Kinh doanh hình ảnh nhân vật dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ so sánh pháp luật của một số quốc gia trên thế giới với việt nam

Tìm hiểu về kinh doanh hình ảnh nhân vật dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ. So sánh luật pháp Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

47
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

0.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

0.3. Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

0.3.2. Đối tượng nghiên cứu

0.3.3. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

0.5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

0.6. Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH HÌNH ẢNH NHÂN VẬT

1.1. Khái quát chung về nhân vật

1.1.1. Khái niệm nhân vật

1.1.2. Nguồn gốc của nhân vật

1.1.2.1. Nhân vật hư cấu
1.1.2.2. Người thật

1.2. Khái quát chung về kinh doanh hình ảnh nhân vật

1.2.1. Khái niệm kinh doanh hình ảnh nhân vật

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN KINH DOANH HÌNH ẢNH NHÂN VẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI - SO SÁNH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

2.1. Các hình thức bảo hộ nhân vật theo pháp luật Hoa Kỳ

2.1.1. Bảo hộ quyền tác giả đối với nhân vật

2.1.2. Bảo hộ nhãn hiệu đối với nhân vật

2.1.3. Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với nhân vật

2.2. Các hình thức bảo hộ nhân vật theo pháp luật Anh

2.2.1. Bảo hộ quyền tác giả đối với nhân vật

2.2.2. Bảo hộ nhãn hiệu đối với nhân vật

2.2.3. Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với nhân vật

2.3. Các hình thức bảo hộ nhân vật theo pháp luật Việt Nam

2.3.1. Bảo hộ quyền tác giả đối với nhân vật

2.3.2. Bảo hộ nhãn hiệu đối với nhân vật

2.3.3. Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đối với nhân vật

2.4. So sánh, đánh giá quy định pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan đến kinh doanh hình ảnh nhân vật của Hoa Kỳ, Anh với Việt Nam

2.5. Hệ thống bảo hộ

2.6. Các hình thức cấp phép kinh doanh hình ảnh nhân vật

2.7. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2.8. Kết luận chương 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Kinh Doanh Hình Ảnh Nhân Vật Tổng Quan Pháp Lý Tiềm Năng

Hiện nay, thị trường phát triển kéo theo sự đa dạng trong quảng cáo và marketing. Các chủ thể kinh doanh cần tạo sự nổi bật, thu hút sự chú ý của công chúng. Đó là ý nghĩa của hình thức kinh doanh hình ảnh nhân vật. Dưới góc độ thương mại, đó là việc sử dụng, khai thác nét đặc trưng của nhân vật cho hàng hóa, dịch vụ. Dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ, hoạt động này liên quan đến quyền tác giả, quyền đối với nhãn hiệu, và kiểu dáng công nghiệp. Kinh doanh hình ảnh nhân vật đã phát triển từ lâu trên thế giới, đặc biệt tại các quốc gia có nền công nghiệp giải trí phát triển. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc kinh doanh và nhượng quyền nhân vật chưa được nghiên cứu chuyên sâu. Khóa luận này nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan và rõ nét hơn về quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh hình ảnh nhân vật dưới góc độ lý luận và thực tiễn quy định pháp luật của Việt Nam và so sánh với pháp luật của một số quốc gia phát triển trên thế giới.

1.1. Khái Niệm và Đặc Điểm của Kinh Doanh Hình Ảnh Nhân Vật

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), kinh doanh hình ảnh nhân vật là việc khai thác các nét đặc trưng cơ bản của một nhân vật gắn liền với hàng hóa, dịch vụ. Mục đích là tạo ra mong muốn sở hữu, sử dụng sản phẩm ở khách hàng tiềm năng vì họ quen thuộc, yêu thích nhân vật đó. Điều này tạo thêm giá trị cho sản phẩm như một cam kết về chất lượng hoặc đặc điểm thu hút. Việc cấp phép sử dụng nhân vật giúp duy trì lợi ích kinh tế và gia tăng giá trị mới cho nhân vật và các bên liên quan.

1.2. Nguồn Gốc và Sự Phát Triển của Kinh Doanh Hình Ảnh Nhân Vật

Ý tưởng khai thác danh tiếng của nhân vật manh nha từ trước thế kỷ 20. Một số doanh nghiệp tạo ra nhân vật hư cấu để làm biểu tượng gắn liền với sản phẩm. Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ 20, khi hình tượng nhân vật văn học được thể hiện trên các sản phẩm trẻ em, hoạt động kinh doanh hình ảnh nhân vật mới mang ý nghĩa thương mại. Thành công của Walt Disney đã đặt nền móng cho hoạt động kinh doanh hình ảnh nhân vật trở thành một lĩnh vực kinh doanh mũi nhọn của công nghiệp giải trí. Về bản chất, đây là một hình thức marketing hàng hóa, dịch vụ.

