Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài “Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của Thái Lan, Indonesia và hàm ý chính sách đối với Việt Nam” do nghiên cứu sinh Bùi Thị Hạnh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Tô Thị Ánh Dương và PGS.TS. Tô Kim Ngọc, hoàn thành và bảo vệ năm 2021 thuộc chuyên ngành Kinh tế Quốc tế (mã số: 9.06).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận cốt lõi trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng và lãi suất để thực hiện các mục tiêu ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm. Thực tiễn điều hành tại Việt Nam trước năm 2012 cho thấy việc theo đuổi CSTT đa mục tiêu và ưu tiên tăng trưởng hơn kiểm soát lạm phát đã dẫn đến tình trạng bất ổn định kinh tế vĩ mô. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) được trích dẫn trong luận án, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2008 lên mức 23,11%, năm 2009 giảm xuống 7,05%, năm 2011 tăng vọt lên 18,67%, các năm còn lại dao động quanh mức 9%. Nhằm ứng phó với tình hình này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.

Trong giai đoạn 2012–2020, kiểm soát lạm phát được chú trọng giúp tỷ lệ lạm phát giảm liên tục (năm 2015 đạt mức 0,87% - thấp nhất trong 16 năm; giai đoạn 2016–2020 duy trì dưới 3,6%). Mặc dù đạt được những chuyển biến nhất định, hoạt động điều hành CSTT của Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:

  • Cơ chế truyền tải giữa hệ thống các mục tiêu chưa rõ ràng;
  • Mục tiêu điều hành vẫn kết hợp giữa khối lượng (M2) và giá cả (lãi suất) khiến Ngân hàng Nhà nước gặp khó khăn khi theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu;
  • Tồn tại các biện pháp hành chính như giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, trần lãi suất huy động ngắn hạn bằng VND, trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với 5 lĩnh vực ưu tiên;
  • Các mức lãi suất điều hành (lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn) ít tác động đến lãi suất thị trường liên ngân hàng.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp (đại dịch Covid-19, các gói kích cầu lớn, chính sách nới lỏng tiền tệ của các nước lớn, rủi ro biến động dòng vốn, giá dầu, giá vàng và tỷ giá USD), yêu cầu đặt ra là xác định cơ chế điều hành phù hợp cho Việt Nam. Thái Lan và Indonesia là hai quốc gia thành viên ASEAN có trình độ phát triển, môi trường kinh tế tương đồng với Việt Nam, từng gánh chịu khủng hoảng tài chính châu Á 1997–1998 nhưng đã cải cách thành công sang khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu (Inflation Targeting - IT). Do đó, nghiên cứu kinh nghiệm của hai quốc gia này nhằm rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu kinh nghiệm điều hành CSTT của Thái Lan và Indonesia, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách đối với Việt Nam trong hoạt động điều hành CSTT.
  • Câu hỏi nghiên cứu được cụ thể hóa bằng ba câu hỏi:
    1. Cách thức và kết quả điều hành CSTT của Thái Lan, Indonesia giai đoạn 1999 đến năm 2020 như thế nào? Những kinh nghiệm điều hành CSTT nào được rút ra cho Việt Nam?
    2. Thực trạng điều hành CSTT ở Việt Nam giai đoạn 2009 đến năm 2020 như thế nào? Có những vấn đề gì cần đặt ra?
    3. Những hàm ý chính sách nào cho Việt Nam từ thực tiễn điều hành CSTT của Việt Nam và từ kinh nghiệm điều hành CSTT của Thái Lan, Indonesia?
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về CSTT và kinh nghiệm điều hành CSTT của Thái Lan, Indonesia để xác định khoảng trống nghiên cứu.
    2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về điều hành CSTT.
    3. Nghiên cứu các hoạt động điều hành CSTT (xác định mục tiêu, sử dụng công cụ, lựa chọn kênh truyền dẫn, tổ chức điều hành) của Thái Lan và Indonesia giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính châu Á (1997–1998) đến năm 2020.
    4. Khái quát và đánh giá thực trạng điều hành CSTT của Việt Nam giai đoạn 2009–2020.
    5. So sánh hoạt động điều hành CSTT của Thái Lan, Indonesia và Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm.
    6. Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành CSTT của Việt Nam với tầm nhìn đến năm 2030.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kinh nghiệm điều hành CSTT của Thái Lan, Indonesia và thực tiễn điều hành CSTT tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Các hoạt động của cơ quan quản lý tiền tệ trong việc thực hiện nhiệm vụ điều hành CSTT và rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Thái Lan, Indonesia và Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu Thái Lan từ tháng 5/2000 và Indonesia từ tháng 5/1999 (thời điểm hai nước bắt đầu áp dụng CSTT lạm phát mục tiêu) đến năm 2020; thực trạng điều hành CSTT của Việt Nam được phân tích sâu trong giai đoạn 2009–2020; các đề xuất chính sách có tầm nhìn đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm chủ đề cụ thể:

Nhóm chủ đề nghiên cứu Các công trình và tác giả tiêu biểu được tổng quan
Điều hành CSTT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Phạm Thị Thư và cộng sự (2010): Phân tích tác động của việc gia nhập WTO tới CSTT Việt Nam.
- Marvin Goodfriend (2010): Phân định ranh giới trách nhiệm giữa CSTT, chính sách tín dụng và ổn định tài chính.
- Duvvuri Subbarao (2010): Đánh giá việc tái định hình chức năng của NHTW sau khủng hoảng.
- Steven Kamin (2010), Michael Devereux & Alan Sutherland (2008), Michael Woodford (2007): Nghiên cứu tác động của toàn cầu hóa tài chính và các cú sốc bên ngoài đối với quyền tự chủ tiền tệ.
Hiệu quả của chính sách tiền tệ - Philip Arestis & Malcolm Sawyer: Tương quan giữa CSTT và chính sách tài khóa, sự dịch chuyển từ kiểm soát cung tiền sang lãi suất.
- Andrew Filardo, Jacopo Lombardi & Carlos Montoro (2018): Sử dụng mô hình DSGE đa quốc gia để phân tích các cú sốc cung - cầu và vai trò của lạm phát lõi.
- Nguyễn Trần Xuân Linh (2021), Nguyễn Thị Như Quỳnh (2020), Mai Thị Phương Thúy (2019): Nghiên cứu tác động của CSTT và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính, rủi ro vỡ nợ và khả năng thanh toán của các NHTM Việt Nam.
Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ - Phạm Thị Hà An (2020): Phân tích kênh tín dụng dưới tác động của năng lực cạnh tranh ngân hàng tại Việt Nam.
- Vũ Mai Chi (2019): Đánh giá điều hành CSTT theo mục tiêu lãi suất và độ trễ truyền dẫn.
- Bùi Quốc Dũng, Nguyễn Đức Trung & Hoàng Việt Phương (2017): Sử dụng mô hình VAR và DSGE đánh giá hiệu quả kênh lãi suất.
- Chu Khánh Lân (2013): Nghiên cứu thực nghiệm về vai trò khuếch đại của kênh tín dụng tại Việt Nam.
- Georgy Ganev, Krisztina Molnar & Krzysztof Rybinski: Khảo sát kênh tỷ giá tại 10 nền kinh tế chuyển đổi Trung và Đông Âu.
Các công cụ của chính sách tiền tệ - Hoàng Thị Hồng Hạnh & Đào Thị Minh Thanh (2017): Tổng quan công cụ CSTT phi truyền thống và khả năng áp dụng tại Việt Nam.
- Đoàn Phương Thảo, Ngô Thanh Xuân & Lê Công Hội (2017), Đoàn Phương Thảo (2011): Đánh giá hiệu lực của nghiệp vụ thị trường mở (OMO) tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu - Andrew Filardo & Hans Genberg (2012), Robert Rasche & Marcela Williams (2005), Laurence Ball & Niamh Sheridan (2010), Frederic S. Mishkin & Klaus Schmidt-Hebbel (2007), Marco Vega & Winkelried (2005), Carvalho Filho (2010): Nghiên cứu hiệu quả kiểm soát lạm phát, ổn định sản lượng và ứng phó khủng hoảng của cơ chế IT.
- Nguyễn Thị Hiền (2015), Khuất Duy Tuấn (2012), Võ Trí Thành và cộng sự (2015), Tô Thị Ánh Dương và cộng sự (2012), Tô Thị Ánh Dương (2015): Phân tích điều kiện, cơ sở lý luận của lạm phát mục tiêu truyền thống và linh hoạt, xây dựng lộ trình áp dụng tại Việt Nam.
Điều hành CSTT của Thái Lan và Indonesia - Charoenseang & Pornkamol Manakit (2006), Piti Disyatat, Pinnarat & Vongsinsirikul (2003), Miranda Goeltom (2008), Akihiro Kubo (2008), Don Nakornthab (2009), ADB (2010), Moenjak, Imudom & Vimolchalao (2004), Inoue Toyoshima & Hamori (2012), Siregar & Goo (2010), Halim Alamsyah, Charles Joseph, Juda Agung & Doddy Zulverdy (2011).
- Tại Việt Nam: Phan Nữ Thanh Thủy (2007), Lê Văn Hải (2013), Hoàng Thị Lan Hương (2013), Lê Quốc Lý (2013), Nguyễn Văn Hà (2015).

