chăn, sở hữu tiềm năng lớn về nông nghiệp và thủy điện. Trong các năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh duy trì ở mức cao trên tám phần trăm mỗi năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng đều đặn qua các thời kỳ. Cơ cấu kinh tế địa phương đang chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ thương mại. Tỉnh cũng đẩy mạnh giao đất giao rừng cho người dân kết hợp bảo vệ môi trường sinh thái. Mở rộng hợp tác quốc tế với các tỉnh của Việt Nam và Trung Quốc đem lại nguồn vốn đầu tư dồi dào. Điều kiện kinh tế phát triển nhanh chóng đặt ra thách thức lớn đối với công tác tổ chức và quản lý hành chính.

II. Thực trạng hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn và các hạn chế

Hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn đã đạt nhiều thành tựu trong việc giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế địa phương. Tuy nhiên, thực trạng tổ chức và hoạt động hiện nay vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng cần tháo gỡ. Bộ máy hành chính các cấp còn cồng kềnh, qua nhiều tầng nấc trung gian làm chậm tiến độ xử lý công việc. Sự phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan Đảng, chính quyền và đoàn thể đôi khi còn chồng chéo, thiếu tính nhất quán. Một bộ phận cán bộ cấp cơ sở còn thiếu kiến thức lý luận chính trị và kỹ năng quản lý thực tiễn. Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng chưa đạt hiệu quả cao, dẫn tới tình trạng người dân chưa hiểu đúng các chủ trương pháp luật. Đáng chú ý, các tập tục lạc hậu và sự ràng buộc bởi lệ làng bản tại nhiều vùng sâu vùng xa vẫn lấn át quy định pháp lý chung. Tình trạng này làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước và hạn chế quyền làm chủ thực tế của người dân. Sự thiếu hụt nguồn lực tài chính cũng ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng hoạt động của đội ngũ cơ sở.

2.1. Hạn chế về năng lực cán bộ và cơ cấu tổ chức

Đội ngũ cán bộ cơ sở tại tỉnh Viêng Chăn chưa được đào tạo chuẩn hóa về chuyên môn và nghiệp vụ quản lý. Nhiều cán bộ bản làng chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của hệ thống chính trị trong điều hành xã hội. Tác phong làm việc thiếu tính chuyên nghiệp dẫn đến sự thụ động khi giải quyết tranh chấp đất đai và thủ tục hành chính. Cơ cấu tổ chức bộ máy ở nhiều cấp còn cồng kềnh, phân định trách nhiệm không rành mạch giữa các phòng ban. Bên cạnh đó, hiện tượng quan liêu, xa rời quần chúng ở một bộ phận nhỏ cán bộ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền.

2.2. Khó khăn từ chế độ đãi ngộ và phong tục tập quán

Chế độ đãi ngộ và tiền lương cho cán bộ cấp bản làng tại tỉnh Viêng Chăn chưa thỏa đáng. Việc thiếu hụt phụ cấp thường xuyên làm giảm nhiệt huyết cống hiến và trách nhiệm công vụ của lực lượng nòng cốt. Họ gặp nhiều khó khăn khi vừa phải lo kinh tế gia đình vừa gánh vác công việc chung của thôn bản. Thêm vào đó, tâm lý dòng tộc và các luật tục truyền thống ăn sâu vào đời sống người dân vùng cao. Khi mâu thuẫn nảy sinh, người dân thường giải quyết theo lệ làng thay vì tuân theo pháp luật nhà nước. Yếu tố này cản trở việc thực thi quy chế dân chủ và làm giảm hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương.

III. Giải pháp đổi mới hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn hiện nay

Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Trước hết, cấp ủy địa phương cần quán triệt sâu sắc các quan điểm đổi mới của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Việc tinh giản biên chế và sắp xếp lại bộ máy hành chính cần thực hiện theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả. Mỗi cơ quan phải xác định rõ thẩm quyền, tránh chồng chéo chức năng giữa cơ quan Đảng và chính quyền. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ thôn bản phải trở thành nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Tỉnh cần xây dựng chính sách tiền lương và phụ cấp hợp lý để tạo động lực cống hiến cho cán bộ cơ sở. Song song với đó, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể cần đổi mới phương thức vận động quần chúng theo hướng bám sát đời sống thực tế. Việc kết hợp hài hòa giữa phong tục tiến bộ và pháp luật nhà nước giúp củng cố khối đại đoàn kết các bộ tộc Lào tại địa phương.