II. Thách Thức Pháp Lý Bảo Vệ Quyền Hình Ảnh và Sở Hữu Trí Tuệ

Các quốc gia trên thế giới đã quan tâm đến việc khai thác thương mại đối với các nhân vật nổi tiếng và nghiên cứu điều chỉnh của pháp luật liên quan đến việc kinh doanh hình ảnh, tên gọi nhân vật. Ví dụ, báo cáo của WIPO năm 1994 đã nghiên cứu hoạt động kinh doanh hình ảnh nhân vật dưới góc độ pháp lý và tổng hợp quy định pháp luật liên quan của một số quốc gia. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu quy định pháp luật liên quan đến kinh doanh, nhượng quyền hình ảnh nhân vật còn hạn chế. Đa phần các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết học thuật nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ đối với hình tượng nhân vật, quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân trong đó có đề cập đến khía cạnh sử dụng hình ảnh người nổi tiếng cho mục đích thương mại. Do đó, cần có cái nhìn tổng quan và chuyên sâu về vấn đề này.

2.1. Các Hình Thức Xâm Phạm Quyền Hình Ảnh Phổ Biến Hiện Nay

Việc sử dụng trái phép hình ảnh nhân vật trong quảng cáo, thương mại khi chưa được sự đồng ý của chủ thể quyền là một trong những hình thức xâm phạm phổ biến. Sử dụng hình ảnh sai lệch, gây ảnh hưởng tiêu cực đến danh dự, uy tín của nhân vật cũng là một vấn đề nhức nhối. Ngoài ra, việc sao chép, làm nhái các sản phẩm có sử dụng hình ảnh nhân vật cũng gây thiệt hại lớn cho chủ sở hữu quyền và người tiêu dùng.

2.2. Mâu Thuẫn Giữa Quyền Tác Giả và Quyền Thương Mại trong Hình Ảnh

Một nhân vật có thể vừa được bảo hộ bởi quyền tác giả (tính sáng tạo) vừa được bảo hộ bởi quyền thương mại (nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp). Khi hai quyền này xung đột, việc xác định quyền ưu tiên và phạm vi bảo hộ trở nên phức tạp. Ví dụ, một nhân vật hoạt hình nổi tiếng vừa có bản quyền hình ảnh, vừa được đăng ký nhãn hiệu. Việc sử dụng nhân vật này cho mục đích quảng cáo có thể vi phạm cả hai quyền nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu.

III. So Sánh Pháp Luật Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam và Thế Giới

Đề tài tập trung nghiên cứu về bản chất kinh doanh hình ảnh nhân vật, những quy định pháp luật về các hình thức bảo hộ và nhượng quyền nhân vật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Hoa Kỳ, Anh, từ đó so sánh và đánh giá để rút ra những bài học kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam. Khóa luận làm rõ được các vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh hình ảnh nhân vật; tổng hợp và phân tích các quy định pháp luật liên quan của pháp luật Hoa Kỳ, Anh điều chỉnh hành vi kinh doanh hình ảnh nhân vật và so sánh với pháp luật của Việt Nam; dựa trên sự so sánh để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

3.1. Bảo Hộ Hình Ảnh Nhân Vật Theo Pháp Luật Hoa Kỳ Vương Quốc Anh

Tại Hoa Kỳ, nhân vật có thể được bảo hộ thông qua quyền tác giả, nhãn hiệu, và kiểu dáng công nghiệp. Quyền tác giả bảo vệ các tác phẩm sáng tạo, bao gồm cả hình tượng nhân vật. Nhãn hiệu bảo vệ tên gọi, biểu tượng, hoặc hình ảnh nhận diện một sản phẩm hoặc dịch vụ. Kiểu dáng công nghiệp bảo vệ hình dáng bên ngoài của sản phẩm. Pháp luật Anh cũng có các hình thức bảo hộ tương tự, nhưng có sự khác biệt về điều kiện và phạm vi bảo hộ.

