Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỆT SỨC NGHỀ NGHIỆP Ở GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC 1. Kiệt sức nghề nghiệp 1. Khái niệm kiệt sức Từ điển Oxford định nghĩa kiệt sức là ”trạng thái cực kỳ mệt mỏi hoặc không khỏe mạnh, về thể chất hoặc tinh thần, là hệ quả của làm việc quá sức trong thời gian dài”. Từ điển Collins định nghĩa là “nếu ai đó bị kiệt sức, họ sẽ kiệt quệ về sức lực ở giai đoạn trong cuộc đời hoặc sự nghiệp vì họ đã dùng sức quá nhiều trong thời gian ngắn”.\ Học viện Hoàng gia Tây Ban Nha (RAE) cho rằng kiệt sức xuất hiện khi một người phải chịu các tình huống căng thẳng định kỳ.
Định nghĩa này nhấn mạnh đến môi trường làm việc, là một tác nhân tạo ra tình trạng kiệt sức nghề nghiệp. Theo Từ điển tiếng Việt (2005) của tác giả Hoàng Phê đã định nghĩa kiệt sức: “làm quần quật cho đến khi hết sức” (tr. Các định nghĩa khác nhau về khái niệm kiệt sức đều có điểm tương đồng khi chỉ ra rằng các đặc điểm của kiệt sức là sự mệt mỏi do dùng quá nhiều sức lực. Khái niệm kiệt sức nghề nghiệp Khái niệm kiệt sức nghề nghiệp lần đầu tiên được Freudenberger sử dụng vào năm 1974, để mô tả trạng thái kiệt sức (nhiều nhất là cảm xúc và tinh thần) được quan sát trên các nhân viên tại bệnh viện Hậu quả của kiệt sức nghề nghiệp đã được mô tả về mặt thể chất như: đau đầu thường xuyên, mất ngủ, rối loạn tiêu hóa và khó thở; về mặt cảm xúc là: thất vọng, khó chịu, khó khăn để làm chủ cảm xúc, hoài nghi [20].
Kể từ khi được đưa ra thảo luận lần đầu tiên vào năm 1974, khái niệm kiệt sức dần dần được chú trọng nhiều hơn ở nhân viên không chỉ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe mà còn trong các lĩnh vực khác. Các nhà nghiên cứu bắt đầu tiến hành nghiên cứu định tính sâu rộng hơn về hiện tượng này, bao gồm các cuộc 11 phỏng vấn, khảo sát và quan sát trực tiếp nhân viên trong các ngành nghề chăm sóc sức khỏe và dịch vụ con người. Các khái niệm ban đầu không có quá nhiều sự khác biệt giữa trạng thái kiệt sức và căng thẳng công việc. Sau đó kiệt sức được định nghĩa như là một triệu chứng của rối loạn trầm cảm.
Tuy nhiên, căng thẳng là những kích thích đôi lúc mang tính tích cực, ví dụ như khi chúng ta chuẩn bị có 1 bài kiểm tra quan trọng thì những căng thẳng có thể khiến sự tập trung tốt hơn thì kiệt sức lại là cách phản ứng tiêu cực của cơ thể và tâm trí. Khái niệm kiệt sức được định nghĩa theo nhiều cách khách nhau. Dựa trên khái niệm đó sẽ có những lý thuyết khách nhau lý luận về việc bao nhiêu khía cạnh sẽ được đánh giá để định nghĩa về kiệt sức. Hầu hết các định nghĩa đều thống nhất với nhau về đặc điểm “cạn kiệt”.
Nó cũng đã được mô tả là hao mòn, mất năng lượng, suy kiệt, suy nhược và mệt mỏi. Mặc dù đôi khi sự kiệt sức này là một thể chất, nhưng thường thì kiệt sức về tâm lý hoặc cảm xúc được mô tả là trung tâm của sự kiệt sức ví dụ như: vô cảm và lo lắng. Một khía cạnh khác của các định nghĩa kiệt sức cũng được thảo luận nhiều qua các nghiên cứu là sự thay đổi tiêu cực trong phản ứng với người khác: thái độ tiêu cực hoặc không phù hợp đối với người bệnh, tỏ ra cáu kỉnh, mất lý tưởng và bỏ cuộc. Một khía cạnh thứ ba được tìm thấy trong các định nghĩa về kiệt sức nghề nghiệp là các phản ứng tiêu cực đối với những thành tựu cá nhân của và của người khác, cũng được mô tả như là cơn trầm cảm, lòng tự trọng thấp, tinh thần thấp, năng suất hoặc khả năng giảm và không có khả năng đối phó [43].
