CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Tổng quan về Internet và TMĐT 1. Khái quát về Internet 1. Sự ra đời và phát triển của Internet Từ cuối thập kỷ 70, phương pháp trao đổi dữ liệu mới qua Internet đã thực sự đưa nhân loại bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên mạng.
Internet ngày nay dựa trên cơ sở một hệ thống thương mại các mạng xương sống (các đường dữ liệu tốc độ cao) mà trước đây đã được Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nghiên cứu những năm 1960. Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP). Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các DN, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu.
Hiện nay trên thế giới, tiếng Anh là ngôn ngữ thống trị trên Internet, chiếm khoảng 28. Nhóm ngôn ngữ sử dụng phổ biến trên Internet năm 2013 29% 40% Tiếng Anh Tiếng Trung Tiếng Tây Ban Nha Ngôn ngữ khác 23% 8% (Nguồn: Internet World Stats) Hai nhân tố dùng để đo sự phát triển của Internet là số lượng máy chủ Internet và tên miền trên Internet. Một máy chủ Internet là một máy tính nối với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Internet và có một địa chỉ IP duy nhất. Một tên miền đại diện cho một bản ghi trong hệ thống tên miền, ví dụ như register.
Một tên miền ở cấp độ cao nhất chỉ gồm các kí tự ở phía cuối cùng của một địa chỉ Internet như: com, gov, net, org… Đến cuối năm 2013, tổng số website ở mức 759 triệu, trong đó 510 triệu website vẫn đang trong trạng thái hoạt động. Tổng lượng dữ liệu Internet được sử dụng trong năm 2013 đạt khoảng 672 Exabyte (672 tỉ GB). Lưu lượng dữ liệu trao đổi trên mạng Internet năm 2013 là 43. Năm 2014, lượng dữ liệu web do Google đánh chỉ mục lên đến 200 TB (204.800 GB), và con số này ước tính chỉ ở mức 0,004% tổng lượng dữ liệu Internet.
(Theo website interlivestats. Số lượng người dùng Internet trên toàn thế giới Triệu người Năm 2014 3000 Năm 2013 2700 Năm 2012 2600 Năm 2011 2300 Năm 2010 2000 Năm 2009 1800 Năm 2008 1600 Năm 2007 1400 (Theo website interlivestats.com, 2015) Năm 2014, số người sử dụng Internet trên toàn cầu đã tăng 6,6 so với năm trước đó. Đến cuối năm 2014, có khoảng 44 số hộ dân trên toàn cầu đăng ký và sử dụng dịch vụ kết nối Internet, tăng 4 so với năm ngoái và 14 so với 4 năm trước đó. Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), người dùng Internet chạm mốc 3 tỉ vào cuối năm 2014, chiếm khoảng 40% dân số thế giới.
Trong số đó, 78 đến từ các nước phát triển còn 22 đến từ những quốc gia đang phát triển. Hơn nữa, người dân tại các nước đang phát triển chiếm đến hơn 90 những người chưa sử dụng Internet. (Theo website interlivestats.com, 2015) Internet đang càng được nhiều người quan tâm, sử dụng và khai thác. Đây là một xu hướng khó tránh khỏi đối với bất cứ quốc gia nào, do đó việc tìm hiểu, nâng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cao kiến thức và khai thác Internet có hiệu quả chính là nhiệm vụ của mỗi người, mỗi DN và của mọi cấp chính quyền.
Ảnh hưởng của hoạt động thương mại trên Internet đối với doanh nghiệp và với người tiêu dùng Các giao dịch thương mại trên Internet tiếp tục tăng trưởng với một tỷ lệ nhanh tới mức khó có thể đo lường chính xác được. Sự phát triển và mở rộng của Internet đã hiện thực hóa thương mại điện tử - kết quả của các phát triển mới và các công nghệ của các ngành công nghê phần cứng, phần mềm và dịch vụ. - Đối với DN: Để tạo ra cảm giác an toàn khi sử dụng Internet để liên lạc với các nhà cung cấp và các khách hàng, một DN cần phải chắc chắn trong việc nhận dạng đối tác ở phía bên kia của giao dịch và ràng buộc về mặt pháp lý bằng bất kỳ một thỏa thuận nào đó bằng điện tử. Người ta vẫn đang thỏa thuận để tìm kiếm các phương thức bảo mật tốt hơn trên Internet và các chủ đề trong các cuộc thảo luận này là: mã hóa, chữ ký số và chứng chỉ số hóa.
Các doanh ngiệp đã từng sử dụng các giao dịch EDI (Electronic Data Interchange – Trao đổi dữ liệu điện tử) trên các mạng riêng giá trị gia tăng đã biết rằng các thông tin quan trọng sẽ được chuyển tới đích của nó theo lịch, không bị xâm phạm trái phép và nhà cung cấp dịch vụ mạng phải chịu trách nhiệm về việc này. Nhưng Internet thì không có sự bảo đảm đó, bởi Internet là một mạng công cộng của các mạng và các nhà cung cấp kết nối với nhau, không có một chủ thể nào đảm bảo cho việc một thông điệp được chuyển từ một điểm này tới một điểm khác mà không bị xâm phạm trái phép. Nhiều cá nhân, DN đã từng bị lộ các thông tin về thẻ tín dụng, bị kẻ xấu mua hàng hóa, dịch vụ trên bằng tiền của mình. - Đối với người tiêu dùng: Hầu hết các khoản mua hàng trên Internet hiện giờ được thực hiện việc nhập thẻ tín dụng và gửi thông tin trên mẫu của máy tính và chuyển các thông tin này bằng điện tử đến người bán hàng.
Mặc dù người tiêu dùng có thể đã phải đưa thông tin thẻ tín dụng qua điện thoại để mua hàng, nhưng nhiều người rất miễn cưỡng đưa thông tin này trực tuyến vì sợ rằng nó sẽ bị đánh cắp hoặc sử dụng sai mục đích. Đây chính là cản trở lớn nhất của sự phát triển kinh doanh bán lẻ trên Internet. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Những người bán lẻ trên Internet cho rằng khó khăn này có thể giảm dần khi ngày càng nhiều người mua hàng trực tuyến.1: Những lo ngại của người tiêu dùng khi mua hàng qua mạng Internet Đơn vị tính: % Mối lo ngại Rất Hơi Lo Không Không lo lo ít lo biết Bị bán thông tin cá nhân cho người khác 72 11 6 9 2 Bị ăn cắp thông tin thẻ tín dụng 63 13 9 13 2 Bị ăn cắp thông tin cá nhân 61 16 9 13 1 Nhận thư rác (spam) 57 11 16 14 2 (Nguồn: Ipsos Public Affair, tháng 1 năm 2004) 1. Thương mại điện tử (E-commerce) 1.
Khái niệm thương mại điện tử Thương mại điện tử (E-commerce) là một hình thức kinh doanh thương mại trên cơ sở mạng máy tính toàn cầu và ra đời dựa trên cơ sở phát triển mạng Internet và công nghệ thông tin, được dự báo là phương thức hoạt động chủ yếu trong nền kinh tế. Có nhiều định nghĩa TMĐT được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng khái quát lại thuật ngữ TMĐT có thể được hiểu như sau: - Theo nghĩa rộng: Thuật ngữ “thương mại” cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại (commercial) bao gồm, nhưng không phải chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: “bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ, thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây ựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hay đường bộ. (Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL) - Theo nghĩa hẹp: TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 hữu hình, cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin được số hóa thông qua mạng Internet.
Do vậy, TMĐT bao gồm các hoạt động thương mại được thực hiện thông qua mạng Internet; không chỉ là buôn bán hàng hóa và dịch vụ theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng hơn nhiều nhằm làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết các hoạt động kinh tế. TMĐT mở ra các hoạt động hiệu quả cho kết quả trong những khoảng thời gian ngắn hơn, cải thiện sự phản hồi với khách hàng và làm giảm chi phí điều hành. Hầu hết các công ty đang đầu tư vào TMĐT ngày nay mong muốn có một hệ thống quản lý được các giao dịch thương mại nội bộ và qua các kênh phân phối. Một kênh phân phối có thể bao gồm các tổ chức bán hàng và marketing, các nhà sản xuất, các nhà thầu phụ, các nhà cung cấp nguyên vật liệu, những người bán lẻ, các nhà sản xuất thiết bị đầu tiên và những người tiêu dùng.
Trong kênh phân phối còn có các cơ quan Chính phủ để kiểm soát thuế quan và các nhu cầu an ninh, các công ty bảo hiểm để bảo vệ hàng tồn kho, các công ty phân phối và hậu cần để vận chuyển hàng hóa và cuối cùng là các ngân hàng để cho quá trình thanh toán. Các đặc trưng của thương mại điện tử Với khái niệm như trên về TMĐT, ta thấy, so với thương mại truyền thống, TMĐT có những đặc trưng sau đây: - Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không cần phải tiếp xúc với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau trước. - Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn trong TMĐT thì dần được xóa mờ. - Mạng lưới thông tin đối với thương mại truyền thống chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì chính là thị trường.
- Trong hoạt động TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là nhà cung cấp dịch vụ mạng. - Trong TMĐT, độ lớn về quy mô và vị trí của các DN trở nên không quan trọng. - Hàng hóa trong TMĐT không chỉ bao gồm hàng hóa và dịch vụ “vật thể” trong các giao dịch thông thường mà còn là hàng hóa đặc thù của mình: bao gồm “hàng hóa số” và “dịch vụ số”.