3.2. Pháp Luật Việt Nam Về Bảo Hộ Quyền Đối Với Hình Ảnh Nhân Vật

Pháp luật Việt Nam cũng bảo hộ quyền tác giả đối với nhân vật trong tác phẩm văn học, nghệ thuật. Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền thương mại (nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp) đối với nhân vật còn nhiều hạn chế. Luật SHTT Việt Nam quy định về việc loại trừ những dấu hiệu hình và chữ “trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên gọi của các nhân vật, hình tượng trong các tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả của người khác”.

IV. Kinh Nghiệm Quốc Tế Bài Học Cho Phát Triển Kinh Doanh Hình Ảnh VN

Việc bảo hộ hình ảnh nhân vật đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp giải trí và sáng tạo. Cần có hệ thống pháp luật rõ ràng, hiệu quả để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào việc tạo ra và khai thác nhân vật. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền hình ảnh và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

4.1. Hoàn Thiện Pháp Luật Sở Hữu Trí Tuệ Về Kinh Doanh Hình Ảnh

Cần sửa đổi, bổ sung Luật SHTT để quy định rõ ràng hơn về phạm vi bảo hộ đối với hình ảnh nhân vật, các hành vi xâm phạm quyền, và chế tài xử lý. Nên có hướng dẫn chi tiết về việc xác định tính tương tự gây nhầm lẫn giữa các nhân vật, và việc sử dụng hợp pháp hình ảnh nhân vật cho mục đích phi thương mại.

4.2. Nâng Cao Năng Lực Thực Thi Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Trong Thực Tiễn

Tăng cường năng lực của các cơ quan chức năng trong việc phát hiện, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến hình ảnh nhân vật. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người dân về việc bảo vệ và tôn trọng quyền hình ảnh.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình Kinh Doanh Hình Ảnh Thành Công

Kinh doanh hình ảnh nhân vật thường diễn ra trong những lĩnh vực có mối liên hệ gần với đặc tính của nhân vật, ví dụ sử dụng hình ảnh Mickey, Doraemon gắn với sản phẩm cho trẻ em hoặc hình ảnh vận động viên với sản phẩm thể thao. Với sự phát triển của truyền thông, việc nhận diện nhân vật tăng lên thúc đẩy việc kinh doanh hình ảnh ở các lĩnh vực ít liên quan. Hãng Warner Bros đã cấp phép nhân vật truyện tranh cho các sản phẩm khác nhau. Việc sử dụng nhân vật tạo thêm giá trị cho sản phẩm và giúp duy trì lợi ích kinh tế. Bên được cấp phép sẽ được hưởng sự phổ biến mà người cấp phép đã tạo ra trước đó với hình ảnh nhân vật.

5.1. Mô hình Licensing Hình ảnh và Merchandising Hình ảnh nhân vật

Licensing Hình ảnh liên quan đến việc cấp phép sử dụng hình ảnh nhân vật cho các mục đích thương mại, trong khi Merchandising Hình ảnh là việc sản xuất và bán các sản phẩm có hình ảnh nhân vật. Cả hai mô hình đều có thể mang lại doanh thu lớn cho chủ sở hữu quyền, nhưng cũng đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ để đảm bảo chất lượng sản phẩm và tránh các hành vi xâm phạm quyền.

5.2. Các yếu tố thành công trong Kinh doanh hình ảnh nhân vật

Để kinh doanh hình ảnh nhân vật thành công, cần xây dựng hình ảnh nhân vật nổi tiếng, khác biệt và có sức hút. Cần lựa chọn sản phẩm và lĩnh vực phù hợp với hình ảnh nhân vật, và thiết lập hệ thống quản lý quyền hiệu quả. Các chủ thể kinh doanh cần tuân thủ quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

VI. Tương Lai Kinh Doanh Hình Ảnh Pháp Luật Cần Thay Đổi Ra Sao

Trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng, pháp luật về kinh doanh hình ảnh nhân vật cần có những thay đổi để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Cần có quy định cụ thể về việc sử dụng hình ảnh nhân vật trên không gian mạng, và các biện pháp bảo vệ hình ảnh trước nguy cơ bị sao chép, sửa đổi trái phép. Đồng thời, cần xem xét việc bảo hộ quyền nhân thân của người nổi tiếng trước những hành vi khai thác hình ảnh quá mức.

6.1. Ảnh hưởng của Công nghệ AI và Deepfake tới bảo vệ hình ảnh

Công nghệ AI và Deepfake tạo ra thách thức lớn trong việc bảo vệ hình ảnh nhân vật. Các công nghệ này có thể tạo ra các sản phẩm giả mạo, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và ảnh hưởng đến uy tín của nhân vật. Pháp luật cần có quy định để ngăn chặn việc sử dụng trái phép công nghệ AI để xâm phạm quyền hình ảnh.

