PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển kinh tế luôn là một chủ đề quan trọng, vì nó là vấn đề trung tâm của đời sống kinh tế - xã hội của mỗi nước và cả cộng đồng quốc tế. Đối với các nền kinh tế kém phát triển, con người đang phải đối mặt với tình cảnh thu nhập thấp, đói nghèo, trình độ kỹ thuật lạc hậu, hoạt động ngoại thương chủ yếu theo hướng xuất khẩu tài nguyên, nguyên liệu thô và các sản phẩm thâm dụng lao động,. thì con đường duy nhất để có thể vượt lên những trở ngại trên và thoát ra khỏi khuôn khổ của một quốc gia lạc hậu là thực hiện công cuộc phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, thực tế phát triển kinh tế của thế giới đã cho thấy mức độ thành công của phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển là hoàn toàn khác nhau, đặc biệt, đối với phương thức phát triển kinh tế đạt được trên cơ sở khai thác ồ ạt, lãng phí các nguồn lực sẵn có của các quốc gia như tài nguyên, lao động và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu tài nguyên và những sản phẩm tập trung lao động. Con đường phát triển như thế đã dẫn tới sự trì trệ trong nền kinh tế các nước, trong dài hạn sẽ xuất hiện tình trạng cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, tốc độ tăng năng suất lao động và hiệu quả các nguồn lực thấp, trình độ công nghệ lạc hậu chậm được cải thiện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp. Tóm lại, kiểu phát triên kinh tế này không mang lại những kết quả bền vững. Những bài học kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong những năm qua cũng cho thấy, tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội, đặc biệt là đặc điểm của các nguồn lực mà mỗi nước, trong từng hoản cảnh cụ thể cần lựa chọn cho mình mô hình phát triển kinh tế thích hợp để có thể thành công.
Con đường để khắc phục những hạn chế của phát triển kinh tế dựa vào việc sử dụng ngày càng tăng số lượng các yếu tố nguồn lực là thực hiện phát triển kinh tế bền vững dựa trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nhân tố phát triển thông qua việc nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của nền kinh tế. Phát triển kinh tế bền vững dựa vào những nguồn lực nào, phân bổ các nguồn lực ra sao. Vấn đề phân bổ nguồn lực 1 z cho phát triển kinh tế đã được nghiên cứu bởi tác giả trong và ngoài nước dưới các khía cạnh khác nhau. Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự phát triển của bất kì quốc gia nào, bởi phải có những con người đủ khả năng, trình độ mới khai thác tốt các nguồn lực khác.
Chính vì thế, nhiều nước trên thế giới đã có những chính sách phát triển nguồn nhân lực trong nước và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ các nước khác. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cũng đã cho thấy, để đạt được sự phát triển kinh tế cao và ổn định, cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật, phải đầu tư vào giáo dục – đào tạo; chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao chính là tiền đề thành công của các nền công nghiệp mới ở Châu Á. Các nền công nghiệp hóa mới (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông) và các quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao trong những thập niên 70 – 80 đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học trước khi các nền kinh tế đó cất cánh thành những con rồng, con hổ Châu á. Cho đến nay, đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khỏe, các chương trình bảo đảm việc làm và an sinh xã hội… được xem là hoạt động đầu tư có hiệu quả nhất, quyết định khả năng phát triển kinh tế nhanh và bền vững của một quốc gia.
Thực tế đã chỉ ra rằng trong một tổ chức nếu các cá nhân càng có năng lực thì khả năng tạo ra sự cải tiến, sự sáng tạo trong sản xuất càng cao. Vậy rõ ràng, chất lượng nguồn lao động (con người) có yếu tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế. Như vậy, có thể khẳng định rằng mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và phát triển kinh tế là mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau. Phát triển nguồn nhân lực sẽ đẩy nhanh phát triển kinh tế; ngược lại, phát triển kinh tế tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực.
Chính vì vậy, em lựa chọn đề tài “Phân bổ Nguồn lực nhân lực cho phát triển kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” để cho thấy được tầm 2 z quan trọng của nhân lực đóng góp cho sự phát triển kinh tế cho một quốc gia như thế nào. Từ những kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, Việt Nam có thể rút ra những bài học, tiếp thu những chính sách, những chủ trương phát triển, thu hút và đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với hoàn cảnh, các điều kiện chính trị, xã hội, tự nhiên của Việt Nam nhằm mục đích phát triển kinh tế nhanh và bền vững hơn. Mục đích nghiên cứu Phân tích và đánh giá thực trạng phân bổ nguồn lao động theo ngành, vùng và khu vực kinh tế. Phân tích và đánh giá cơ chế phân bổ nguồn nhân lực của cac quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore theo các tiêu chí hiệu quả (kinh tế, xã hội-công bằng, môi trường).