Các kết quả luận án kế thừa

Từ việc tổng quan tài liệu, tác giả kế thừa 5 luận điểm khoa học chính:

  1. Các điều kiện tài chính trong nước chịu ảnh hưởng lớn từ các cú sốc bên ngoài; ngoài kiểm soát lạm phát, NHTW cần tăng cường giám sát an toàn hệ thống và ổn định tài chính.
  2. CSTT chỉ có tác động đến sản lượng trong ngắn hạn (khoảng 9–18 tháng) và không có sự đánh đổi lâu dài giữa sản lượng và lạm phát trong dài hạn.
  3. Xu hướng điều hành hiện đại chuyển dịch từ kiểm soát cung tiền sang thiết lập lãi suất làm công cụ chủ chốt; vai trò kênh tín dụng giảm dần nhường chỗ cho kênh lãi suất và tỷ giá.
  4. Công cụ CSTT phi truyền thống có thể được cân nhắc sử dụng có điều kiện trong các giai đoạn suy thoái kinh tế bất thường.
  5. Khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu là xu thế phổ biến được áp dụng rộng rãi tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Khoảng trống nghiên cứu

  • Về lý luận: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc tiếp cận khái niệm CSTT theo các yếu tố kỹ thuật của khung chính sách (mục tiêu, công cụ, kênh truyền dẫn) mà chưa bao quát đầy đủ khái niệm "điều hành CSTT" gắn với bộ máy tổ chức, phân quyền, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch. Hệ thống các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành cũng chưa được hệ thống hóa toàn diện.
  • Về thực tiễn: Chưa có công trình khoa học nào tại Việt Nam nghiên cứu độc lập, chuyên sâu và có hệ thống đồng thời về toàn bộ quá trình điều hành CSTT của cả Thái Lan và Indonesia từ khi áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu đến năm 2020. Các nghiên cứu trước đó còn rời rạc, chưa cập nhật bối cảnh kinh tế mới và chưa xây dựng các hàm ý chính sách có tính hệ thống cho Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các lý thuyết kinh tế vĩ mô kinh điển và hiện đại:

  1. Mô hình Mundell – Fleming (Fleming 1962; Mundell 1963): Mở rộng từ mô hình IS-LM cho nền kinh tế mở, xác định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa, lãi suất và sản lượng. Mô hình dẫn xuất nguyên lý "Bộ ba bất khả thi" (The Impossible Trinity), chỉ ra rằng một quốc gia không thể đồng thời thực hiện ba mục tiêu: tỷ giá cố định, tự do hóa dòng vốn và CSTT độc lập, mà chỉ có thể chọn một trong ba cặp kết hợp:
    • Tỷ giá hối đoái cố định và dòng vốn tự do;
    • Chính sách tiền tệ độc lập và dòng vốn tự do;
    • Tỷ giá hối đoái cố định và chính sách tiền tệ độc lập.
  2. Lý thuyết tiền tệ của Milton Friedman (1948): Nhấn mạnh vai trò của CSTT, khẳng định sự thay đổi trong mức cung tiền ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng thực tế trong ngắn hạn và quyết định mức giá cả chung trong dài hạn.
  3. Khung nguyên lý điều hành tiền tệ của Frederic S. Mishkin và Miguel A. Savastano (2000): Đúc kết 6 nguyên lý cốt lõi:
    • (1) Không có sự đánh đổi lâu dài giữa sản lượng/việc làm và lạm phát;
    • (2) Kỳ vọng đóng vai trò quyết định đối với kết quả CSTT;
    • (3) Lạm phát tạo ra chi phí lớn cho nền kinh tế;
    • (4) Độ trễ thời gian là thuộc tính cố hữu của CSTT;
    • (5) Tính độc lập của NHTW có tương quan thuận với hiệu quả CSTT;
    • (6) Neo danh nghĩa vững chắc là điều kiện then chốt để đạt kết quả điều hành tốt.

