mở đầu thời kì Bắc thuộc kéo dài 1117 năm mà lịch sử gọi là 1000 năm Bắc thuộc ( từ 179 TCN đến 938). Từ năm 179TCN, dưới sự thống trị của các triều đại phương Bắc: Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường tên địa danh hành chính của cả nước và các bộ có những thay đổi và tên gọi khác nhau. Theo sách Đại Nam nhất thống chí: “Bộ Tân Hưng thời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc Nam Trung, đời Ngô là đất huyện Tây Đạo của Lâm Tây, thuộc quận Tân Hưng. Đời Đường là huyện Tân Xương lệ vào Châu Phong” [21, tr.
Trong chính sách cai trị đối với nước ta lúc bấy giờ, một số bộ lạc ở miền núi phía bắc và tây bắc nước ta, nhà Đường vẫn để cho các tù trưởng cũ giữ bộ lạc của họ, châu Quy Hóa là một trong 40 châu “ky my” (ràng buộc lỏng lẻo). Sau khi họ Khúc khôi phục nền tự chủ, trải qua các đời Ngô, Đinh, Tiền Lê, các địa danh hành chính của nước ta hầu như không thay đổi. Nhà Lý lên thay nhà Tiền Lê đã kế thừa những thành tựu của các triều đại trước, đồng thời bắt tay ngay vào việc củng cố, xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền định đô ở Thăng Long, năm 1054 đổi tên nước là Đại Việt, chia nước làm 12 lộ. Tỉnh Hưng Hóa đời Lý là đất đạo Lâm Tây và Châu Đằng.
Đời Trần đặt làm đạo Đà Giang, lại đặt làm trấn. Cuối đời Trần lại đổi làm Trấn Thiên Hưng. Thời thuộc Minh, đặt 2 châu Quy Hóa và Gia Hưng. “Đến thời Lê Thuận Thiên đặt hai lộ Gia Hưng và Quy Hóa thuộc tây đạo.
Bản đồ đời Hồng Đức, đổi 2 lộ làm phủ. Năm Thuận Thiên thứ 5 đặt Hưng Hóa thừa tuyên, cũng gọi là xứ Hưng Hóa lãnh 3 phủ, 4 huyện, và 17 châu. Trong đó phủ Quy Hóa lĩnh 3 huyện: Trấn Yên, Yên Lập, Văn Chấn và hai châu Văn Bàn, Thủy Vĩ” [21, tr. Theo đó, huyện Yên Lập xưa là đất Đăng Châu đời Lý.
Tên huyện Yên Lập đã có từ thời Trần, thuộc châu Quy Hóa, trấn Hưng Hóa lúc đầu có 23 sách, sau hợp lại còn 21 sách. Thời nhà Nguyễn, địa giới hành chính các cấp có một số thay đổi. Đời vua Gia Long (còn gọi 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là sách và chưa có tổng), huyện Yên Lập có 20 sách, thôn: Huyện An Lập thuộc phủ Quy Hóa, trấn Hưng Hóa có 20 sách, thôn, sách Đông Lỗ (có 2 thôn Văn Lũng và Hương Lan), sách Thu Ngạc, Hạ Lung, Sa Lung, Thượng Long, Mộ Lan, Quế Sơn, Quắc Thước, Vân Hoàng, An Sào, Bạn Lữ, Vân Bán, Nga My, Phượng Vỹ, Phục Cổ, An Dưỡng, Đoài Lỗ, Sơn Lương, Khổng Tước, Đồ Thủy. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), trấn Hưng Hóa đổi thành tỉnh Hưng Hóa, năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), đổi sách thành xã (làng) và đặt tên tổng: huyện Yên Lập có 23 xã [3, tr.
11] Sau khi đánh chiếm nước ta, thực dân Pháp lập ra các tỉnh mới trên cơ sở chia cắt các tỉnh cũ thời phong kiến. Năm 1903 chính quyền thực dân điều chỉnh địa giới tỉnh Hưng Hóa, chuyển tỉnh lỵ từ làng Trúc Phê (huyện Tam Nông) lên làng Phú Thọ và sau đổi thành tỉnh Phú Thọ; còn các huyện miền núi trong tỉnh gọi là châu. Châu Yên Lập trong thời kì Pháp thuộc có thay đổi vì có thêm, bớt một số làng. Thời điểm năm 1903, châu Yên Lập có 3 tổng, 13 làng; năm 1931 có 1 phố, 3 tổng, 15 làng; năm 1939 có 16 làng.