6.2. Xây dựng khuôn khổ pháp lý toàn diện cho kinh doanh hình ảnh nhân vật

Cần xây dựng khuôn khổ pháp lý toàn diện, điều chỉnh các khía cạnh của kinh doanh hình ảnh nhân vật, từ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền nhân thân, đến quản lý hoạt động quảng cáo, thương mại. Khuôn khổ pháp lý này cần đảm bảo sự cân bằng giữa quyền lợi của chủ sở hữu quyền và lợi ích của xã hội, khuyến khích sự sáng tạo và phát triển bền vững của ngành công nghiệp giải trí.

13/05/2025
Kinh doanh hình ảnh nhân vật dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ so sánh pháp luật của một số quốc gia trên thế giới với việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, Khóa luận đã tổng quan về những vấn đề lý luận liên quan đến hình thức kinh doanh hình ảnh nhân vật và mối quan hệ của hoạt động trong pháp luật sở hữu trí tuệ. Theo đó, tác giả đã tổng hợp lý thuyết liên quan nhân vật và kinh doanh hình ảnh nhân vật như khái niệm, nguồn gốc, lịch sử phát triển và phân loại. Trong thực tiễn kinh doanh hình ảnh nhân vật, nhân vật bao gồm nhân vật hư cấu và người thật, thường là người của công chúng. Nguồn gốc của nhân vật hư cấu là các tác phẩm nghệ thuật như tác phẩm văn học, điện ảnh,… trong khi đó nguồn gốc hình ảnh người thật là từ hoạt động giải trí, thể thao và các hoạt động mang tính thương mại khác.

Kinh doanh hình ảnh nhân vật là sự điều chỉnh cho thích ứng hoặc khai thác thứ cấp các nét đặc trưng cá tính cơ bản một nhân vật gắn liền với các loại hàng hóa, dịch vụ bởi tác giả của nhân vật hư cấu hoặc bởi cá nhân hoặc bởi một hoặc các bên thứ ba được cấp phép, nhằm tạo ra mong muốn sở hữu, sử dụng những sản phẩm ở những khách hàng tiềm năng. Với bản chất là một hoạt động thương mại phát sinh chủ yếu từ các tác phẩm của ngành nghệ thuật - giải trí, kinh doanh hình ảnh nhân vật liên quan đến các khía cạnh sở hữu trí tuệ như quyền tác giả, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Do đó, đặt ra vấn đề nghiên cứu về hoạt động này dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ. PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ LIÊN QUAN ĐẾN KINH DOANH HÌNH ẢNH NHÂN VẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI - SO SÁNH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 2.

Các hình thức bảo hộ nhân vật theo pháp luật Hoa Kỳ 2. Bảo hộ quyền tác giả đối với nhân vật 2. Điều kiện bảo hộ quyền tác giả đối với nhân vật Pháp luật Hoa Kỳ quy định, nhân vật được bảo hộ bản quyền như một bộ phận không tách rời của tác phẩm khi đáp ứng hai điều kiện: (i) mang tính nguyên gốc và (ii) được định hình dưới một hình thức vật chất33. Trường hợp các tác phẩm mang hình ảnh người thật, quyền tác giả phát sinh đối với tác phẩm thể hiện các đặc tính của cá nhân đó và quyền tác giả thuộc về tác giả của tác phẩm mà không phải người đó.

Ví dụ, người nổi tiếng ký hợp đồng quảng cáo với nhãn hàng và chụp hình với sản phẩm thì hình ảnh của người nổi tiếng thể hiện trong bức ảnh đó được bảo hộ quyền tác giả. Trong khi đó, xác định quyền tác giả đối với nhân vật hư cấu có phần phức tạp hơn. Đạo luật Bản quyền năm 1976 không công nhận các nhân vật hư cấu như một đối tượng của quyền tác giả34 và cũng như không đề cập đến quyền đối với nhân vật hư cấu trong quy định về độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả35. Tuy nhiên, thông qua thực tiễn xét xử, tòa án Hoa Kỳ đã mở rộng phạm vi bảo hộ đối với chính nhân vật hư cấu nếu nhân vật đó được “mô tả một cách đầy đủ, cụ thể”36.