Khái niệm và nội dung điều hành chính sách tiền tệ

  • Khái niệm: Điều hành CSTT được luận án xác định là tổng thể các hoạt động hướng dẫn, điều tiết của NHTW trong việc thiết lập hệ thống mục tiêu, lựa chọn công cụ, lựa chọn kênh truyền dẫn, thiết lập quy trình và tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu tiền tệ và mục tiêu kinh tế vĩ mô.
  • Trạng thái điều hành: Gồm CSTT mở rộng (nới lỏng tiền tệ nhằm tăng tổng cầu, hỗ trợ sản lượng qua việc hạ lãi suất, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mua giấy tờ có giá trên OMO) và CSTT thắt chặt (thu hẹp tiền tệ, kiểm soát lạm phát qua việc tăng lãi suất, tăng dự trữ bắt buộc, bán giấy tờ có giá).
  • Hệ thống công cụ điều hành: Dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn (lãi suất chiết khấu/tái chiết khấu), lãi suất tín dụng và nghiệp vụ thị trường mở (OMO với các hình thức Repo, Swap ngoại tệ, bán tín phiếu sơ cấp).
  • Hệ thống 4 kênh truyền dẫn:
    • Kênh lãi suất (Keynes; Mishkin): Thay đổi cung tiền tác động lên lãi suất thực, qua đó điều chỉnh chi phí vốn, đầu tư và tiêu dùng, tác động đến tổng cầu và sản lượng ($MS \downarrow \rightarrow i \uparrow \rightarrow I+C \downarrow \rightarrow Y \downarrow$).
    • Kênh tín dụng (Bernanke & Gertler): Bao gồm kênh cho vay ngân hàng (Bank lending channel) và kênh bảng cân đối kế toán (Balance sheet channel).
    • Kênh giá tài sản: Tác động qua giá cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và hiệu ứng của cải của hộ gia đình ($MS \uparrow \rightarrow Pe \uparrow \rightarrow W \uparrow \rightarrow C \uparrow \rightarrow Y \uparrow$).
    • Kênh tỷ giá: Tác động trực tiếp qua giá hàng hóa nhập khẩu và tác động gián tiếp thông qua chuyển dịch dòng vốn đầu tư quốc tế và xuất nhập khẩu ròng.
  • Các khuôn khổ CSTT: Khuôn khổ neo tỷ giá hối đoái, khuôn khổ neo mức cung tiền (M2) và khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu (Inflation Targeting - IT).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận định tính từ góc độ chuyên ngành Kinh tế Quốc tế.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 để khái quát tài liệu, xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết lập khung lý luận điều hành CSTT.
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp kinh nghiệm, so sánh và thống kê mô tả: Sử dụng tại Chương 3, Chương 4 và Chương 5 để phân tích thực tiễn của Thái Lan, Indonesia và Việt Nam, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính; cổng thông tin điện tử của Ngân hàng Trung ương Thái Lan (Bank of Thailand), Ngân hàng Trung ương Indonesia (Bank Indonesia); các tổ chức quốc tế gồm IMF, WB, ADB; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về điều hành chính sách tiền tệ

Chương 1 tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến 6 nhóm nội dung: hội nhập kinh tế quốc tế, hiệu quả CSTT, cơ chế truyền dẫn, công cụ điều hành, khuôn khổ lạm phát mục tiêu và kinh nghiệm điều hành của Thái Lan, Indonesia. Chương này làm rõ các kết quả kế thừa về mặt học thuật và xác định khoảng trống nghiên cứu về việc thiếu vắng công trình phân tích hệ thống, so sánh toàn diện kinh nghiệm điều hành tiền tệ của hai nước ASEAN để đề xuất hàm ý cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chương 2: Cơ sở lý luận về điều hành chính sách tiền tệ

Chương 2 hoàn thiện khung lý luận về điều hành CSTT. Tác giả phân tích các định nghĩa CSTT từ các nhà kinh tế (Harry Johnson, Frederic S. Mishkin, Nguyễn Văn Tiến), các NHTW (FED, ECB) và pháp luật Việt Nam (Luật NHNN 1997, Luật NHNN 2010). Chương này phân tích chi tiết:

  • 4 nội dung điều hành: thiết lập hệ thống mục tiêu, lựa chọn công cụ, lựa chọn kênh truyền dẫn, tổ chức bộ máy thực thi;
  • Cơ chế vận hành của 4 kênh truyền tải chính sách (lãi suất, tín dụng, giá tài sản, tỷ giá);
  • 3 khuôn khổ điều hành CSTT cơ bản (neo tỷ giá, neo cung tiền, lạm phát mục tiêu);
  • Hệ thống các nhân tố chủ quan (khuôn khổ CSTT, tính độc lập của NHTW, năng lực dự báo, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình) và nhân tố khách quan (độ mở kinh tế, cấu trúc thị trường tài chính, các cú sốc bên ngoài) tác động đến hiệu quả điều hành CSTT.

Chương 3: Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của Thái Lan và Indonesia

Chương 3 khảo sát thực tiễn điều hành CSTT của Thái Lan và Indonesia qua hai giai đoạn: trước và sau khi áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu (từ năm 1999–2000 đến 2020).

  • Thái Lan: Bank of Thailand (BOT) chuyển đổi sang lạm phát mục tiêu từ tháng 5/2000 sau khủng hoảng 1997. BOT xác định mục tiêu lạm phát lõi rõ ràng, sử dụng lãi suất thị trường mua lại (Repo rate 14 ngày, sau đó là Repo 1 ngày) làm lãi suất điều hành chính, vận hành kênh lãi suất làm kênh truyền dẫn chủ đạo kết hợp tỷ giá thả nổi có điều tiết.
  • Indonesia: Bank Indonesia (BI) chính thức thực hiện IT từ tháng 5/1999 (theo Luật số 23/1999) và hoàn thiện khuôn khổ IT đầy đủ từ năm 2005. BI công bố mục tiêu CPI, sử dụng lãi suất điều hành BI Rate (sau đó đổi thành BI 7-day Reverse Repo Rate), nâng cao tính độc lập của NHTW và minh bạch hóa thông tin điều hành.
  • Chương này phân tích kết quả đạt được về kiểm soát lạm phát, ổn định tăng trưởng, đồng thời chỉ ra các thách thức, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quá trình điều hành của hai quốc gia.

Chương 4: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Chương 4 đánh giá toàn diện hoạt động điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2009–2020 trên các mặt:

  • Xây dựng mục tiêu: Chuyển biến từ điều hành đa mục tiêu sang ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô từ sau Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011.
  • Sử dụng công cụ: Từng bước kết hợp giữa công cụ gián tiếp (nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, lãi suất điều hành) và duy trì các công cụ trực tiếp (hạn mức tín dụng, trần lãi suất huy động và cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên).
  • Kênh truyền dẫn: Phân tích thực trạng vận hành của kênh tín dụng, kênh lãi suất, kênh tỷ giá và kênh giá tài sản tại thị trường Việt Nam.
  • Đánh giá kết quả và hạn chế: Làm rõ những thành tựu trong kiểm soát lạm phát (2012–2020 duy trì ở mức thấp, năm 2015 là 0,87%), ổn định tỷ giá; đồng thời chỉ rõ hạn chế về tính minh bạch, sự phụ thuộc vào chỉ tiêu hành chính, sự kém liên thông giữa lãi suất điều hành và lãi suất liên ngân hàng, cùng nguyên nhân từ thể chế và cấu trúc thị trường tài chính.

