Luận văn thạc sĩ về pháp luật không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm cho Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu vnu ls pháp luật một số quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với việt, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

125
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2. MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

1.3. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4. Ý NGHĨA THỰC TIỄN VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

1.5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ VÀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ

2.1. KHÁI NIỆM NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ

2.1.1. Định nghĩa

2.2. Lịch sử phát triển năng lượng nguyên tử trên Thế giới

2.3. Lợi ích và bất cập của việc sử dụng năng lượng nguyên tử

2.3.1. Lợi ích

3. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ

3.1. NHẬN XÉT CHUNG

3.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƢỢC QUY ĐỊNH TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐIỂN HÌNH VỀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ

3.2.1. Pháp luật Cộng hòa liên bang Đức

3.2.1.1. Chính sách năng lượng nguyên tử của Đức
3.2.1.2. Pháp luật năng lượng nguyên tử của Đức

3.2.2. Pháp luật Cộng hòa Áo

3.2.2.1. Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Áo và sự phát triển của phong trào chống năng lượng nguyên tử
3.2.2.2. Pháp luật năng lượng nguyên tử của Cộng hòa Áo

3.2.3. Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Ý

3.2.3.1. Pháp luật năng lượng nguyên tử của Ý

3.2.4. Pháp luật Vương quốc Bỉ

3.2.4.1. Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Bỉ
3.2.4.2. Pháp luật năng lượng nguyên tử của Bỉ

3.2.5. Pháp luật Thụy Sỹ

3.2.5.1. Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Thụy Sỹ
3.2.5.2. Pháp luật năng lượng nguyên tử của Thụy Sỹ

3.2.6. Pháp luật Nhật Bản

3.2.6.1. Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Nhật Bản
3.2.6.2. Pháp luật năng lượng nguyên tử của Nhật Bản

3.2.7. Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Úc

3.2.7.1. Pháp luật năng lượng nguyên tử của Úc

4. CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM

4.1. THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.2. KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ

4.2.1. Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về năng lượng nguyên tử

4.2.2. Giải pháp về không sử dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kinh nghiệm không sử dụng năng lượng nguyên tử

Kinh nghiệm không sử dụng năng lượng nguyên tử đã trở thành một chủ đề quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hiện nay. Nhiều quốc gia đã từ bỏ hoặc hạn chế việc sử dụng năng lượng nguyên tử do những rủi ro tiềm ẩn và tác động môi trường. Việt Nam cũng cần xem xét những bài học từ các quốc gia này để phát triển một chính sách năng lượng bền vững hơn.

1.1. Lịch sử phát triển năng lượng nguyên tử trên thế giới

Năng lượng nguyên tử đã có lịch sử phát triển dài, bắt đầu từ những năm 1940. Tuy nhiên, sau nhiều thảm họa hạt nhân, nhiều quốc gia đã quyết định từ bỏ năng lượng này. Các quốc gia như Áo, Đức và Thụy Điển đã dẫn đầu trong việc không sử dụng năng lượng nguyên tử.

1.2. Lợi ích và bất cập của năng lượng nguyên tử

Mặc dù năng lượng nguyên tử có thể cung cấp một nguồn năng lượng lớn và ổn định, nhưng những rủi ro về an toàn và tác động môi trường đã khiến nhiều quốc gia xem xét lại quyết định của mình. Các vấn đề như chất thải hạt nhân và an toàn lò phản ứng là những yếu tố quan trọng cần được cân nhắc.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử tại Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát triển năng lượng nguyên tử. Các vấn đề về an toàn, chi phí và cơ sở hạ tầng là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng. Việc phát triển một chính sách năng lượng bền vững là cần thiết để đảm bảo an toàn cho người dân và môi trường.

2.1. Thực trạng sử dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam

Hiện tại, Việt Nam chưa có nhà máy điện nguyên tử nào hoạt động. Tuy nhiên, các kế hoạch phát triển năng lượng nguyên tử đã được đề xuất. Việc này cần được xem xét kỹ lưỡng để tránh những rủi ro không đáng có.