3.1. Kiện toàn tổ chức bộ máy và chuẩn hóa cán bộ

Chính quyền tỉnh Viêng Chăn cần rà soát chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban để cắt giảm các tầng nấc trung gian không cần thiết. Quy trình làm việc hành chính phải công khai, minh bạch nhằm rút ngắn thời gian giải quyết yêu cầu của người dân. Tỉnh cần tổ chức các lớp tập huấn định kỳ về kỹ năng quản lý nhà nước và nghiệp vụ dân vận cho trưởng bản. Tiêu chuẩn hóa cán bộ phải gắn liền với đánh giá hiệu quả công việc thực tế. Đồng thời, địa phương cần thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm ngăn chặn tệ nạn tham nhũng, cửa quyền và quan liêu trong bộ máy công quyền các cấp.

3.2. Đổi mới phương thức lãnh đạo và chính sách đãi ngộ

Đảng bộ tỉnh cần đổi mới phương thức lãnh đạo đối với chính quyền và các tổ chức đoàn thể thông qua nghị quyết rõ ràng, thiết thực. Việc phân cấp quản lý cho cấp huyện và cấp bản phải đi kèm với nguồn ngân sách tương ứng. Tỉnh cần ban hành chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí và phụ cấp trách nhiệm thỏa đáng cho cán bộ bản làng. Nguồn tài chính ổn định giúp cán bộ yên tâm công tác và tận tụy phục vụ nhân dân. Ngoài ra, công tác dân vận cần áp dụng các hình thức tuyên truyền linh hoạt, phù hợp với tiếng nói và phong tục của từng bộ tộc thiểu số trên địa bàn.

IV. Ý nghĩa thực tiễn của việc đổi mới hệ thống chính trị Viêng Chăn

Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Viêng Chăn mang ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của địa phương. Việc kiện toàn bộ máy giúp nâng cao năng lực hoạch định chính sách, củng cố quốc phòng an ninh và giữ vững ổn định chính trị xã hội. Một hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các chương trình phát triển nông nghiệp, du lịch sinh thái và công nghiệp thủy điện. Bên cạnh giá trị thực tiễn, đề tài nghiên cứu này còn đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác lý luận của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Kết quả nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách tại các địa phương có đặc thù tương tự. Hơn nữa, việc hoàn thiện mô hình quản trị cơ sở còn tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế. Đây chính là động lực then chốt đưa Viêng Chăn trở thành tỉnh phát triển kiểu mẫu của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

4.1. Đóng góp vào công tác quản trị và phát triển kinh tế

Mô hình hệ thống chính trị tinh gọn giúp nâng cao năng lực điều hành kinh tế tại tỉnh Viêng Chăn. Các chính sách giao đất giao rừng, phát triển chăn nuôi và khuyến khích sản xuất lúa gạo được triển khai nhanh chóng, hiệu quả. Việc giải ngân vốn ngân sách và vốn đầu tư nước ngoài đạt tỷ lệ tối đa nhờ thủ tục hành chính thông suốt. Đồng thời, mối quan hệ hợp tác đối ngoại với các địa phương của Việt Nam và Trung Quốc ngày càng đi vào chiều sâu. Bộ máy cơ sở vững mạnh tạo môi trường thuận lợi để người dân yên tâm phát triển kinh tế hộ gia đình.