Chương 5: Bài học kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của Thái Lan, Indonesia và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Chương 5 tổng kết các bài học kinh nghiệm từ Thái Lan và Indonesia về xác định mục tiêu ưu tiên, chuyển đổi cơ chế điều hành theo giá (lãi suất), phát triển thị trường tiền tệ, nâng cao tính độc lập và trách nhiệm giải trình của NHTW. Dựa trên phân tích bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế, tác giả đề xuất các nhóm hàm ý chính sách cho Việt Nam với tầm nhìn đến năm 2030 nhằm từng bước hoàn thiện các điều kiện chuyển đổi sang khuôn khổ CSTT hiện đại, nâng cao hiệu lực truyền dẫn chính sách và kiểm soát lạm phát bền vững.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và bổ sung khung lý luận về điều hành CSTT: Tiếp cận điều hành CSTT là một tổng thể thống nhất, không chỉ giới hạn ở việc xây dựng khung kỹ thuật (xác định mục tiêu, lựa chọn công cụ, cơ chế truyền dẫn) mà bao gồm cả cấu trúc tổ chức bộ máy, cơ chế phân quyền, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của NHTW.
  • Bổ sung và làm rõ hệ thống các nhân tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều hành CSTT trong bối cảnh nền kinh tế mở và hội nhập tài chính quốc tế.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá có hệ thống kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong tiến trình điều hành CSTT của Thái Lan và Indonesia trong suốt giai đoạn 1999/2000–2020 khi hai nước thực thi khuôn khổ lạm phát mục tiêu.
  • Đánh giá thực trạng điều hành CSTT của Việt Nam giai đoạn 2009–2020, chỉ ra các nút thắt trong cơ chế truyền tải và sử dụng công cụ.
  • Làm rõ cơ sở khoa học để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm từ Thái Lan và Indonesia; xây dựng hệ thống hàm ý chính sách có tính khả thi đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả điều hành CSTT đến năm 2030.

Định hướng giải pháp đề xuất

  • Xác lập lộ trình chuyển đổi phương thức điều hành từ kiểm soát khối lượng (M2, hạn mức tín dụng) sang điều hành theo giá (lãi suất mục tiêu ngắn hạn).
  • Hoàn thiện hệ thống công cụ thị trường gián tiếp, từng bước dỡ bỏ các biện pháp can thiệp hành chính trực tiếp khi thị trường đủ điều kiện.
  • Tăng cường hiệu lực của kênh truyền dẫn lãi suất và tỷ giá thông qua việc nâng cao tính liên thông của thị trường tiền tệ và thị trường liên ngân hàng.
  • Nâng cao năng lực phân tích, mô hình hóa dự báo kinh tế vĩ mô và lạm phát của cơ quan quản lý tiền tệ.
  • Cải thiện mức độ độc lập hoạt động, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Ngân hàng Nhà nước trong việc công bố và thực thi các mục tiêu CSTT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Nguồn dữ liệu nghiên cứu chủ yếu dựa trên các số liệu thứ cấp và các báo cáo định kỳ của các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính quốc tế; chưa kết hợp khảo sát sơ cấp trên diện rộng đối với các tổ chức tín dụng.
  • Nghiên cứu tập trung vào hai trường hợp điển hình trong khối ASEAN là Thái Lan và Indonesia, chưa mở rộng so sánh đa biến với toàn bộ các nền kinh tế mới nổi khác trong khu vực.
  • Phạm vi dữ liệu phân tích thực nghiệm dừng lại ở mốc năm 2020, chưa bao quát toàn diện các diễn biến phục hồi kinh tế vĩ mô và điều chỉnh chính sách tiền tệ trong giai đoạn hậu Covid-19 sau năm 2020.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu cập nhật dữ liệu điều hành CSTT của Việt Nam và các nước ASEAN giai đoạn sau năm 2020 trong bối cảnh biến động kinh tế và áp lực lạm phát toàn cầu mới.
  • Ứng dụng các mô hình định lượng kinh tế lượng chuỗi thời gian hoặc mô hình cân bằng tổng thể ngẫu nhiên động (DSGE) để lượng hóa cụ thể mức độ tác động và độ trễ của các kênh truyền dẫn lãi suất và tỷ giá tại Việt Nam khi có sự thay đổi khuôn khổ điều hành.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính): Cung cấp cơ sở thực tiễn và bài học quốc tế phục vụ công tác xây dựng lộ trình hiện đại hóa CSTT, hoàn thiện công cụ thị trường mở và nâng cao hiệu quả truyền tải lãi suất tại Việt Nam.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Kinh tế Quốc tế, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp nguồn tài liệu hệ thống về lý thuyết tiền tệ trong nền kinh tế mở (mô hình Mundell - Fleming, các kênh truyền dẫn của Mishkin, cơ chế lạm phát mục tiêu) và tổng quan các công trình nghiên cứu chuyên sâu về CSTT trong khu vực ASEAN.
  • Các chuyên gia phân tích tại các định chế tài chính, ngân hàng thương mại: Hỗ trợ nhận diện khung phân tích điều hành chính sách, cơ chế phản ứng chính sách của NHTW trước các cú sốc vĩ mô và xu hướng dịch chuyển công cụ quản lý tiền tệ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án vận dụng mô hình Mundell – Fleming và nguyên lý "Bộ ba bất khả thi" như thế nào?