Bên cạnh đó, tòa án còn xem xét đến vai trò của nhân vật hư cấu trong tổng thể tác phẩm, 33 Điều 102 Bộ luật Hoa Kỳ 34 Điều 102 Bộ luật Hoa Kỳ 35 Điều 106 Bộ luật Hoa Kỳ 36 Nicholas v. Universal Pictures Corp.com/cases/federal/appellate- courts/F2/45/119/1489834/ , truy cập ngày 24/3/2023 18 cụ thể, nếu nhân vật là trung tâm của tác phẩm cấu thành nên câu chuyện thì nhân vật đó có thể được bảo hộ độc lập với tác phẩm37. Bên cạnh việc bảo hộ bản quyền đối với tập hợp những đặc điểm nổi bật của nhân vật, Hoa Kỳ cũng công nhận quyền tác giả đối với đặc điểm nguyên gốc, riêng lẻ cấu thành nên danh tính của nhân vật38. Yếu tố cấu thành một nhân vật được bảo hộ và có chức năng nhận dạng nhân vật thì có thể được bảo hộ quyền tác giả độc lập với những đặc điểm còn lại của nhân vật39 như chiếc xe Batmobile của Batman trong bộ truyện tranh của DC Comics40.

Trong tranh chấp DC Comics v. Towle, Thẩm phán đã tổng hợp và đưa ra 3 yêu cầu41 để xác định khả năng bảo hộ quyền tác giả của nhân vật trong truyện tranh, chương trình truyền hình, phim dựa trên những phán quyết trước đó như sau: một là, nhân vật phải có đặc điểm ngoại hình và phong cách; hai là, nhân vật phải được mô tả một cách đầy đủ; ba là, nhân vật phải có đặc tính phân biệt nổi bật và có dấu ấn riêng. Nội dung quyền tác giả đối với nhân vật Theo luật bản quyền Hoa Kỳ, người tạo ra hình thức thể hiện gốc trong một tác phẩm là tác giả và cũng là chủ sở hữu bản quyền trừ khi có thỏa thuận chuyển nhượng 37 Phán quyết vụ Warner Bros. Columbia Broadcast Systems, 216 F.

1954), nhân vật Sam Spade không được bảo hộ vì chỉ là phương tiện thứ yếu trong tổng thể câu chuyện; Trong vụ Metro Goldwyn - Mayer v. American Honda Motor Co. 1995), tòa án công nhận quyền tác giả với hình tượng nhân vật James Bond vì nhân vật được mô tả đầy đủ, nhất quán, và chính nhân vật là câu chuyện trọng tâm xuyên suốt 16 bộ phim. 38 Schreyer, Amanda (2015), “An Overview of Legal Protection for Fictional Characters: Balancing Public and Private Interests”, Vol.

1 , Article 3, https://open.edu/cybaris/vol6/iss1/3, p.63 39 New Line Cinema Corp. Russ Berrie & Co.com/cases/federal/appellate-courts/ca9/13-55484/13-55484-2015-09-23.html, truy cập ngày 24/3/2023 40 DC Comics v.com/cases/federal/district- courts/FSupp2/161/293/2388504/, truy cập ngày 24/3/2023 41 Walt Disney Productions v. Fox Broadcasting Co. 2003) 19 bản quyền cho cá nhân, tổ chức khác.

Trường hợp tác phẩm được thực hiện để thuê, người sử dụng lao động hoặc bên ủy thác được coi là tác giả42. Quyền của tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Pháp luật Hoa Kỳ chỉ trao quyền nhân thân cho nghệ sĩ thị giác là tác giả của tác phẩm nghệ thuật thị giác bao gồm tranh vẽ (sử dụng các loại bút hoặc sơn, màu), bản in, tác phẩm điêu khắc và ảnh43. Đạo luật Bản quyền ghi nhận các quyền tài sản sau: Sao chép; Làm tác phẩm phái sinh; Phân phối bản sao, bản ghi; Biểu diễn công khai; Công bố tác phẩm.

Việc sử dụng, khai thác vì mục đích thương mại nhân vật được bảo hộ, một cách độc lập hoặc phụ thuộc vào tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu bản quyền có thể cấu thành một vi phạm bản quyền. Để xác định một hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với nhân vật, chủ sở hữu cần chứng minh: (i) mức độ thể hiện tương tự và (ii) khả năng liên tư44. Theo đó, mức độ tương tự được đánh giá khách quan dựa trên hình thức thể hiện ban đầu của nhân vật với hình thức thể hiện bị cáo buộc vi phạm. Tiếp đó, cần xác định rằng, sự tương tự đó có đến mức khiến công chúng liên tưởng đến nhân vật ở tác phẩm gốc, nhầm lẫn rằng sản phẩm bị cáo buộc đang gợi đến hình tượng nhân vật đó không.

