Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trên địa bàn vùng lãnh thổ - Chương 2: Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân - Chương 3: Thực trạng liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2015 - 2019 - Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG LÃNH THỔ Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân nói chung và liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân ở các vùng lãnh thổ là vấn đề được nghiên cứu từ lâu, phong phú, đa dạng dưới hình thức đề tài các cấp, hội thảo, luận án tiến sĩ, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí… trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu đã tiếp cận vấn đề này dưới nhiều góc nhìn khác nhau về những khía cạnh xung quanh vấn đề liên kết kinh tế, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hộ nông dân, những thuận lợi cũng như những rào cản, khó khăn của mối liên kết này,… Điển hình là các công trình sau: 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TIÊU BIỂU CỦA CÁC TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LIÊN KẾT KINH TẾ 1.
Những công trình nghiên cứu có liên quan về vấn đề liên kết kinh tế nói chung 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả nước ngoài về vấn đề liên kết kinh tế A. Trong cuốn sách này của mình, ông nói rằng những cải tiến lớn nhất trong sức sản xuất của lao động nằm trong sự chuyên môn hóa và phân công lao động. Bằng cách tăng năng suất, sự phân công lao động, chuyên môn hóa cũng làm tăng sự giàu có của một xã hội, làm tăng mức sống thậm chí của những người nghèo nhất.
Đây là một minh chứng cho sự liên kết không chỉ của những người lao động làm việc trong ngành sản xuất, mà là của tất cả các ngành thương mại. Và chính liên kết kinh tế ngày càng phát triển đã thúc đẩy phân công lao động và chuyên môn hóa để tăng năng suất lao động. Thị trường 8 càng lớn, giao thông càng thuận tiện thì liên kết kinh tế càng cao, mức độ phân công lao động và chuyên môn hóa càng được phân chia một cách hiệu quả. Bởi vì năng suất lao động tăng với sự chuyên môn hóa, phân công lao động cần một thị trường để tiêu thụ các sản phẩm mà sự liên kết ấy tạo ra.Ricardo đã tiếp tục phát triển lý thuyết của A.Smith, ông đưa ra lý thuyết về sự hợp tác tự nguyện trên cơ sở lợi thế so sánh.
Ông chỉ ra rằng: chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia. Trong trường hợp một bên sản xuất hàng hóa kém hơn và hầu như không có khả năng cạnh tranh thì sự chuyên môn hóa chỉ tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế cũng giúp họ có được lợi ích tốt hơn, vì họ đã tiết kiệm được một khoản phí để tìm kiếm cơ hội cho các hoạt động khác nhau. Theo ông, chuyên môn hóa chính là cách thức tạo ra những lợi ích tiềm ẩn của sự hợp tác. Đây được coi là một bước tiến trong nghiên cứu của D.
Nhưng điểm hạn chế của ông là chưa chỉ rõ được lợi ích cụ thể mà mỗi bên thu được. Đó là vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu kinh tế cận đại.Mác và PhĂnghen (1993), Toàn tập, tập 23 [11]. Ông đã phân tích kỹ về phân công lao động và chuyên môn hóa trong chủ nghĩa tư bản giai đoạn hiệp tác và phân công trong công trường thủ công; chính phân công lao động và chuyên môn hóa là điều kiện tồn tại và phát triển của nền sản xuất hàng hóa, khiến những người sản xuất cần phụ thuộc vào nhau, có mối quan hệ kinh tế với nhau. Mặt khác, sự phân công, hiệp tác tạo ra năng suất, hiệu quả cao hơn.
Nhưng sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất mới là cơ sở, là điều kiện đủ của nền sản xuất hàng hóa, chính điều đó, lại trở thành tiền đề cho sự liên kết trong sản xuất và kinh doanh. Ông đã chỉ ra chính phân công lao động và tăng năng suất lao động là cơ sở để có nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, phân công lao động càng sâu sắc thì quy mô thị trường càng được mở rộng. Không dừng lại ở đó, khi bàn đến chủ nghĩa tư bản độc quyền, Lênin đã chỉ ra đặc điểm cơ bản nhất của giai đoạn này là tập trung sản xuất 9 và các tổ chức độc quyền. Độc quyền tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, phát triển từ thấp đến cao, từ một ngành đến nhiều ngành.
Đây chính là các hình thức của liên kết kinh tế. Cụ thể là: Buổi ban đầu, các liên minh hình thành những liên kết ngang như Cácten, Xanhđica, Tờ rớt, tức là sự liên kết những doanh nghiệp trong cùng ngành. Sau đó, mới xuất hiện sự liên kết dọc, hình thành các côngxoócxiom, nghĩa là các ngành khác nhau nhưng có liên quan về kinh tế và kỹ thuật thì liên kết với nhau. Sau này xuất hiện liên kết đa ngành, vừa bao gồm liên kết ngang và liên kết dọc, hình thành những cônglômêrat hay consơn khổng lồ thâu tóm nhiều công ty, xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệp rất khác nhau, đồng thời bao gồm cả vận tải, thương mại, ngân hàng và các dịch vụ khác, v.v… Như vậy, các hình thức liên kết kinh tế trên đi vào nắm giữ các mạch máu của nền kinh tế, đi vào mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh với đủ mọi phương pháp.