Đề xuất quan điểm và giải pháp phân bổ một cách hiệu quả (kinh tế, xã hội- công bằng, môi trường) nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới. Nhiệm vụ nghiên cứu Đánh giá và luận giải được những tác động, vai trò, thuận lợi và hạn chế trong quá trình phân bổ nguồn nhân lực của một số nước trên thế giới để từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Từ đó sẽ hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực và phân bổ nguồn nhân lực. Thu thập dữ liệu và phân tích các khía cạnh của nguồn nhân lực nhằm làm rõ thực trạng phân bổ nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam.
Đồng thời đưa ra những ưu, nhược điểm để đưa ra giải pháp phân bổ nguồn nhân lực hợp lý và đạt hiệu quả cao. Câu hỏi nghiên cứu 3 z Thực trang phân bổ nguồn nhân lực để góp phần phát triển kinh tế của các nước trên thế giới như nào? Những bài học kinh nghiệm nào giúp Việt Nam phân bổ nguồn nhân lực hiệu quả? 5. Đối tƣợng và phạm vị nghiên cứu Đối tượng: Đề tài tập trung vào vấn đề phân bổ nguồn nhân lực. Phạm vi: Nghiên cứu phân bổ nguồn nhân lực của Trung Quốc, Nhật Bản và Singapore.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỔ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Theo góc độ trực tiếp về phân bổ nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế với bài nghiên cứu "Tăng trưởng kinh tế và phân bổ nguồn lực: trường hợp của Trung Quốc" của tác giả Kar – yiu Wong (2008). Bài viết này nhằm kiểm tra các yếu tố tăng trưởng của một nước đang phát triển như Trung Quốc. Do sự tồn tại của biến dạng trong nước, cách tiếp cận truyền thống của việc sử dụng tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) để thể hiện tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế là không thích hợp.
Tác giả tìm cách ước tính sự thay đổi trong việc định vị tài nguyên có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng GDP được đo lường như thế nào. Sử dụng dữ liệu của tỉnh cho bốn tỉnh miền Nam Trung Quốc trong những năm 2000-2004, bài báo xem xét hai trường hợp giả định, trong đó một là phân bổ lao động cố định và hai là phân bổ lao động được cho là tối ưu cả trước và sau tăng trưởng. Các yếu tố tăng trưởng GDP trong hai trường hợp giả định này được so sánh với các yếu tố tăng trưởng quan sát được. Kết quả cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng GDP đã đánh giá quá cao tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn này.
Do đó có thể nói rằng mức độ biến dạng gây ra sự sai lệch lao động giảm theo thời gian trong giai đoạn này. Tuy nhiên bài nghiên cứu có những hạn chế của dữ liệu, nghiên cứu này coi từng tỉnh là một ngành, sản xuất một sản phẩm đồng nhất, mặc dù cùng một phương pháp có thể áp dụng cho nhiều ngành trong mỗi tỉnh. Hơn nữa, công việc hiện tại giả định giá bên ngoài liên tục và do thời gian nghiên cứu từ những năm 2004 nên mức độ sát với thực tiễn thời đại hiện tại. Ý nghĩa thực tiễn của bài nghiên cứu này cho thấy tầm quan trọng của việc loại bỏ biến dạng trong nền kinh tế, và làm thế nào để cải thiện hiệu quả có thể làm tăng GDP của nền kinh tế.
Phương pháp và cách tiếp cận được giới thiệu ở đây là khá mới và hữu ích trong việc đánh giá các tác động của biến dạng về sản xuất và phúc lợi. 5 z Cũng với vấn đề phân bổ nguồn lực, cụ thể quan điểm về nguồn lực và phân bổ nguồn lực phù hợp với thực tiễn của Việt Nam đó là với định hướng xã hội chủ nghĩa, theo đó bài nghiên cứu “Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nguồn lực và phân bồ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của tác giả Nguyễn Hồng Sơn, Phạm Thị Hồng Điệp (2017) đã đưa ra được bước ngoặt trong thay đổi tư duy kinh tế của Đảng. Nhận thức về nguồn lực và cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng có sự thay đổi và phát triển. Từ quan niệm nhà nước là chủ thể duy nhất phân bổ tất cả nguồn lực kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thì đến nay cơ chế thị trường được xác định “đóng vai trò chủ yếu trong việc huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển”.
Nhà nước có vai trò định hướng sự phát triển trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường. Để cơ chế thị trường phát huy tối đa vai trò trong phân bổ các nguồn lực phát triển, Đảng và Nhà nước cần nỗ lực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại.