Chương 1: Một số van dé lý luận về pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân Chương 2: Pháp luật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia trên thé giới về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam B. NỘI DUNG CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VE PHAP LUAT BAO VE DU LIEU CA NHAN 1. Khái quát chung về bảo vệ dữ liệu cá nhân 1.
Khái quát chung về dữ liệu cá nhân 1.1 Khái niệm dữ liệu cá nhân Về phương diện ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê xuất ban năm 2020, hai từ “dữ liệu” và “cá nhân” được định nghĩa như sau. “Dữ liệu” là: “(i) Số liệu, tư liệu đã cho, đã có, được dua vào để giải quyết một van de; (ii) Những thông tin như văn bản, số liệu, âm thanh, hình ảnh. được biểu dién trong máy tính dưới dang quy ước, nhằm tạo ra sự dé dang cho việc lưu trữ, xứ lý”. “Ca nhân” được định nghĩa trong cuốn từ điển này là: “Nguoi riêng lẻ; phân biệt với tập thể" Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ học, có thé hiệu “dữ liệu cá nhân” là “Nhiing thông tin của một người riêng lẻ được thể hiện dưới dạng văn bản, s6 liệu, âm thanh, hình ảnh.
được biểu diễn trong máy tinh dưới dang quy ước, nhằm tao ra sự để dàng cho việc lưu trữ, xu hy’ ya phương diện pháp lý, có hai công cụ pháp lý đã được phát triển và được sử dung phô biến trên thế giới, trong đó đặt ra một số quy tắc cụ thé chi phối việc thu thập và xử lý đữ liệu cá nhân, bao gồm: (i) Công ước năm 1981 của Hội đồng châu Âu về bảo vệ cá nhân liên quan đến việc xử lý dữ liệu cá nhân tự động và (ii) Hướng dan của Tổ chức Hop tác va Phát triển Kinh tế (OECD) điều chỉnh việc bảo vệ quyền về sự riêng tư và việc chuyên đổi dữ liệu cá nhân xuyên biên giới”. Đây là những văn bản pháp lý đầu tiên đưa ra khái niệm “dit liéu cá nhân” (personal data) và găn nó với bảo vệ quyền riêng tư. Công ước năm 1981 của Hội đồng châu Âu về bảo vệ cá nhân liên quan đến việc xử ly dữ liệu cá nhân tự động đưa ra khái niệm: “"đ liệu cá nhân" có nghĩa là bat kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân đã được xác định hoặc có thể xác định được”. Tương tự, Hướng dẫn bảo vệ bí mật cá nhân và chuyên giao đữ liệu cá nhân do Tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ban hành quy định: “Dữ liệu cá nhân có nghĩa là bất kỳ thông tin liên quan đến một cá nhân được xác định hoặc có thể nhận dang được (chủ thể dữ liệu) ”5.
Day là một khái niệm có phạm vi rộng, theo đó, DLCN được hiểu là bat kỳ thông tin có thé dùng 5 Hoàng Phê, 2020, “Tir điển Tiếng Viér’, NXB Đà Nẵng. 7Vũ Công Giao, Lê Tran Như Tuyên, 2020, “Bảo vệ quyén đối với dit liệu cá nhân trong pháp luật quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia và giá trị tham khảo cho Việt Nam”,Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 09 (409), tháng 5/2020. Truy cập tai: https://hpu.vn/thong-tin-khoa-hoc/bao-ve-quyen-doi-voi-du-lieu-ca-nhan-trong-phap-luat-quoc-te-phap-luat-o-mot-so- quoc-gia-va-gia-tri-tham-khao-cho-viet-nam-8661. Truy cập ngày: 20/03/2023.a OECD Guidelines on the Protection of Privacy and Transborder Data Flows of Personal Data (Các Nguyên tắc của OECD về Bảo vệ Quyền riêng tư va Luồng Dữ liệu Xuyên Biên giới của Dữ liệu Cá nhân) 10 dé xác định hoặc nhận dạng một cá nhân.