Vì vậy mà có sức mạnh vô cùng to lớn, chi phối nền kinh tế Chủ nghĩa đế quốc. Hơn nữa, Lênin còn chỉ ra sự liên kết giữa các nước tư bản phát triển với các nước nghèo bằng con đường xuất khẩu tư bản với mục đích “Bình phương hóa giá trị thặng dư”. Điều này, một phần tạo việc làm, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước nghèo, nhưng chủ yếu là khiến chủ nghĩa tư bản ngày càng trở nên giàu có, mở rộng phạm vi bành trướng trên quy mô quốc tế. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin cũng bàn đến hình thức liên minh công nông để phát triển một nền kinh tế mạnh và bền vững.
Albert Hirschman Otto (1958), Strategy of economic development (Chiến lược phát triển kinh tế) [94]. Ý tưởng nghiên cứu của Albert Hirschman Otto xuất phát từ việc ông nhận thấy các nước nghèo thường khan hiếm nguồn tài chính, khoa học công nghệ,… Do vậy, bằng cách liên kết, hợp tác với các nước giàu, các quốc gia này có thể huy động được nguồn lực mình cần, đặc biệt là sự hợp tác trong các ngành công nghiệp và từ đó tạo ra sự tăng trưởng kinh tế. Ông cho rằng sự liên kết này là rất cần thiết để phát triển kinh tế và tập trung làm thế nào để thúc đẩy thị trường đầu vào ở các nước nghèo 10 một cách mạnh mẽ, mục tiêu ông đưa ra là đầu tư vào những ngành công nghiệp có sự liên kết mạnh nhất. Theo ông, chính sự liên kết đó sẽ tạo ra sự thay đổi, tăng trưởng và hiệu ứng lan tỏa từ khu vực này sang khu vực khác của nền kinh tế.
Với cách tiếp cận các mối liên kết ngành và liên ngành như vậy, ông đã đưa ra quan niệm về liên kết xuôi (forward linkages, downstream linkages), liên kết ngược (backward linkages, upstream linkages) để phản ánh mối quan hệ đầu vào và đầu ra của liên kết.Ông cũng chỉ ra: Các hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) được sinh ra từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành vừa được thành lập; các hiệu ứng liên kết xuôi sinh ra từ nhu cầu sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các ngành khác kéo theo [94]. Nghĩa là, bất kỳ một ngành nào được thành lập mới cũng kéo theo các hoạt động sản xuất khác nhằm cung cấp đầu vào cho ngành ấy; và mọi ngành, trừ các ngành sản xuất hàng hóa cuối cùng, đều kéo theo các hoạt động khác sử dụng đầu ra của ngành ấy như đầu vào của mình. Cuốn sách tập trung vào các vấn đề lý thuyết trong liên kết của các nền kinh tế độc lập và việc phối hợp các chính sách kinh tế trong một liên kết. Cuốn sách cũng đưa ra sự phân biệt giữa các hình thức liên kết khác nhau như khu vực thương mại tự do, thị trường chung, liên minh thuế quan, các liên minh kinh tế và các liên minh trên mọi lĩnh vực… Đồng thời, cuốn sách nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa liên kết và tăng trưởng, điều mà rất ít học giả thời đó chú ý đến.
Cuốn sách quan niệm liên kết kinh tế, khác hẳn với hợp tác kinh tế về mặt hình thức cũng như bản chất, là những ràng buộc khiến các nền kinh tế độc lập trở thành một chỉnh thể thống nhất. Liên kết kinh tế ở đây, được hiểu như một thể chế kinh tế nhằm xóa bỏ sự phân biệt giữa các nền kinh tế, gắn kết các nền kinh tế với nhau. Trong nghiên cứu của mình, ông đã giới thiệu những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất, chỉ ra cơ sở của lợi thế cạnh 11 tranh trong từng doanh nghiệp và trên phạm vi quốc gia. Trong đó, ông đưa ra các phân tích về sự cần thiết thúc đẩy liên kết theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất, chế biến đến phân phối, bán hàng gắn với cấu trúc ngành và cấu trúc tổ chức.
Ông khẳng định: các liên kết trong chuỗi giá trị có thể đưa đến lợi thế cạnh tranh theo hai hướng là tối ưu hóa hoặc sự điều phối [47]. Bên cạnh đó, ông cũng bàn đến các liên minh kinh tế với hai hình thức liên minh cơ bản là liên minh theo chiều dọc và liên minh theo chiều ngang… Ông định nghĩa: “Liên minh là những hợp đồng dài hạn giữa các doanh nghiệp vượt qua những giao dịch thông thường trên thị trường nhưng không có sự sáp nhập công khai” [47, tr. Tác giả cũng cho rằng liên minh là “mở rộng phạm vi mà không cần mở rộng doanh nghiệp, thông qua hợp đồng với một doanh nghiệp độc lập khác để thực hiện các hoạt động giá trị” [47, tr.