CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt đối với nước ta với hơn 75% dân số ở khu vực nông thôn và chiếm 67,3% lực lượng lao động xã hội. Tỷ trọng sản lượng nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao đóng góp khoảng 24,5% trong GDP. Khoảng cách thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn là rất lớn (hơn 3,7 lần).
Công cuộc Đổi mới của nước ta đã tạo bước chuyển lớn trong nông nghiệp làm cho nông nghiệp phát triển nhanh, từ chổ thiếu lương thực thực phẩm vào những năm 80 thì đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu lương thựcxếp thứ hạng cao trên thế giới. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, với những vấn đề nổi lên như sản lượng nông nghiệp nhìn chung có tăng nhưng lợi tức cho người làm nông nghiệp thì bấp bênh, cung - cầu mất cân đối với điệp khúc “được mùa rớt giá”, chất lượng sản phẩm kém, không đồng đều, tính cạnh tranh không cao, môi trường thiên nhiên bị khai thác quá mức,. Đề tài với cách tiếp cận từ những cơ sở lý thuyết, các mô hình nghiên cứu của các nhà kinh tế gắn với thực tiễn phát triển ở Việt Nam, đồng thời kết hợp với kết quả khảo sát, thu thập điều tra khu vực nghiên cứu để củng cố về mặt lý luận và đề xuất chính sách. Các lý thuyết liên quan trong quá trình phân tích của đề tài 1.
Lý thuyết lợi thế theo qui mô Theo lý thuyết hiệu suất theo quy mô, Robert S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld, việc đo lường sản lượng gia tăng tương ứng với sự gia tăng của tất cả các yếu tố đầu vào là vấn đề cốt lõi để tìm ra bản chất của quá trình sản xuất trong dài hạn. Hiệu suất tăng dần theo quy mô khi sản lượng tăng hơn hai lần trong khi các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi. Điều này xảy ra khi quy mô sản xuất lớn hơn, cho phép công nhân và nhà quản lý chuyên môn hoá các nhiệm vụ của họ và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất như đất đai, máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận chuyển,. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Sự tồn tại của các xí nghiệp có hiệu suất tăng dần theo quy mô sẽ có lợi thế kinh tế hơn là để nhiều cơ sở sản xuất nhỏ tồn tại, bởi lẽ chi phí cho từng hộ cá thể cho việc tổ chức sản xuất cùng một loại nông sản sẽ cao hơn thay vì với quy mô lớn hơn, tạo điều kiện ứng dụng cơ giới hoá, tổ chức sản xuất đồng loạt, tiết kiệm chi phí hơn.
Điều này thể hiện rất rõ trong thực tế, với quy mô diện tích đất đai lớn hơn, hộ nông dân dễ dàng áp dụng cơ giới hoá, thủy lợi hoá cũng như việc tổ chức sản xuất hàng hoá có lợi thế hơn rất nhiều với các hộ nông dân có diện tích đất đai nhỏ lẻ, manh mún. Chẳng hạn, chỉ cần 1 ca máy thì có thể cày xong 10 hecta đất nhưng nếu hộ nông dân chỉ có 2 hecta thì vẫn phải thuê 1 ca máy để cày đất,. Tại những mức sản lượng tương đối thấp, hàm sản xuất thường thể hiện hiệu suất tăng dần theo quy mô. Khi phương án kết hợp đầu vào là 5 giờ lao động kèm với 1 giờ vận hành máy, sản lượng là 10 đơn vị; khi cả hai đầu vào tăng gấp đôi thì sản lượng tăng lên gấp ba lần;.
Tuy nhiên không phải ngành nghề nào hoặc hãng nào đều có hiệu suất tăng dần theo quy mô. Đối với các xí nghiệp có năng suất trung bình và năng suất biên của các yếu tố đầu vào không thay đổi theo quy mô sản xuất thì hiệu suất không đổi theo quy mô. Hoặc đối với các xí nghiệp có quy mô sản xuất lớn, với các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi nhưng sản lượng có thể chưa tăng tới hai lần, khi đó hiệu suất giảm dần theo quy mô. Trường hợp này xảy ra khi có những khó khăn về quản lý xuất phát từ tính chất phức tạp của quá trình tổ chức và tiến hành sản xuất lớn.
Trong giai đoạn phát triển của nông nghiệp Việt Nam hiện nay, quá trình tích tụ tập trung đất đến một quy mô nhất định là cần thiết nhằm tận dụng lợi thế theo quy mô. Tuy nhiên với tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay cùng với quá trình công nghiệp hoá đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, với nguồn lực đất đai hữu hạn thì việc gia tăng các yếu tố đầu vào (đặc biệt là đất đai) được hiểu là nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồn lực này. Lý thuyết mô hình kinh tế hai khu vực: Mô hình được giải thích bởi Lewis, các nhà kinh tế học thuộc trường phái Tân Cổ Điển và Oshima. Theo các nhà kinh tế này thì nguồn gốc của tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- trưởng kinh tế chính là khả năng thu hút lao động nông nghiệp của khu vực công nghiệp.
Mô hình Lewis (1955): Theo Lewis, do đất đai trong nông nghiệp ngày càng khan hiếm trong khi lao động ngày càng tăng. Hệ quả là có tình trạng dư thừa lao động trong khu vực nông nghiệp. Lao động có thể giảm đi nhưng không ảnh hưởng đến tổng sản phẩm nông nghiệp. Trong khi mức tiền lương của khu vực công nghiệp cao hơn mức tiền lương của khu vực nông nghiệp.
Vì tiền lương trong ngắn hạn không đổi, tổng sản phẩm tăng làm cho lợi nhuận nhà sản xuất công nghiệp tăng, từ đó giúp gia tăng tích lũy và thúc đẩy tái sản xuất mở rộng. Nhưng nếu khu vực công nghiệp tiếp tục thu hút lao động từ khu vực nông nghiệp đến một lúc nào đó thì tiền lương sẽ tăng. Lợi nhuận của khu vực công nghiệp sẽ giảm. Để mở rộng tổng sản phẩm nhà sản xuất công nghiệp sẽ lựa chọn yếu tố khác thay thế lao động (công nghiệp thâm dụng vốn),.
Mô hình Lewis cho thấy tăng trưởng của nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở tăng trưởng của công nghiệp thông qua tích lũy vốn từ thu hút lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp. Do đó, trong nông nghiệp cần phát triển theo hướng nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, Kinh tế trang trại là hình thức đáp ứng được yêu cầu này. Mô hình Harry T. Oshima: Oshima cho rằng, khu vực nông nghiệp có dư thừa lao động nhưng chỉ lúc thời vụ không căng thẳng.
Và đầu tư chiều sâu cho cả nông nghiệp và công nghiệp là không khả thi, vì nguồn lực và trình độ lao động có hạn của các nước đang phát triển. Theo ông: Giai đoạn 1, đầu tư cho nông nghiệp phát triển theo chiều rộng nhằm đa dạng hoá sản xuất, thu hút lao động tại nông nghiệp. Hướng này phù hợp vì đòi hỏi vốn không lớn, trình độ kỹ thuật nông nghiệp không cao và không đòi hỏi đầu tư lớn như đầu tư cho công nghiệp. Đồng thời, nông nghiệp mở rộng sản lượng và xuất khẩu tạo ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Kết thúc giai đoạn 1, nông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- nghiệp có chủng loại nông sản đa dạng với quy mô lớn, đòi hỏi phát triển công nghiệp chế biến với quy mô lớn. Giai đoạn 2, đồng thời đầu tư phát triển theo chiều rộng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ là tiếp tục đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghiệp sinh học, sản xuất theo quy mô lớn nhằm mở rộng quy mô sản lượng. Phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp cung cấp đầu vào cho nông nghiệp và các ngành công nghiệp thâm dụng lao động. Như vậy phát triển nông nghiệp tạo điều kiện để mở rộng thị trường công nghiệp, tăng thêm quy mô sản xuất công nghiệp và nhu cầu về các hoạt động dịch vụ.
Kết thúc giai đoạn 2, tốc độ tăng trưởng việc làm lớn hơn tốc độ tăng trưởng lao động. Giai đoạn 3, phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm nhu cầu lao động. Sự phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ của giai đoạn 2 làm cho hiện tượng thiếu lao động ngày càng phổ biến. Do đó, trong nông nghiệp cần đẩy mạnh cơ giới hoá và ứng dụng công nghệ sinh học để tăng nhanh năng suất lao động.
Từ đó, có thể giảm số lao động trong nông nghiệp chuyển sang khu vực công nghiệp mà không ảnh hưởng đến tổng sản phẩm nông nghiệp. Trong lĩnh vực công nghiệp thì tiếp tục phát triển theo hướng thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu, thu hẹp ngành công nghiệp thâm dụng lao động và mở rộng ngành công nghiệp thâm dụng vốn để nâng sức cạnh tranh và giảm nhu cầu về lao động. Mô hình cho thấy: phát triển sản xuất quy mô lớn, với hình thức kinh tế trang trại, hợp tác là cần thiết cho quá trình phát triển nông nghiệp. Lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp theo các giai đoạn TODARO – SS.
Mô hình ba giai đoạn phát triển nông nghiệp (TODARO, 1990) Theo Todaro, phát triển nông nghiệp trải qua ba giai đoạn tuần tự từ thấp đến cao, đó là: nền nông nghiệp tự cấp tự túc → Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá → Nông nghiệp hiện đại. Ở giai đoạn tự cấp tự túc, phần lớn các sản phẩm sản xuất ra được tiêu dùng nội bộ trong khu vực nông nghiệp; sản phẩm chưa đa dạng, chủ yếu là các loại cây lương thực và một số con vật nuôi truyền thống; Công cụ sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- xuất thô sơ, phương pháp sản xuất truyền thống giản đơn, chủ yếu là độc canh; Đất, lao động là những yếu tố sản xuất chủ yếu, đầu tư vốn còn thấp do đó xu hướng lợi nhuận giảm dần được thể hiện rõ khi sản xuất mở rộng trên diện tích đất không màu mỡ; Sản lượng nông nghiệp vẫn gia tăng nhưng chủ yếu là do mở rộng diện tích và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Giai đoạn chuyển dịch cơ cấu theo hướng đa dạng hoá, từ sản xuất tự cấp tự túc sang chuyên môn hoá.