Các nghiên cứu sau đó nhằm phát triển một số mô hình của kiệt sức nghề nghiệp, ban đầu các mô hình này tập trung vào việc phân tích kiệt sức nghề nghiệp trên đối tượng sản xuất công nghiệp. Năm 1996, vấn đề kiệt sức nghề nghiệp trên các đối tượng làm dịch vụ và chăm sóc sức khỏe được tác giả Maslash và cộng sự nghiên cứu. Maslach đã mô tả sự kiệt sức nghề nghiệp là một mô hình đa chiều và định nghĩa nó là một hội chứng tâm lý suy kiệt cảm xúc, cảm giác sai lệch về bản thân/giải thể nhân cách và giảm thành tích cá nhân. Từ đó, Maslach và cộng sự (cs) đã xây dựng khái niệm kiệt sức là “Một phản ứng của hội chứng căng thẳng tâm lý 12 kinh niên giữa các cá nhân trong công việc.
Ba nguyên nhân chính của phản ứng này là do cảm giác mệt mỏi áp đảo, cảm giác hoài nghi, tách rời khỏi công việc và một cảm giác làm việc không hiệu quả” [44]. Dựa theo công trình của Maslach và cs từ thập niên 1980, các nhà nghiên cứu đã mô tả chi tiết hơn về kiệt sức. Kiệt sức là trạng thái tâm lý bao gồm ba thành tố: (1) cạn kiệt cảm xúc, (2) cảm giác hoài nghi bản thân và (3) hiệu quả của cá nhân. Do đó để đánh giá được mức độ kiệt sức cần phải đánh giá thông qua ba thành tố này [42].
Khái niệm kiệt sức của Maslach được WHO chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, cũng có nhiều tác giả khác nhau định nghĩa thuật ngữ kiệt sức. Shirom và Melamed đã định nghĩa khái niệm kiệt sức là tổng hợp ba trạng thái sự kiệt sức về mặt thể chất, sự mệt mỏi trong nhận thức và sự cạn kiệt cảm xúc [72]. Khái niệm này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của yếu tố sức khỏe thể lý trong tình trạng kiệt sức.
Từ trạng thái kiệt sức, các tác giả đã xây dựng khái niệm “Hội chứng kiệt sức hay - B.S” (Burn Out Syndrome) theo tiếng Anh hoặc “Kaloshi” (chết vì mệt mỏi lúc làm việc) ở Nhật Bản cũng tương tự như hội chứng kiệt sức trong nghề nghiệp. Tình trạng Kaloshi này có thể dẫn tới tự sát [2]. Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi chọn khái niệm kiệt sức nghề nghiệp là: “phản ứng tâm lý với các tác nhân gây căng thẳng lâu ngày trong công việc với đặc trưng là sự cạn kiệt về mặt cảm xúc, cảm giác hoài nghi, tách rời khỏi công việc cũng như cảm giác không hiệu quả và không đạt được thành tích”. Cấu trúc thành phần của kiệt sức nghề nghiệp Các thành phần của kiệt sức nghề nghiệp được thể hiện rõ nét qua các thang đánh giá kiệt sức nghề nghiệp.
Dưới đây, chúng tôi sẽ tổng hợp các thành phần của kiệt sức nghề nghiệp qua thang đo lường của các tác giả khác nhau. Thang đo kiệt sức Bergen (Bergen Burnout Inventory – BBI) được tác giả Salmela-Aro xây dựng trong một nghiên cứu trên 742 quản lý người Phần Lan và 414 quản lý người Estonia vào năm 2010. Thang đo này cho thấy các thành phần của kiệt sức nghề nghiệp bao gồm: (1Z) kiệt sức về mặt cảm xúc, (2) sự hoài nghi 13 đối với ý nghĩa của công việc và (3) cảm giác kém cỏi trong công việc [56]. Nghiên cứu phát triển thang đo kiệt sức Bergen của tác giả Feldt (2014) tại Phần Lan trên 742 cán bộ quản lý, 162 nhân viên ngân hàng, 236 kỹ sự, 581 cán bộ trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục và 1505 nhân viên y tế cho thấy thang đo này có thể ứng dụng để đánh giá biểu hiện và mức độ kiệt sức nghề nghiệp của người lao động ở nhiều lĩnh vực khác nhau [19].