Chi thị 95/46/EC của châu Âu nêu: “Dé liéu cá nhân có nghĩa là bat kỳ thông tin liên quan đến một người được xác định hoặc có thể xác định; một nguoi có thể được xác định, trực tiếp hoặc giản tiếp, đặc biệt bằng cách tham chiếu đến một số nhận dạng, cho một hoặc nhiễu yếu lỗ đặc trưng cho bản sắc của họ về thể chát, sinh lý, tâm thân, kinh tế, văn hóa, xã ho’. DLCN được hiểu là thông tin đến một người mà có thé xác định, nhận diện trực tiếp hoặc gián tiếp. Khái niệm đã khái quát được DLCN là gì nhưng còn mơ hồ, chưa rõ ràng. Ở Việt Nam, thuật ngữ “dit liệu cá nhân chưa được quy định chính thức trong các văn bản pháp lý hiện hành mà chỉ được định nghĩa trong hai bản dự thảo Nghị định bảo vệ dữ liệu cá nhân của Bộ Công an.
Dữ liệu cá nhân theo ban dự thảo đầu tiên được hiểu là “Dit liéu cá nhân là dữ liệu về thông tin dưới dạng kỷ hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dang tương tự thuộc về cá nhân. Trong bản dự thảo Nghị định lần 02, định nghĩa dữ liệu cá nhân đã được tai khang định với một chút thay đối, theo đó “Dé liệu cá nhân là dit liệu về cá nhân hoặc liên quan đến việc xác định hoặc có thể xác định một cá nhân cụ thể”. Như vậy, theo cách quy định tại dự thảo Nghị định lần 02 hiện tại, khái niệm về dữ liệu cá nhân không chỉ bao hàm đến các thông tin giúp trực tiếp xác định một cá nhân cụ thể mà còn hướng tới bao quát cả các nguồn thông tin mà dựa trên nó có thê xác định được danh tính của một cá nhân cụ thể trên thực tế. Tuy nhiên, khái nệm này vẫn chưa thực sự làm rõ được thế nào là “dit liệu”.
Theo quan điểm của tác giả Phạm Hoàng Thanh, đữ liệu cá nhân là “#6 hợp thong tin về mot cả nhan cụ thể, duoc thu thập, xử lý, lưu trữ dưới dang ky hiệu, chữ viết, chữ số, hình anh, am thanh hoặc các dạng tương tự mà có thể dung dé nhận dang, xac dinh, dinh danh được các cá nhân đó trong moi quan hệ xã hội”!0. Khái niệm này đưa ra đặc trưng về dit liệu cá nhân, bao gồm: dạng thức ton tại (tổ hợp thông tin), dạng thức được thu thập, xử lý, lưu trữ, và mục đích của dit liệu cá nhân (dé nhận dạng, xác định, định danh các cá nhân). Mặc dù vậy, khái niệm này có phần chưa thực sự chặt chẽ, bởi đữ liệu cá nhân được xác định là “t6 hop thông tin về một cá nhân cụ thể”. Điều này có thê dẫn đến tranh cãi về việc liệu dữ liệu cá nhân bắt buộc phải là một tổ hợp thông tin về cá nhân, hay có thê là bất ky thông tin nào giúp định danh cá nhân đó? Từ những định nghĩa trên, có thé thay, DLCN mang một số nội dung sau đây: Mot là, DLCN là thông tin liên quan đến cá nhân.
Hai /a, DLCN có thê sử dụng để ? Directive 95/46/EC of the European Parliament and of the Council of 24 October 1995 on the protection of individuals with regard to the processing of personal data and on the free movement of such data. (Chi thị 95/46 / EC của Nghị viện va Hội đồng Chau Âu ngày 24 tháng 10 năm 1995 về việc bảo vệ chủ thé dit liệu trong quá trình xử lý DLCNva di chuyên tự do của dữ liệu đó.) 10 Phạm Hoàng Thanh, 2022, “Bao vệ dit liệu cá nhân — Một số van đề về lý luận và thực tiễn”, Luận văn Thạc sĩ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội. Truy cập ngày: 20/03/2023 11 phân biệt cá nhân này với cá nhân khác. Ba /à, DLCN là bất kỳ thông tin nào liên quan hoặc có thể liên quan đến một cá nhân dé có thể định danh (hoặc định danh được) một cá nhân đo.
