Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về điều hành chính sách tiền tệ Chương 2: Cơ sở lý luận về điều hành chính sách tiền tệ Chương 3: Kinh nghiệm điều hành chính sách tiền tệ của Thái Lan và Indonesia Chương 4: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam Chương 5: Hàm ý chính sách về điều hành chính sách tiền tệ đối với Việt Nam. Quy trình nghiên cứu của luận án được thể hiện trong Hình 1 sau. 9 Luận văn tiến sĩ Hình 1: Quy trình nghiên cứu của luận án Tổng quan các nghiên cứu về điều hành chính sách tiền tệ Kinh nghiệm điều hành CSTT của Thái Lan, Indonesia - Hàm ý chính sách đối với Việt Nam Cơ sở lý luận về điều hành về chính sách tiền tệ Điều hành chính sách tiền tệ Nhân tố ảnh hưởng Lựa Lựa Lựa Tổ Các Các chọn chọn chọn chức nhân nhân các công kênh hoạt tố chủ tố mục cụ truyền động quan khách tiêu CSTT dẫn điều quan Bài học CSTT CSTT hành kinh nghiệm về điều Hàm Kinh nghiệm điều hành CSTT của Thái Lan và Indonesia hành ý CSTT chính sách Khái quát nền Tiến trình điều CSTT từ khi áp trong kinh tế vĩ mô hành CSTT dụng CSTT lạm Thành điều phát mục tiêu tựu và hành hạn CSTT chế trong Thực trạng điều hành về chính sách tiền tệ của Việt Nam điều hành CSTT Bối cảnh điều hành CSTT (Nguồn: Tác giả xây dựng) 10 Luận văn tiến sĩ Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Trong việc điều hành chính sách tiền tệ (CSTT), các quốc gia luôn có sự điều chỉnh những nội dung điều hành trong các giai đoạn lịch sử nhất định để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của Quốc gia đó. Chính vì vậy, những nghiên cứu về CSTT cũng khá phong phú, đa dạng về những góc độ khác nhau của CSTT.
Có nhiều nghiên cứu về tổng thể CSTT hoặc nghiên cứu về một hay một số nội dung cụ thể của CSTT. Trong phần này, tác giả khái quát các nghiên cứu đáng chú ý trong và ngoài nước về CSTT, từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu của luận án. Các nghiên cứu về điều hành chính sách tiền tệ 1. Nghiên cứu về điều hành chính sách tiền tệ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế CSTT là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô, do vậy, việc điều hành CSTT bị ảnh hưởng rất lớn bởi bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, CSTT cần có sự điều hành phù hợp. Trong khoảng 15 năm trở lại đây, có một số nghiên cứu điển hình về việc xây dựng, điều hành, thực thi CSTT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Các nghiên cứu đó đã có những đóng góp nhất định trong cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạt động điều hành CSTT, cụ thể. Phạm Thị Thư và các cộng sự (2010) trong đề tài “CSTT của Việt Nam sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới” [67] tập trung làm rõ tác động của quá trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đối với phương thức điều hành CSTT ở Việt Nam.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để chỉ ra những sự kiện và những phản ứng CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO đồng thời đưa ra các dự báo trong điều hành CSTT của Việt Nam. Tuy vậy, nghiên cứu chưa phân tích, đánh giá các nội dung điều hành CSTT của Việt Nam theo các nội dung điều hành mà chỉ dừng lại ở việc mô tả và bình luận các phản ứng chính sách theo giai đoạn. Kết quả nghiên cứu này có tính thời sự đến năm 2010, với bối cảnh kinh tế hiện nay, một số kết quả nghiên cứu không còn phù hợp để ứng dụng trong điều hành CSTT. Trong bài viết “Clarifying Central Bank Responsibilities for Monetary Policy, Credit Policy, and Financial Stability” của mình, Marvin Goodfriend (2010) 11 Luận văn tiến sĩ [103] xem xét các lý do cho tính độc lập của CSTT, phác thảo các khía cạnh chính sách tín dụng và đề nghị làm rõ ranh giới trách nhiệm cho mỗi chính sách.
Nhưng trong nghiên cứu “Redefining Central Banking”, Duvvuri Subbarao (2010) [133] lại đặt ra một loạt vấn đề liên quan đến chức năng của NHTW, cụ thể là: Trước khủng hoảng, NHTW chỉ chú trọng đến mục tiêu kiềm chế lạm phát nhằm đảm bảo tăng trưởng, tạo việc làm và ổn định kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, sau khủng hoảng, nhiều ý kiến cho rằng ngoài mục tiêu kiềm chế lạm phát cần phải tăng cường chức năng điều tiết và giám sát hoạt động ngân hàng, ổn định tài chính và ngăn chặn bong bóng giá tài sản. Steven Kamin (2010) [110] trong bài viết “Financial Globalization and Monetary Policy” đã nghiên cứu về tác động của hội nhập tài chính quốc tế tới CSTT. Kết quả nghiên cứu của Kamin đã chỉ ra rằng NHTW của các quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi có khả năng quyết định mức lãi suất ngắn hạn một cách độc lập và vì thế có ảnh hưởng rộng hơn tới các điều kiện về tài chính cũng như diễn biến kinh tế vĩ mô của quốc gia đó.