4.2. Khả năng ứng dụng cho các địa phương khác tại Lào

Kinh nghiệm đổi mới tổ chức và hoạt động chính trị tại Viêng Chăn mang lại bài học quý giá cho toàn bộ các tỉnh thành của Lào. Phương pháp kết hợp giữa cải cách hành chính và đào tạo cán bộ thôn bản có thể áp dụng rộng rãi. Các địa phương vùng sâu vùng xa có thể tham khảo cách thức hóa giải mâu thuẫn giữa luật tục làng bản và pháp luật nhà nước. Việc xây dựng chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho cán bộ cơ sở cũng là mô hình điểm cần được nhân rộng. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để hoàn thiện thể chế chính trị quốc gia.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỈNH VIÊNG CHĂN, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY – MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống chính trị 1. Khái niệm về hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là khái niệm của khoa học chính trị đương đại - là một trong những khái niệm phản ánh đặc trưng của những quan hệ quyền lực chính trị; cũng như các bộ phận, các nhân tố tham gia vào các quá trình, quy trình chính trị trong thể chế chính trị dân chủ hiện đại (dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản chủ nghĩa). Liên quan đến vấn đề này có nhiều quan niệm khác nhau: - Hệ thống chính trị là tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hội đó.

Hệ thống này bao gồm Nhà nước, các Chính đảng, các Nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị khác - trong đó Nhà nước là yếu tố cơ bản, trung tâm. - Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. - Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó được chế định theo tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó… - Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. Hệ thống chính trị là một cơ cấu, tổ chức bao gồm đảng phái chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành (hệ thống pháp luật đó 10 được chế định theo tư tưởng và lợi ích giai cấp cầm quyền) nhằm duy trì, bảo vệ, và phát triển xã hội đó.

- Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong xã hội bao gồm nhà nước, các đảng chính trị, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau nhằm tác động vào mọi mặt của đời sống xã hội để củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể cầm quyền. Trên quan điểm hệ thống cấu trúc như trên có thể xem Hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể bao gồm các tổ chức như đảng chính trị, nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); với những quan hệ tác động qua lại giữa các nhân tố đó trong việc tham gia vào các quá trình hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị nhằm bảo đảm quyền thống trị của giai cấp, lực lượng cầm quyền, đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội. Cấu trúc của hệ thống chính trị HTCT được cấu thành từ nhiều bộ phận chức năng khác nhau. Có thể coi mỗi bộ phận đó là một tiểu hệ thống của HTCT.

Như vậy, cấu trúc của HTCT gồm các bộ phận sau: - Đảng chính trị, -Nhà nước, -Các tổ chức chính trị - xã hội (hợp pháp); Các thành tố trong Hệ thống tổ chức quyền lực chính trị nói chung và Hệ thống chính trị nói riêng là khái niệm dùng để chỉ một chỉnh thể (hệ thống) các thiết chế mang tính hiến định (Đảng chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội…) và không hiến định (phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ bầu cử, thể chế tôn giáo…); cùng với những quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào các quá trình hình thành các quyết sách nhà nước, thực thi quyền lực 11 chính trị bảo đảm quyền thống trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời đáp ứng nhu cầu ổn định và phát triển xã hội. Ở đây chỉ để cập đến 3 nhân tố cơ bản là: Đảng Chính tri, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội (đoàn thể nhân dân, nhóm lợi ích chính trị), mà không trình bày các nhân tố Truyền thông đại chúng , Công nghệ bầu cử, Thể chế tôn giáo. Chức năng của hệ thống chính trị Hệ thống chính trị chính là cơ chế thực thi quyền lực thống trị của giai cấp cầm quyền; là hệ thống các tổ chức mà thông qua đó giai cấp thống trị thực hiện quyền lực chính trị trong xã hội. - Hệ thống chính trị cũng là cơ chế giúp người dân thực hiện quyền dân chủ của mình.

Xét theo khía cạnh này, hệ thống chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa về bản chất là thống nhất.Trong hệ thống chính trị ở nước ta: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước. Nguyên tắc và cơ chế vận hành hệ thống chính trị Mỗi HTCT có những nguyên tắc và cơ chế vận hành riêng. Dựa trên những nguyên tắc này mà các quan hệ, hành vi chính trị được định hướng và tạo thành một bộ phận hữu cơ của hệ thống. Cũng cần nói thêm rằng giữa "nguyên tắc" và "cơ chế" không có những bức trường thành ngăn cách.