2.2. Các chính sách năng lượng hiện tại của Việt Nam

Chính sách năng lượng của Việt Nam hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế. Cần có những điều chỉnh để phù hợp với xu hướng toàn cầu về việc không sử dụng năng lượng nguyên tử. Việc phát triển năng lượng tái tạo là một hướng đi khả thi.

III. Phương pháp và giải pháp không sử dụng năng lượng nguyên tử

Việc không sử dụng năng lượng nguyên tử đòi hỏi các phương pháp và giải pháp thay thế hiệu quả. Các quốc gia đã thành công trong việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo có thể cung cấp những bài học quý giá cho Việt Nam.

3.1. Các giải pháp năng lượng tái tạo

Năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, gió và thủy điện đang trở thành những lựa chọn hàng đầu cho nhiều quốc gia. Việt Nam có tiềm năng lớn trong lĩnh vực này và cần đầu tư phát triển.

3.2. Kinh nghiệm từ các quốc gia điển hình

Nhiều quốc gia như Đức và Áo đã thành công trong việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Những kinh nghiệm này có thể được áp dụng tại Việt Nam để phát triển một chính sách năng lượng bền vững.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về năng lượng nguyên tử

Nghiên cứu về năng lượng nguyên tử và những tác động của nó đến môi trường và xã hội là rất quan trọng. Các kết quả nghiên cứu có thể giúp Việt Nam đưa ra quyết định đúng đắn trong việc phát triển năng lượng.

4.1. Các nghiên cứu về tác động môi trường

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lượng nguyên tử có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Việc đánh giá các tác động này là cần thiết để đưa ra quyết định chính xác.

4.2. Kết quả từ các quốc gia đã từ bỏ năng lượng nguyên tử

Các quốc gia đã từ bỏ năng lượng nguyên tử cho thấy rằng việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo không chỉ khả thi mà còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế và môi trường.

V. Kết luận và tương lai của năng lượng nguyên tử tại Việt Nam

Việt Nam cần xem xét kỹ lưỡng việc phát triển năng lượng nguyên tử. Những bài học từ các quốc gia khác có thể giúp Việt Nam xây dựng một chính sách năng lượng bền vững hơn. Tương lai của năng lượng tại Việt Nam nên tập trung vào năng lượng tái tạo và các giải pháp an toàn hơn.

5.1. Tương lai của năng lượng tái tạo tại Việt Nam

Năng lượng tái tạo có thể trở thành nguồn năng lượng chính cho Việt Nam trong tương lai. Cần có những chính sách hỗ trợ để phát triển lĩnh vực này.

5.2. Những thách thức trong việc chuyển đổi năng lượng

Việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo không phải là điều dễ dàng. Việt Nam cần đối mặt với nhiều thách thức về công nghệ, đầu tư và chính sách để thực hiện điều này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật một số quốc gia về không sử dụng năng lượng nguyên tử và kinh nghiệm đối với việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ VÀ KHÔNG SỬ DỤNG NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ 1.1 KHÁI NIỆM NĂNG LƢỢNG NGUYÊN TỬ 1.1 Định nghĩa Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 của Luật Năng lƣợng nguyên tử Việt Nam năm 2008, thuật ngữ “Năng lượng nguyên tử” đƣợc định nghĩa là: “Năng lượng được giải phóng trong quá trình biến đổi hạt nhân bao gồm năng lượng phân hạch, năng lượng nhiệt hạch, năng lượng do phân rã chất phóng xạ; là năng lượng sóng điện từ có khả năng ion hoá vật chất và năng lượng các hạt được gia tốc”.2 Lịch sử phát triển năng lƣợng nguyên tử trên Thế giới Lịch sử của năng lƣợng nguyên tử khởi đầu với việc xây dựng mô hình nguyên tử. Năm 1912, nhà vật lý Ernest Rutherford (1871 - 1937) ngƣời Anh, sau khi phát hiện ra hạt nhân nguyên tử đã cùng với nhà vật lý Niels Bohr (1885 - 1962) ngƣời Đan Mạch đề xuất một mô hình nguyên tử: Nguyên tử gồm một hạt nhân tích điện dƣơng đƣợc bao quanh bởi các electron [20]. Năm 1913, Rutherford phát hiện ra proton. Năm 1932, nhà vật lý James Chadwick (1891 - 1974) ngƣời Anh phát hiện ra nơtron.