Luận án sử dụng mô hình Mundell – Fleming để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tỷ giá, lãi suất và sản lượng trong nền kinh tế mở. Theo nguyên lý "Bộ ba bất khả thi", một quốc gia không thể duy trì đồng thời tỷ giá cố định, tự do luân chuyển vốn và CSTT độc lập. Khi các nước như Thái Lan, Indonesia và Việt Nam mở cửa tài chính, việc chuyển dịch sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn là điều kiện bắt buộc để duy trì tính độc lập của CSTT nhằm kiểm soát lạm phát trong nước.

2. Bốn kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ được luận án phân tích gồm những kênh nào?

Luận án hệ thống hóa 4 kênh truyền dẫn:

  1. Kênh lãi suất: NHTW thay đổi lãi suất điều hành tác động đến lãi suất thực, từ đó ảnh hưởng đến chi phí vay vốn, quyết định đầu tư của doanh nghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình.
  2. Kênh tín dụng: Hoạt động qua kênh cho vay ngân hàng (quy mô cung tín dụng) và kênh bảng cân đối kế toán (giá trị tài sản ròng và tài sản thế chấp của bên đi vay).
  3. Kênh giá tài sản: Tác động qua giá chứng khoán, bất động sản và hiệu ứng của cải của người tiêu dùng.
  4. Kênh tỷ giá: Tác động trực tiếp qua giá hàng nhập khẩu và gián tiếp qua dòng vốn luân chuyển, năng lực cạnh tranh và cán cân xuất nhập khẩu.

3. Vì sao luận án chọn Thái Lan và Indonesia để nghiên cứu so sánh kinh nghiệm cho Việt Nam?

Thái Lan và Indonesia là hai quốc gia thành viên ASEAN có trình độ phát triển và môi trường kinh tế vĩ mô tương đồng với Việt Nam. Cả hai nước đều từng gánh chịu hậu quả nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997–1998 do cơ chế điều hành tiền tệ cũ không còn phù hợp, nhưng sau đó đã cải cách thành công sang khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu (Indonesia từ tháng 5/1999, Thái Lan từ tháng 5/2000), giúp ổn định lạm phát và phục hồi tăng trưởng kinh tế bền vững.

4. Luận án đánh giá những hạn chế nổi bật nào trong điều hành CSTT của Việt Nam giai đoạn 2009–2020?

Các hạn chế chính gồm: cơ chế truyền tải giữa hệ thống các mục tiêu chưa rõ ràng; mục tiêu điều hành còn kết hợp giữa khối lượng (M2) và lãi suất; còn phụ thuộc vào các công cụ hành chính trực tiếp (hạn mức tín dụng, trần lãi suất huy động và cho vay); các mức lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước chưa có tác động dẫn dắt mạnh mẽ đến lãi suất thị trường liên ngân hàng do thị trường liên ngân hàng chịu chi phối lớn bởi thanh khoản cục bộ của các NHTM.

5. Khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu (IT) gồm những yếu tố cấu thành nào theo luận án?

Theo phân tích trong luận án, khuôn khổ IT gồm 4 yếu tố cốt lõi:

  1. Ổn định giá cả/kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và được ưu tiên rõ ràng so với các mục tiêu khác;
  2. Lạm phát mục tiêu được xác định định lượng cụ thể bằng một con số hoặc biên độ dao động trong trung hạn dựa trên mô hình dự báo;
  3. Có lộ trình và khoảng thời gian xác định để đạt được mức lạm phát mục tiêu;
  4. Đánh giá việc thực hiện mục tiêu gắn với tính minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của NHTW trước công chúng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Hạnh là công trình nghiên cứu hệ thống về hoạt động điều hành chính sách tiền tệ tại Thái Lan, Indonesia và Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích tổng hợp lý luận và so sánh thực tiễn, luận án đã làm rõ tiến trình chuyển đổi sang khuôn khổ lạm phát mục tiêu của hai nước ASEAN sau khủng hoảng tài chính 1997–1998. Các kết quả nghiên cứu chỉ ra thực trạng, thành tựu và những điểm nghẽn trong cơ chế truyền tải tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2009–2020, từ đó đề xuất hệ thống hàm ý chính sách có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đến năm 2030.