Như vậy cho đến thời điểm này, châu Yên Lập giữ nguyên con số 1 phố, 3 tổng, 16 xã, đó là tổng Đông Lỗ có 6 xã gồm Đoài Lỗ, Đông Phú, Phục Cổ, Đồng Lạc, Đông Lỗ, Ngọc Lập; tổng Sơn Lương có 5 xã gồm Nga Mỹ, Sa Lung, Sơn Lương, Quế Sơn, Yên Sào; tổng Thượng Long có 5 xã gồm Đồ Thủy, Hạ Long, Mộ Xuân, Thượng Khê, Thượng Long và phố Tân An (cụ thể xem phụ lục). Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, huyện Yên Lập tiếp tục có một số thay đổi về đơn vị hành chính. Sau khi đất nước được độc lập, nhà nước Việt nam quyết định xóa bỏ một số cấp trung gian như phủ, châu, tổng gọi chung là huyện, hợp nhất các làng nhỏ thành xã lớn. Thực hiện chủ trương của chính phủ, châu Yên Lập đổi thành huyện Yên Lập; từ 16 xã cũ nhập thành 8 xã mới gồm xã Mỹ Lung, xã Minh Hòa, xã Ngọc Lập, xã Lương Sơn, xã Xuân Thủy, xã Thượng Long, xã Đồng Thịnh và xã Phúc Khánh.
Từ cuối năm 1953 đến đầu năm 1964, 8 xã của Yên Lập lại được chia thành 17 xã mới, trong đó xã Mỹ Lung chia thành 2 xã là Minh Hòa và Đồng Thịnh; xã Xuân Thủy chia thành 3 xã là xã Xuân An, xã Xuân Viên và xã Xuân Thủy. Riêng xã Thượng Long chia thành 4 xã đó là: xã Thượng Long, xã Tân Long, xã Hưng Long 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và xã Trung Sơn; xã Đại La chia thành hai xã gồm xã Địch Quả (huyện Thanh Sơn) và xã Ngọc Đồng. Đến cuối năm 1964 xã Đồng Minh đổi tên thành xã Đồng Lạc. Về cấp huyện, ngày 05/7/1977, Hội đồng chính phủ ban hành quyết định số 178/CP về việc sáp nhập một số huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú, trong đó huyện Cẩm Khê hợp nhất với huyện Yên Lập và 10 xã của huyện Hạ Hòa thành lập huyện mới có tên là huyện Sông Thao.
Sau đó không lâu, ngày 22/12/1980 , Hội đồng Chính phủ ra tiếp Nghị quyết số 377/CP sửa đổi một số đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Vĩnh Phú, trong đó chia huyện Sông Thao thành hai huyện như cũ là huyện Sông Thao và huyện Yên Lập. Năm 1997 tỉnh Phú thọ được tái lập, huyện Yên Lập chính thức là một huyện trực thuộc tỉnh Phú Thọ cho đến nay. Ngày 28/5/1997, Chính phủ ra Nghị định số 55/CP về việc thành lập thị trấn Yên Lập. Phạm vi thị trấn bao gồm toàn bộ đất đai xã Tân Long.
Từ tháng 5 năm 1997, đơn vị hành chính huyện Yên Lập gồm 16 xã và 1 thị trấn Yên Lập. Huyện lỵ: thị trấn Yên Lập, các xã: xã Mỹ Lung, xã Mỹ Lương, xã Lương Sơn, Xã Xuân An, xã Xuân Viên, xã Xuân Thủy, xã Trung Sơn, xã Hưng Long, xã Nga Hoàng, xã Đồng Lạc, xã Thượng Long, xã Đồng Thịnh, xã Phúc Khánh, xã Minh Hòa, xã Ngọc Lập và xã Ngọc Đồng. Các thành phần dân tộc Cũng như các huyện khác của tỉnh Phú Thọ, Yên Lập là vùng đất sớm có người Việt cổ đến sinh sống. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở một số địa phương trong huyện nhiều hiện vật bằng đồng, trong đó có trống đồng Tân Long, Đồng Thịnh, Ngọc Lập (loại II Hergơ) là những hiện vật thuộc thời đại hùng Vương.