Năm 1939, nhà vật lý Frederic Joliot-Curie (1900 - 1958) ngƣời Pháp cùng với các trợ lý là Lew Kowaski và Hans Von Halban đã chứng minh rằng hiện tƣợng phân rã hạt nhân (phân hạch) uran kéo theo sự toả nhiệt rất lớn [20]. Việc phát hiện ra phản ứng dây chuyền sau này cho phép khai thác năng lƣợng nguyên tử. Trong Đại chiến thế giới lần thứ II (1939-1945), các nghiên cứu về hiện tƣợng phân hạch đƣợc tiếp tục tiến hành ở Mỹ, với sự tham gia của các nhà khoa 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học từ châu Âu di cƣ sang đó. Kế hoạch Mahattan đƣợc phát động với mục đích chế tạo vũ khí hạt nhân mà hệ quả là các vụ nổ hạt nhân (bom nguyên tử) ở hai thành phố Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản) vào tháng 8/1945 [20].

Ngay sau chiến tranh, những nghiên cứu về năng lƣợng phân hạch đƣợc tiếp tục tiến hành để sử dụng vào mục đích dân sự. Ở Pháp, ủy hội năng lƣợng nguyên tử Pháp (Commissariat à l'énergie Atomique CEA) đƣợc thành lập vào năm 1945 [20]. Nhiệm vụ của Cơ quan nghiên cứu này là giúp nƣớc Pháp làm chủ đƣợc nguyên tử trong các lĩnh vực nghiên cứu, y tế, năng lƣợng, công nghiệp, an ninh và quốc phòng. Sau chiên tranh, chính quyền Mĩ khuyến khích phát triển năng lƣợng nguyên tử cho các mục đích dân sự hòa bình.

Quốc hội Mĩ đã thành lập Ủy ban Năng lƣợng Nguyên tử (AEC) vào năm 1946. AEC đã ủy quyền xây dựng Lò Tái sinh Thực nghiệm I tại một địa điểm ở Idaho. Lò phản ứng ấy phát điện lần đầu tiên từ năng lƣợng nguyên tử vào ngày 20/12/1951 [16]. Một mục tiêu chính trong nghiên cứu hạt nhân vào giữa thập niên 1950 là chứng tỏ rằng năng lƣợng nguyên tử có thể phát điện dùng cho mục đích thƣơng mại.

Nhà máy phát điện thƣơng mại đầu tiên chạy bằng năng lƣợng nguyên tử đặt tại Shippingport, Pennsylvania. Nó đạt tới công suất thiết kê trọn vẹn vào năm 1957 [16]. Các lò phản ứng nƣớc nhẹ kiểu nhƣ Shippingport sử dụng nƣớc bình thƣờng để làm nguội lõi lò phản ứng trong phản ứng dây chuyền. Chúng là mẫu thiết kế tốt nhất khi ấy cho nhà máy điện nguyên tử.

Ngành công nghiệp bí mật ngày càng liên quan nhiều hơn đến việc phát triển các lò phản ứng nƣớc nhẹ sau khi Shippingport đi vào hoạt động. Các chƣơng trình năng lƣợng nguyên tử đã chuyển sự tập trung sang việc phát triển các công nghệ lò phản ứng khác. Ngành công nghiệp điện nguyên tử ở Mĩ phát triển nhanh chóng trong thập niên 1960. Các công ty thực dụng đã nhìn thấy dạng sản xuất điện này thật kinh tế, sạch về mặt môi trƣờng và an toàn.