Trong tranh chấp Sid & Marty Krofft Prod., tòa án lập luận rằng, để cấu thành vi phạm quyền tác giả, hành vi sao chép phải đến mức “chiếm đoạt trái phép”, hoặc là hành vi sao chép hình thức thể hiện. Trường hợp người khác dựa vào nội dung ý tưởng của tác giả để sáng tạo nhân vật khác thì không được xem là vi phạm vì ý tưởng không được bảo hộ quyền tác giả. Pháp luật Hoa Kỳ cũng đưa ra một số giới hạn về bảo hộ nhân vật như sau: - Chỉ bảo hộ nhân vật được mô tả một cách đầy đủ; cho phép khai thác những kiểu nhân vật có những đặc điểm chung đặc trưng của nguyên mẫu hay thể loại nhân 42 United States Copyright Office, Circular 9 - Works Made for Hire Under the 1976 Copyright Act, https://global.com/us/companion.websites/fdscontent/uscompanion/us/pdf/houp/7_5.pdf, truy cập ngày 24/3/2023 43 Điều 106A(a) Bộ luật Hoa Kỳ 44 United States Courts for the Ninth Circuit, Manual of Model Civil Jury Instructions, 17.19 Substantial Similarity—Extrinsic Test; Intrinsic Test, 2022, https://www.gov/jury-instructions/node/276, truy cập ngày 26/3/2023 20 vật đó mà không đến mức vi phạm. Xuất phát nguyên tắc chỉ bảo hộ hình thức thể hiện, những đặc điểm chung chung, phổ biến của nhân vật chỉ được xem là những “ý tưởng” mà mọi người đều khai thác khi mô tả về kiểu nhân vật đó, khó có thể phân tách với hình thức thể hiện.

Ví dụ, hình tượng nhân vật cảnh sát hóa thân thành điệp viên, với những cảnh rượt đuổi hành động không có khả năng được bảo hộ vì đây là một chủ đề phổ biến trong thể loại tác phẩm hành động, tuy nhiên nhân vật điệp viên James Bond trong 16 bộ phim được thể hiện với những nét tính cách đặc trưng: tính cách máu lạnh; sự yêu thích với đồ uống martini lắc; tài thiện xạ; được xem là đã được phác họa đầy đủ, do đó được bảo hộ quyền tác giả45. Hoa Kỳ cũng loại trừ bảo hộ đối với scènes à faire, là những sự kiện, nhân vật, bối cảnh không thể thiếu, là tiêu chuẩn khi khai thác một chủ đề nhất định nào đó46. Những kiểu nhân vật kiểu mẫu (stock character), phổ biến trong một bối cảnh, chủ đề không đáp ứng được điều kiện về tính nguyên gốc, không thể hiện sáng tạo, dấu ấn riêng của một người. Ví dụ, nhân vật siêu anh hùng với đặc trưng là biết hy sinh, đấu tranh chống lại cái ác, có sức mạnh thì không được bảo hộ và mọi người đều có thể khai thác một kiểu nhân vật với những đặc trưng như vậy.

- Cho phép bên thứ ba sử dụng hợp lý nhân vật. Hành vi sử dụng hợp lý nhân vật sẽ không cấu thành một vi phạm, xem xét dựa trên bốn yếu tố tại Điều 107 Đạo luật Bản quyền Hoa Kỳ năm 1976, bao gồm: Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng; Bản chất của tác phẩm được bảo hộ; Tỉ lệ và mức độ ý tưởng sử dụng dựa trên tổng thể tác phẩm được bảo hộ; Vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ. Ngày nay, các tòa án có xu hướng tập trung cân nhắc vào yếu tố thứ tư về việc hành vi đó có mang tính chất “biến đổi”, tức là tạo ra ý nghĩa hay thông điệp mới cho tác phẩm gốc hay không47. Câu hỏi đặt ra về hành vi sử dụng hợp lý nhân vật thường rơi vào trường hợp sử dụng hình ảnh 45 Metro Goldwyn - Mayer v.

American Honda Motor Co. 1995) at 1296, https://law.com/cases/federal/district-courts/FSupp/900/1287/2262232/, truy cập ngày 26/3/2023 46 Atari Inc. Philips Consumer Elecs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