Nói cách khác giới hạn giữa các khái niệm đó chỉ là tương đối. Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới phổ biến một số nguyên tắc sau: Thứ nhất, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Từ nguyên tắc này, phát sinh một loạt các nguyên tắc sinh hoạt và ứng xử chính trị khác liên quan đến việc đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thứ hai, ủy quyền có điều kiện và có thời hạn.

Nguyên tắc này xác định ai là người có thể được ủy quyền và ủy quyền trong bao lâu. Để đảm bảo nguyên tắc này phải xây dựng thể chế bầu cử bao gồm lựa chọn các ứng viên, thể thức bầu cử và thủ tục truất quyền khi cần thiết. Do trong xã hội có các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm và từng con người khác nhau với những định hướng giá trị chính trị khác nhau nên ý kiến về các vấn đề đều có thể khác nhau. Vì vậy để đảm bảo điều hòa những khác biệt đó phải có nguyên tắc đồng thuận xã hội.

Thứ ba, nguyên tắc dân chủ. Nguyên tắc này thực chất là tạo các điều kiện kinh tế - xã hội và pháp lý để dân tham gia ngày càng nhiều và thực chất vào công việc nhà nước, tự quyết định vận mệnh của mình thông qua nhà nước, bằng nhà nước. Những biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này là: (1) Công khai các hoạt động của nhà nước. (2) Tạo điều kiện để dân tiếp cận thông tin.

13 (4) Bầu cử tự do để nhân dân lựa chọn các đại biểu và thể hiện ý chí, phải hỏi dân khi quyết định những vấn đề quan trọng. (5) Thiểu số phục tùng quyết định của đa số, đa số tôn trọng và bảo vệ thiểu số. Thứ tư, nguyên tắc thống nhất - phân quyền. Đây là hai mặt của một vấn đề trong đời sống chính trị.

Không có thống nhất và tập trung quyền lực đủ mức thì sẽ không có quyền lực chính trị hoặc quyền lực nhà nước và sẽ không có quyền để phân chia (hoặc phân công); không có thống nhất thì không còn quyền lực nhà nước (tức là chỉ còn quyền lực tập đoàn hoặc quyền lực cát cứ). Sự thống nhất quyền lực nhà nước thể hiện: (1) Xã hội công dân thống nhất, trên đó xây dựng nhà nước; (2) Lãnh thổ quốc gia dân tộc thống nhất; (3) Ý chí nhân dân được tổng hợp lại thành những văn bản (khế ước) có tính pháp lý hợp pháp (hiến pháp và pháp luật.) từ đây xây dựng những thể chế quyền lực thống nhất (cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan hành chính cao nhất, cơ quan xét xử cao nhất. Tuy nhiên, những nguyên tắc này dù có tính hiến định hoặc pháp định nhưng về thực chất chúng được áp dụng trong thực tiễn là rất khác nhau. Ở nhiều nước, những nguyên tắc này vẫn là những mục tiêu cần vươn tới.

(4) Thống nhất bởi đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền chi phối hệ thống chính trị bằng các phương thức chính trị như ảnh hưởng cương lĩnh, đường lối, nêu gương, tổ chức, vận động giáo dục. Trên cơ sở những thống nhất trên đây, mà biểu hiện ra là tính đồng thuận, tính thỏa hiệp xã hội, sẽ thực hiện sự phân quyền. Sự phân quyền mà sắc thái và các cấp độ của nó được các tác giả mô tả và nhấn mạnh rất khác nhau như "phân chia" "phân công" "phân quyền" "phân cấp" "tản quyền" v.

đều muốn nói 14 đến giao cho các chủ thể khác nhau theo chiều ngang (Trung ương - Trung ương) hay theo chiều dọc (Trung ương - địa phương) những nhiệm vụ có tính chức năng của nhà nước (chức năng chính trị hoặc xã hội). Vì vậy phân quyền là một biểu hiện tất yếu của quá trình thực thi quyền lực nhà nước trong tính phức tạp, đa dạng, trong trạng thái vận động của nó. Không có sự phân quyền, trong điều kiện xã hội hiện đại, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước sẽ không được thực thi. Về cơ chế vận hành của HTCT, có 3 cơ chế cơ bản sau: (1) Cơ chế mệnh lệnh cưỡng bức.

(2) Cơ chế thể chế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