Tuy nhiên, vào thập niên 1970 và 1980, sự tăng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣởng bị chậm lại. Nhu cầu điện giảm đi và các lo ngại về điện nguyên tử ngày càng tăng, ví dụ nhƣ sự an toàn lò phản ứng, vấn đề chất thải, và những xem xét môi trƣờng khác [16]. Tuy nhiên, nƣớc Mĩ vẫn có số lƣợng nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động nhiều gấp đôi so với bất kì nƣớc nào trên Thế Giới vào năm 1991, chiếm hơn một phần tƣ số lƣợng nhà máy đang hoạt động trên Thế Giới. Năng lƣợng nguyên tử cung cấp gần 22% điện năng sản xuất ở nƣớc Mĩ [16].

Cuối năm 1991, 31 quốc gia khác cũng có nhà máy điện nguyên tử đang khai thác thƣơng mại hoặc đang xây dựng [16]. Đó là một sự chuyển giao công nghệ điện nguyên tử rộng khắp và ấn tƣợng. Trong thập niên 1990, nƣớc Mĩ phải đối mặt trƣớc một vài vấn đề năng lƣợng chính, và đã phát triển một vài mục tiêu chính cho năng lƣợng nguyên tử, đó là: Duy trì sự an toàn cao và các chuẩn thiết kế; Giảm rủi ro kinh tế; Giảm rủi ro điều tiết; Thiết lập một chƣơng trình chất thải hạt nhân mức cao thật hiệu quả. Một vài trong số những mục tiêu năng lƣợng nguyên tử này đã đƣa vào Chính sách Năng lƣợng năm 1992, đƣợc kí thành luật (nƣớc Mĩ) vào tháng 10 cùng năm [16].

Nƣớc Mĩ đang hành động để đạt tới những mục tiêu này theo nhiều phƣơng thức khác nhau. Chẳng hạn, Bộ Năng lƣợng Mĩ gánh vác một số nỗ lực chung với ngành công nghiệp hạt nhân để phát triển thế hệ tiếp theo của các nhà máy điện nguyên tử. Những nhà máy đã và đang đƣợc thiết kế ngày một an toàn hơn và hiệu quả hơn. Đây cũng là một nỗ lực nhằm làm cho nhà máy điện nguyên tử dễ xây dựng hơn bằng cách chuẩn hóa thiết kế và đơn giản hóa các đòi hỏi bản quyền, mà không giảm bớt các tiêu chuẩn an toàn.

Trong lĩnh vực quản lí chất thải, các kĩ sƣ đang phát triển những phƣơng pháp mới và những địa điểm mới dùng cất trữ chất thải phóng xạ tạo ra bởi các nhà máy điện nguyên tử và những quá trình hạt nhân khác. Mục tiêu của họ là giữ chất thải hạt nhân cách xa môi trƣờng sống và con ngƣời trong những khoảng thời gian rất lâu. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu năng lƣợng nhiệt hạch hạt nhân. Sự nhiệt hạch xảy ra khi các nguyên tử liên kết lại – hay hợp nhất – thay vì phân tách ra.

Nhiệt hạch là năng lƣợng đã cấp nguồn cho mặt trời. Trên Trái dât, nhiên liệu nhiệt hạch hứa hẹn nhất là deuterium, một dạng hydrogen. Nó có trong nƣớc và dồi dào. Nó cũng tạo ra chất thải kém độ phóng xạ hơn so với sự phân hạch.

Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chƣa thể sản xuất năng lƣợng có ích từ sự nhiệt hạch và vẫn đang trong tiến trình nghiên cứu. Nghiên cứu trong những lĩnh vực hạt nhân khác vẫn tiếp tục trong thập niên 1990. Công nghệ hạt nhân giữ vai trò quan trọng trong y khoa, công nghiệp, khoa học, và thực phẩm và nông nghiệp, cũng nhƣ phát điện. Ví dụ, các bác sĩ sử dụng các đồng vị phóng xạ để nhận dạng và nghiên cứu các nguyên nhân gây bệnh.