Thang đo này có ưu điểm là đo lường kiệt sức nghề nghiệp trên cả 3 thành phần là cảm xúc, nhận thức và hành vi. Tuy nhiên có những hạn chế như số câu hỏi rất ít (9 câu) do đó không phản ánh được toàn bộ biểu hiện của kiệt sức nghề nghiệp. Ngoài ra nghiên cứu xây dựng thang đo gốc của Salmela-Aro được xây dựng trên nhóm khác thể là quản lý, do đó có hể không phù hợp với các nhóm lao động khác. Ngoài ra nghiên cả 2 nghiên cứu trên đều chủ yếu được thực hiện trên nam giới do đó có thể kết quả không đại diện và đo lường được cho người lao động nữ.
Thang đo kiệt sức Oldenburg (Oldenburg Burnout Inventory - OLBI) được xây dựng năm 2005 bởi hai tác giả người Hà Lan là Demerouti và Bakker [15]. Sau đó thang đo này đã được dịch sang tiếng Anh và nghiên cứu chuẩn hóa để đo lường sự kiệt sức của bác sĩ ở Hoa Kỳ [26]. Thang đo này bao gồm 16 câu hỏi và chia thành 2 thang nhỏ là: kiệt sức/mệt mỏi và thiếu gắn kết, có thể hiểu đó là hai thành phần độc lập của kiệt sức nghề nghiệp. Tuy nhiên thang đo này không đề cập đến khoảng thời gian chính thức xuất hiện các triệu chứng kiệt sức.
Việc thiếu các mốc thời gian có thể khiến cho người trả lời bối rối trong việc lựa chọn câu trả lời và có thể ảnh hưởng đến điểm số [24]. Thang đo Kiệt sức nhân viên y tế của Jones (1980) (Staff Burnout Scale for Health Professionals – SBS) là một thang đo gồm 20 câu hỏi. Thang này được thiết kế dựa trên định nghĩa của Maslach về kiệt sức nghề nghiệp, tuy nhiên thang này khác với Maslach ở chỗ nó tập trung đánh giá cảm nhận mà không đánh giá về hành vi (như biểu hiện trong công việc) [28]. Thang đo kiệt sức Shirom - Melamed (Shirom - Melamed Burnout - SMBM) đã được xây dựng nhằm phân biệt giữa kiệt sức về thể chất và kiệt sức về cảm xúc, 14 nhận thức của người lao động bởi tác giả Shirom tiến hành tại Israel năm 2006.
Thang đo bao gồm 14 câu hỏi đo lường 3 thành phần của kiệt sức nghề nghiệp bao gồm: kiệt sức thể lý, kiệt sức về cảm xúc và kiệt sức trong cảm xúc [68]. Các nghiên cứu cho thấy thang đo này có độ tương đồng cao với thang Maslach. Tuy nhiên nghiên cứu xây dựng thang đo này có những hạn chế nhất định. Đầu tiên thang đo được xây dựng thông qua một nghiên cứu cắt ngang mô tả, chưa nêu lên được độ tin cậy, kế đến thang đo bao gồm nhiều câu hỏi về sức khỏe tinh thần như triệu chứng của lo âu và trầm cảm, do đó các câu hỏi chưa phân biệt được việc giảm cảm xúc là do yếu tô công việc hay do các vấn đề về sức khỏe tinh thần.
Một trong những thang đo phổ biến nhất và sử dụng nhiều nhất là thang Maslach. Thang đo Kiệt sức nghề nghiệp Maslach (MBI) được phát triển khá sớm và thường xuyên được cập nhật chỉnh sửa.