Trên trống đồng có khắc hình người đánh trống, đánh chiêng, gõ mõ, nhảy múa và một số hình ảnh khác phản ánh cảnh sinh hoạt văn hóa của con người thời đó. Trải qua hàng vạn năm, bằng bàn tay lao động và khối óc thông minh sáng tạo của mình, những cư dân sống ở Yên Lập ra sức khai phá đồi nương, dũng cảm chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, giặc ngoại xâm để duy trì cuộc sống bảo vệ và xây dựng làng bản đông vui như ngày nay. Chứng tỏ Yên Lập nằm trong địa bàn sinh tồn và phát triển liên tục của người Việt cổ trên đất nước ta. Buổi đầu thưa thớt rồi sinh sôi nảy nở ngày một đông thêm.
Về sau lại tiếp nhận thêm các dòng người từ bốn phương tụ lại cứ như thế đến đầu thế kỷ XIX trên dải đất Yên Lập đã có nhiều tộc người cùng sinh sống. Sự phân 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bố dân cư, dân tộc mang yếu tố xen kẽ, cao thấp khác nhau. Sách Đồng Khánh địa dư chí có ghi: “trong huyện dân số người Kinh, người Thổ xấp xỉ nhau. Phong tục người Kinh giống như các huyện khác.
Người Thổ thì quê mùa, chất phác, chỉ biết làm nghề nông”. Theo số liệu thống kê dân số, huyện Yên Lập tính đến 31/10/2013 có 88.271 nhân khẩu, được phân bố theo các dân tộc như trong bảng sau: Bảng 1. Thành phần các dân tộc huyện Yên Lập STT Dân tộc Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Ghi chú 1 Mường 59.990 4,53% 4 Mông 186 0,21% 5 Tày 160 0,18% 6 Các dân tộc khác 207 0,23% Tổng số 88.271 100% Nguồn: Phòng Dân tộc huyện Yên Lập, tính đến 31/10/2013. Bảng thống kê trên cho thấy, tại Yên Lập có nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó tập trung nhiều nhất là dân tộc Mường, Kinh thuộc nhóm ngữ hệ Việt - Mường, Dao thuộc nhóm ngữ hệ Hoa-Hán.
Các dân tộc ở đây cư trú thành nhóm khá rõ rệt. - Dân tộc Mường: Cư trú ở những thung lũng thấp, tương đối bằng phẳng. Hiện nay Mường là tộc danh chính thức, được nhà nước công nhận và sử dụng trong các văn bản pháp quy. Nhưng trong đời sống và trong văn học dân gian, người Mường tự gọi mình là Mol, Mual, Mul hoặc Mon…tùy cách gọi từng địa phương.
Mol, Mual, Mul, Mon đều có nghĩa là người. Các nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng người Việt và người Mường có gốc “ Việt - Mường” chung trước khi trở thành người “Việt” và người “Mường” sau thời kì Bắc thuộc. Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á), rất gần với tiếng việt. Theo sách Địa chí Vĩnh Phú Văn hóa dân gian vùng Đất Tổ viết như sau: “Người Mường và người Việt vốn có những quan hệ rất gần gũi nhau về văn hóa, tiếng nói và đều là con cháu người Lạc Việt.
Người Lạc Việt có bộ phận sống ở đồng bằng, có bộ phận sống ở miền núi. Bộ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phận người Lạc Việt ở đồng bằng đông hơn, có những điều kiện phát triển kinh tế văn hóa thuận lợi hơn, nên đã hình thành dân tộc Việt hiện đại, phân hóa với bộ phận người Lạc Việt sống ở miền núi, tức là người Mường hiện nay”. Yên Lập là địa bàn sinh tụ của 16 dân tộc với tổng dân số là 88.271 người được phân bố ở 223 khu dân cư của 17 xã, thị trấn trong huyện; trong đó dân tộc Mường là 59.821 người, chiếm 67,77%, còn lại là người Kinh, người Dao và các dân tộc khác. Có những xã chiếm hơn 90% dân số là người Mường như xã Ngọc Lập, xã Minh Hòa.
Vậy người Mường có mặt ở Phú Thọ từ bao giờ? Có ý kiến cho rằng từ đời Trần (thế kỷ XIII) người Mường mới di cư đến Phú Thọ làm ăn sinh sống.