Tuy nhiên, các điều kiện tài chính trong nước lại dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc từ bên ngoài, gây khó khăn cho việc đưa ra các quyết định phù hợp của nhà hoạch định CSTT. Do vậy, những diễn biến trong hội nhập kinh tế tài chính quốc tế đã có tác động nhất định tới điều hành CSTT. "Financial globalization and monetary policy", Michael Devereux, Alan Sutherland (2008) [87] và “Globalization and Monetary Control” của Michael Woodford (2007) [141] đã nghiên cứu về tác động của hội nhập kinh tế đến CSTT đã chỉ ra rằng hội nhập có thể làm phức tạp và thậm chí là hạn chế khả năng CSTT có thể đạt được mục tiêu của mình theo rất nhiều cách. Nghiên cứu về hiệu quả chính sách tiền tệ Trong bài viết “On the Effectiveness of Monetary Policy and Fiscal Policy”, Philip Arestis và Malcolm Sawyer [76] đã chỉ ra rằng trong khuôn khổ chính sách kinh tế vĩ mô có sự thay đổi lớn trong mối tương quan giữa vai trò của CSTT và chính sách tài khóa trong việc thực hiện mục tiêu của nền kinh tế.
CSTT không còn tập trung vào nỗ lực kiểm soát mức cung tiền như đã làm trong nửa đầu thập niên 1980, mà thay vào đó tập trung vào việc thiết lập lãi suất là công cụ chính sách chủ chốt của CSTT. Nghiên cứu “Monetary policy spillovers, global commodity prices and cooperation" của Andrew Filardo, Jacopo Lombardi và Carlos Montoro (2018) [94] dựa trên mô hình đa quốc gia DSGE (multi-country DSGE model) để đưa ra những 12 Luận văn tiến sĩ nhân tố tác động làm sai lệch các quyết định CSTT trong việc kiểm soát giá cả hàng hóa. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: (i) hiệu quả điều hành CSTT sẽ tốt hơn nếu có thể xác định chính xác nguồn gốc của các cú sốc, tức là các cú sốc cung và cú sốc cầu tác động đến giá cả hàng hóa; (ii) Khi các cú sốc cung và cầu khó xác định, để hạn chế việc giảm hiệu quả của CSTT cần nhằm vào lạm phát lõi. Các nghiên cứu trong nước những năm gần đây về nội dung này của CSTT có: Luận án tiến sĩ “Tác động của CSTT và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính: Nghiên cứu tại các nước có nền kinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới” của tác giả Nguyễn Trần Xuân Linh (2021) [22], luận án tiến sĩ “Tác động của CSTT và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định ngân hàng tại Việt Nam” của Nguyễn Thị Như Quỳnh (2020) [56] và luận án tiến sĩ “Tác động của CSTT đến rủi ro mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Mai Thị Phương Thúy (2019) [65].
Trong các nghiên cứu trên, cả ba tác giả đều sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng để nghiên cứu tác động của CSTT đến việc ổn định tài chính của quốc gia theo các góc độ khác nhau. Nguyễn Trần Xuân Linh đã phát hiện lãi suất có tác động ngược chiều đến ổn định tài chính tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới, trong khi tác động của dự trữ bắt buộc đến ổn định tài chính là không rõ ràng. Nguyễn Thị Như Quỳnh dựa trên dữ liệu của 22 ngân hàng thương mại của Việt Nam, bằng phương pháp ước lượng SGMM, kết quả cho thấy khi NHNN tăng cung tiền M2 vào nền kinh tế (nghĩa là NHNN đang thực hiện CSTT mở rộng) hoặc tăng lãi suất tái chiết khấu (thực hiện CSTT thắt chặt), đều làm tăng nợ xấu và rủi ro phá sản ngân hàng. Mai Thị Phương Thúy đóng góp một bằng chứng thực nghiệm quan trọng cho thấy khi ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực thi CSTT mở rộng sẽ góp phần làm giảm rủi ro mất khả năng thanh toán của khu vực NHTM.
Kết quả nghiên cứu của cả ba tác giả đều cho thấy CSTT đều có tác động đến việc ổn định các mặt khác nhau trong hệ thống tài chính quốc gia. Nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ Khi nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn của CSTTT, Phạm Thị Hà An (2020) trong luận án tiễn sĩ “ Tác động truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng dưới ảnh hưởng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” [1] và Vũ Mai Chi (2019) trong luận án tiến sĩ “Điều hành CSTT theo mục tiêu lãi suất ở Việt Nam” [5] cùng cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về tác động của kênh truyền dẫn trong điều 13 Luận văn tiến sĩ hành CSTT ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Hà An khẳng định sự tồn tại tác động truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng tại Việt Nam trong ngắn hạn nhưng không tồn tại trong dài hạn. Năng lực cạnh tranh ngân hàng có tác động quan trọng đến việc truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng.
Việc truyền dẫn là kém hiệu quả hơn khi các ngân hàng có năng lực cạnh tranh cao hơn. Nghiên cứu chỉ ra rằng Việt Nam nên theo dõi chặt chẽ cơ cấu hệ thống ngân hàng không chỉ vì lý do ổn định tài chính, mà còn cho việc truyền dẫn CSTT đáp ứng những mục tiêu quan trọng của NHNN trong các năm tới.