Bốn là, DLCN có thé được thu thập băng nhiều hình thức khác nhau như thông tin điện tử, thông tin bằng hình ảnh, âm thanh. Từ những quan điểm về định nghĩa trên, tác giả xây dung khái niệm về đữ liệu cá nhân như sau: “Dé liệu cá nhân là bất kỳ thông tin liên quan (hoặc có thể liên quan) của một người riêng biệt giúp định danh (hoặc có thể định danh) người đó, được thu thập và xử ly, được lưu trữ định dạng dưới dạng văn bản, số liệu, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng tuong tụt”. Hiện nay, có nhiều luồng quan điểm học thuật khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa DLCN và TTCN. Theo quan điểm của tác giả, từ góc độ của một khái niệm tương đối thống nhất về DLCN, ý nghĩa cơ bản của TTCN và DLCN là giống nhau, và sự khác biệt nằm ở sự khác biệt trong cách diễn đạt.
Ở các quốc gia châu Á như Trung Quốc, thuật ngữ TTCN thường được sử dụng, trong khi tại phương Tây, trong luật pháp quốc gia hoặc quốc tế, thuật ngữ thường được sử dụng là DLCN. Như vậy, trong nội dung của công trình này, tác giả đồng tình với quan điểm rằng TTCN và DLCN có nội hàm tương đồng nhau. Đặc điểm dữ liệu cá nhân Thue nhất, dit liệu cá nhân là bat kỳ thông tin nào về cá nhân. Day là những thông tin liên quan (hoặc có thé liên quan) tới một cá nhân cụ thê.
Có thé chia những thông tin này thành ba nhóm: (i) Nhóm thông tin về đời sống riêng tur. Thông tin về sức khỏe; Thông tin về tình trạng hôn nhân; Khuynh hướng tình dục (như quan hệ đồng tính/song tính); Quan điểm hoặc ý kiến của người khác về cá nhân. (ii) Nhóm những thông tin riêng: Thông tin mô tả tự nhiên (Sinh trac học; Dau vân tay, di truyền.); Thông tin nhận dang (Số y tế: Số bảo hiểm xã hội; Số an sinh xã hội; (iii) Nhóm thông tin về gia đình: Thông tin về đặc tính sức khỏe (Lịch sử sức khỏe gia đình, Thông tin bệnh di truyền); Thông tin về bí mật gia đình (Con riêng mà chỉ người trong gia đình mới biết); Thông tin về dòng họ, gia tộc (Nguồn gốc, lịch sử, gia pha; Thông tin liên quan đến chính trị, tôn giáo của dòng họ. Thứ hai, dit liệu cá nhân là công cu để xác định, nhận dang danh tính cá nhân.
Dữ liệu cá nhân mang thông tin về về một cá nhân và từ những thông tin đó chủ thê dữ liệu có thê nhận dạng trực tiếp hoặc liên kết với các dữ liệu khác dé xác định được danh tính của họ. Mặc dù những dữ liệu này có thé đúng hoặc không đúng thông tin về cá nhân (sự thật), tuy nhiên ‘| Ngô Hà Chi, Nguyễn Hà Giang, Lê Thị Diễm Hang, Tran Mai Huyén, 2022, “Nhận diện cơ bản về thông tin cá nhân và hành vi xâm phạm thông tin cá nhân”, truy cập tại: https://tapchitoaan.vn/nhan-dien-co-ban-ve-thong-tin-ca-nhan-va-hanh- vi-xam-pham-thong-tin-ca-nhan5893. Truy cập ngày: 20/03/2023. 12 nếu cá nhân có thé nhận dạng được từ những thông tin được truyền tải đó, thì dữ liệu cần được thiết lập cơ chế bảo vệ goi là bảo vệ dữ liệu cá nhân.