Họ còn dùng chúng để tăng liệu pháp điều trị y khoa truyền thống. Trong công nghiệp, các đồng vị phóng xạ đƣợc dùng để đo những chiều dày vi mô, dò tìm những dị thƣờng trong vỏ bọc kim loại, và kiểm tra các mối hàn. Các nhà khảo cổ sử dụng kĩ thuật hạt nhân để xác dịnh niên đại các vật thời tiền sử một cách chính xác và định vị các khiếm khuyết ở các tƣợng đài và nhà cửa. Bức xạ hạt nhân đƣợc dùng để bảo quản thực phẩm.

Nó giữ đƣợc nhiều vitamin hơn so với đóng hộp, đông lạnh hoặc sấy khô [16]. Nghiên cứu hạt nhân còn mang lợi ích cho nhân loại theo nhiều kiểu. Nhƣng ngày nay, ngành công nghiệp hạt nhân phải đối mặt trƣớc những vấn đề lớn, rất phức tạp. Làm thế nào chúng ta có thể giảm tối thiểu các rủi ro? Tƣơng lai sẽ tùy thuộc vào kĩ nghệ tiên tiến, nghiên cứu khoa học, và sự tham gia của mọi công dân.3 Lợi ích và bất cập của việc sử dụng năng lƣợng nguyên tử 1.1 Lợi ích Theo nghiên cứu "Công nghệ hạt nhân vì tương lai bền vững" của IAEA vào tháng 6/2012, công nghệ hạt nhân có 6 lợi ích to lớn trong nỗ lực xây dựng tƣơng lai bền vững, bao gồm: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, tăng trƣởng dân số, thúc đẩy phát triển kinh tế, và thay đổi lối sống đòi hỏi nguồn tài nguyên hơn bao giờ hết.

Khai thác quá mức nguồn tài nguyên đã bắt đầu làm tổn hại đến tự nhiên nhƣ đa dạng sinh học, không khí sạch, nƣớc sạch và đất canh tác, một xu hƣớng đe dọa tính bền vững của phát triển. Để giúp chính phủ các nƣớc thành viên đạt đƣợc khả năng áp dụng lớn hơn, IAEA đã phát triển một phƣơng pháp mới để mô hình hóa các tƣơng tác phức tạp này gọi là CLEWS (Chiến lƣợc khí hậu, sử dụng đất, năng lƣợng và nƣớc) cho phép phân tích đồng thời và gắn kết tất cả các lĩnh vực này. Thứ hai, cơ hội sử dụng nƣớc đủ, an toàn ngày càng tăng có thể đƣợc thực hiện thông qua các kỹ thuật hạt nhân. Kỹ thuật này giúp chỉ ra các nguồn nƣớc ngầm với chi phí thấp và nhanh hơn bất kỳ phƣơng pháp nào khác.

Kỹ thuật hạt nhân cũng nâng cao hiệu quả của hệ thống thủy lợi, sử dụng 70% tất cả các nguồn nƣớc ngọt. Thứ ba, cơ hội sử dụng năng lƣợng giá rẻ trực tiếp cải thiện phúc lợi của con ngƣời. Dự báo hiện nay cho thấy nhu cầu điện tăng tới 60 đến 100% vào năm 2030. Là một nguồn năng lƣợng carbon thấp, điện nguyên tử có thể giảm tối đa phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính và giảm thiểu các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.

IAEA giúp các nƣớc đang sử dụng hoặc đƣa vào điện nguyên tử thực hiện một cách an toàn, an ninh, kinh tế và bền vững. Các tiêu chuẩn an toàn, sự hỗ trợ và các đánh giá của IAEA đang làm tăng tính an toàn cho lĩnh vực này. IAEA cũng xác minh năng lƣợng nguyên tử chỉ đƣợc sử dụng cho mục đích hòa bình, trực tiếp góp phần vào hòa bình và an ninh. Thứ tƣ, cơ hội sử dụng nguồn lƣơng thực bền vững sẽ vẫn là một thách thức lớn trong những thập kỷ tới.

Dựa trên thực tế và tiêu thụ hiện nay, sản xuất nông nghiệp sẽ phải tăng khoảng 70% vào năm 2050 để đáp ứng nhu cầu [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