Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ dit liệu cá nhân trong môi trường internet Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường internet tại Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường internet ở Việt Nam CHUONG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE BẢO VỆ DU LIEU CÁ NHÂN TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET 1. Khái niệm và đặc điểm dữ liệu cá nhân 1. Khái niệm dữ liệu cá nhân Từ xa xưa, con người đã bắt đầu sử dụng thông tin dé truyền tải, chia sẻ kiến thức và giao tiếp với nhau.
Những dòng suối thông tin chạy dọc theo những con đường mòn hay các thương điểm trao đổi hàng hóa đã trở thành nơi giao thoa của các nền văn hóa, là nơi mà các thông tin được chia sẻ và truyền tải. Điển hình là các câu chuyện truyền miệng, các truyền thuyết dân gian hay các bản tin mới nhất về các sự kiện quan trọng trong cộng đồng. Bằng một cách thần kỳ nào đó thông tin cũng đã trở thành hàng hóa. Sự phổ biến của mạng viễn thông đã đưa thông tin vào mọi lĩnh vực của đời sống công cộng từ đó trở thành nguyên nhân hình thành một không gian ảo toàn cầu, thông tin được lưu chuyên dưới dang dữ liệu điện tử, điều không bình thường đối với quy luật truyền thống.
Sự phát triển nhanh chóng của xã hội thông tin đã dẫn đến sự tụt hậu trong quy định pháp luật của lĩnh vực này do đó nhiều quan hệ xã hội vẫn còn tồn đọng. Thông tin xuất hiện ở khắp mọi ngành khoa học, ngành nghề và lĩnh vực khác nhau, do đó chúng ta phải thừa nhận rang không thé định nghĩa thông tin một cách đầy đủ được, bởi vì nó sẽ phụ thuộc vào phạm vi và bản chất ứng dụng của mỗi lĩnh vực. Triết học, truyền thông và khoa học máy tính là những lĩnh vực chứa đựng rất nhiều về thông tin nơi có rất nhiều phương pháp tiếp cận được sử dụng để khám phá bản chất của thông tin một cách đầy đủ nhất. Có rất nhiều cách hiểu về thông tin.
Thậm chí ngay các từ điển cũng không thê có một định nghĩa thống nhất. Ví dụ: Từ điển Oxford English Dictionary thì cho rằng thông tin là " điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, 10 tin tức" Từ điển khác thì đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức: "Thông tin là điều mà người ta biết" hoặc "thông tin là sự chuyên giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người" v,v. Nguyên nhân của sự khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ này chính là do thông tin không thé sờ mo được. Người ta bắt gặp thông tin chỉ trong quá trình hoạt động, thông qua tác động trừu tượng của nó.
Từ Latin “Informatio” , sốc của từ hiện đại “ìnformation” (thông tin) có hai nghĩa. Một, nó chỉ một hành động rất cụ thể là tạo ra một hình dạng (forme). Hai, tuỳ theo tình huống, nó có nghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo.
Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thé nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh. Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh v.hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người.|49] Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản. Nhu cầu đó không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệ trong xã hội.
Mỗi người sử dụng thông tin lại tạo ra thông tin mới. Các thông tin đó lại được truyền cho người khác trong quá trình thảo luận, truyền đạt mệnh lệnh, trong thư từ và tai liệu, hoặc qua các phương tiện truyền thông khác. Thông tin được tô chức tuân theo một số quan hệ logic nhất định, trở thành một bộ phận của tri thức, đòi hỏi phải được khai thác va nghiên cứu một cách hệ thống. "Thông tin cá nhân" là một thuật ngữ được sử dụng trong cuộc sống đời thường và trong các nghiên cứu khoa học.
"Thông tin cá nhân" hợp thành bởi 11 2 từ là "thông tin" và "cá nhân". Theo Từ điển Tiếng Việt thì thông tin với nghĩa là một danh từ được hiểu là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi [21. Cá nhân là người riêng lẻ, phân biệt với tập thé hoặc xã hội [21. Như vậy có thé hiểu đơn giản: Thông tin cá nhân là những thông tin về một người riêng lẻ, phân biệt với người đó với những người khác.
Trong lĩnh vực luật học, "Thông tin cá nhân" là khái niệm gan liền với quyền nhân thân là quyền dân sự gan liền với mỗi cá nhân, không thé chuyền giao cho người khác được pháp luật ghi nhận bảo vệ. Trong các văn bản pháp luật quốc tế và một số quốc gia người ta sử dụng thuật ngữ tiếng anh: Thông tin cá nhân (personal infomation) và Dữ liệu cá nhân (personal data). Ở khía cạnh thông thường thì “thông tin ” và “đữ liệu” được dùng chỉ chung nhưng với lĩnh vực công nghệ thông tin thì đây là hai thuật ngữ khác xa nhau, “thông tin” là những hiểu biết có được về một thực thể nào đó nhưng chưa được mã hóa còn “dữ liệu” (data) được trình bày dưới dạng chính thức thông qua việc lưu trữ, mã hóa thông tin dưới dạng ký tự hoặc dưới dạng văn bản, hình anh, âm thanh truyền tải bang phương tiện kỹ thuật ví dụ như máy tính.Như vậy thông tin là đầu vào còn đầu ra là dữ liệu đã được mã hóa sau đó trình bay dưới một hình thức nhất định theo mục đích nhu cầu của người dùng. Thông qua các định nghĩa trên cần lưu ý hai van đề nội dung chính đối với thuật ngữ “dữ liệu”.
Dữ liệu được coi như là thông tin (thông tin, thông điệp) cần thiết cho việc tạo ra các hành động nhất định, là sản phẩm của sự phản ánh trong tâm trí của các đối tượng về các hiện tượng, đối tượng vả quá trình thực tế tồn tại ở dạng khách quan và có các thuộc tính tái tạo và sao chép được và được lưu thông trong xã hội. Trong trường hợp này, thuật ngữ không có bất kỳ ý nghĩa đặc biệt nào và được sử dụng như một từ đồng nghĩa với từ “thông tin”. Dữ liệu được coi như một thuật ngữ đặc biệt trong khoa học công nghệ, biểu thi thông tin (thông tin, thông điệp) ở một dang thức nhất định và được chính thức hóa, được chuẩn bị dé xử ly bang cách sử dung mã hóa theo hệ cơ số nhị phân (1 và 0) với đơn vi là bit hoặc byte, được lưu trữ truyền tải qua các thiệt bị điện tử. Ở vấn đề nội dung thứ 2 và đây có lẽ là điều quan trọng nhất, có thé xác định các chủ thể liên quan theo thứ tự bao gồm: nhà cung cấp dịch vụ chứa thông tin, hệ thống ký hiệu(ngôn ngữ lập trình.), cấu trúc dạng thông tin, nội dung của thông tin đó.
Trong khoa học pháp lý, không có quá nhiều công trình nghiên cứu về môi tương quan của các phạm trù "thông tin" và "dữ liệu", các thuật ngữ “cơ sở đữ liệu” 99 66. “ngân hang dữ liệu” bP) 66. “nguồn thông tin” được dùng chung chung, về cơ bản các khái niệm “thông tin” và “dữ liệu” này được coi là đồng nghĩa, không nêu bật bat kỳ tính năng đặc biệt nào của dữ liệu như một loại thông tin điều này dẫn đến các nhà lập pháp không phân biệt rạch ròi giữa đữ liệu và thông tin dẫn đến coi dữ liệu với thông tin gần như là một. Lần đầu tiên thuật ngữ "dữ liệu cá nhân" trong luật pháp Nga xuất hiện đồng thời với khái niệm tương tự về "thông tin về công dân", trong Luật Liên bang "Về thông tin, cung cấp thông tin và bảo vệ thông tin", tại Điều.
di liệu cá nhân - bat kỳ thông tin nào liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến một thé nhân cụ thé hoặc có thé nhận dạng (doi tượng cua dit liệu cá nhan)." [58] O đây cho thấy luật pháp Nga hay các nước Châu Au đã có sự nhìn nhận về thông tin cá nhân mà ở đó thông tin khả năng nhận dạng một người không chỉ là đơn thuần dễ thấy là họ tên, số điện thọai, địa chỉ mà còn liên quan tới sự kiện, hoàn cảnh, ví dụ: âm thanh, video, chữ viết tay, văn bản .với các đặc điểm về hình thái và phong cách cho thấy việc mở rộng ý nghĩa của dữ liệu cá nhân vô cùng quan trọng phục vụ cho việc quyên riêng 13 tư, an ninh thông tin cũng như sự minh bạch trong việc thu thập và sử dụng dữ liệu. Ở Việt Nam hiện nay có khá nhiều các văn bản pháp luật có quy định về khái niệm DLCN với những cách gọi tên khác nhau: thông tin cá nhân, thông tin riêng, bí mật cá nhân, bí mật cá nhân của người tiêu dùng, thông tin bí mật đời tư. Các khái niệm này đã được đề cập đến trong một số văn bản pháp luật. Khái niệm thông tin riêng được sử dụng và định nghĩa tại Khoản 4 Điều 6 Luật Viễn thông 2009[14], theo đó thông tin riêng là những thông tin liên quan đến người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm tên, địa chỉ, số máy gọi, sé may được gọi, vi tri máy gọi, vi tri máy được gọi, thời gian gọi va thông tin riêng khác mà người sử dụng đã cung cấp khi giao kết hợp đồng với doanh nghiệp.
Luật CNTT 2006 [16] cũng sử dụng khái niệm thông tin riêng tại Điều 72, thông tin riêng là thông tin hợp pháp của tổ chức, cá nhân trao đổi, truyền đưa, lưu trữ trên môi trường mạng được bảo đảm bí mật theo quy định của pháp luật. Khái niệm Thông tin riêng theo Khoản 15 Điều 3 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet va thông tin trên mang [22] là thông tin trên mạng của một tổ chức, cá nhân mà tô chức, cá nhân đó không công khai hoặc chỉ công khai cho một hoặc một nhóm đối tượng đã được xác định danh tính, địa chỉ cụ thể.