Luận văn thạc sĩ sự kiến tạo căn tính dân tộc qua việt điện u linh và lĩnh nam chích quái

Khám phá sự kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt Điện U Linh và Lĩnh Nam Chích Quái. Luận văn thạc sĩ phân tích sâu sắc ý thức dân tộc Việt.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.7. Đóng góp của luận văn

0.8. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CĂN TÍNH DÂN TỘC VÀ TÁC PHẨM VIỆT ĐIỆN U LINH, LĨNH NAM CHÍCH QUÁI

1.1. Vấn đề căn tính dân tộc trong văn học trung đại Việt Nam

1.1.1. Nội hàm về khái niệm căn tính dân tộc

1.1.2. Căn tính dân tộc trong văn học

1.1.3. Các biến động lịch sử và ý thức dân tộc

1.2. Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái trong sự vận động của lịch sử văn xuôi Việt Nam trung đại

1.2.1. Khái lược về văn xuôi trung đại Việt Nam

1.2.2. Việt điện u linh và sự hình thành của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại

1.2.3. Lĩnh Nam chích quái và sự hình thành của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại

2. CHƯƠNG 2: XÁC LẬP CĂN TÍNH DÂN TỘC QUA SỰ ĐỐI KHÁNG, GIAO LƯU VÀ TIẾP NHẬN VĂN HOÁ TRUNG HOA

2.1. Sự giao lưu và tiếp nhận văn hóa Trung Hoa

2.1.1. Tư tưởng tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo, Nho giao

2.1.2. Nguồn gốc xuất thân các vị thần

2.2. Tinh thần đối kháng với văn hóa Trung Hoa

2.2.1. Xác lập căn tính về nguồn gốc và giống nòi Việt Nam

2.2.2. Diễn ngôn khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc

2.3. Ý thức xây dựng đế chế và đạo sắc phong thần

2.3.1. Ý thức xây dựng đế chế

2.3.2. Chiến đấu chống tà thần

2.3.3. Thần quyền như một công cụ đắc lực duy trì quyền lực của giai cấp thống trị (âm phù)

2.3.4. Đạo sắc phong thần

2.4. Ảnh hưởng của văn hóa dân gian Việt Nam

2.4.1. Tín ngưỡng dân gian là một bộ phận của văn hóa dân gian

2.4.2. Tín ngưỡng dân gian thờ nhân thần

2.4.3. Tín ngưỡng dân gian thờ nhiên thần

2.5. Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái trong mối quan hệ với Sử

2.6. Sự quay trở về với yếu tố dân gian trong Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái nhìn từ yếu tố hình thức nghệ thuật

2.6.1. Type và motif dân gian

2.6.2. Yếu tố “linh” và “quái”

3. Tiểu kết Chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Việt Điện U Linh Lĩnh Nam Chích Quái 55

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ công nghệ, căn tính dân tộc trở thành một vấn đề được quan tâm sâu sắc. Nghị quyết của Ban chấp hành trung ương đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Văn học, đặc biệt, có sứ mệnh quan trọng trong việc kiến tạo, duy trì và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp, những nhà Nho yêu nước, đã biên soạn Việt Điện U LinhLĩnh Nam Chích Quái để con cháu đời sau ghi nhớ về thần, người và đất Việt. Việt Điện U Linh tập hợp các truyền thuyết về các vị phúc thần, còn Lĩnh Nam Chích Quái sưu tầm và biên soạn lại những truyền thuyết và cổ tích. Hai tác phẩm này không chỉ có giá trị văn học to lớn mà còn là tư liệu vô giá phản ánh mọi mặt đời sống tinh thần của nhân dân ta từ thời tối cổ. Chúng chứa đựng những yếu tố đặc trưng tính dân tộc, là những chứng tích, trầm tích văn hóa dân gian về cội nguồn dân tộc. Nghiên cứu sự kiến tạo căn tính dân tộc qua hai tác phẩm này chính là trở về cội nguồn dân tộc, các giá trị cố kết dân tộc.

1.1. Việt Điện U Linh Lĩnh Nam Chích Quái Giá trị lịch sử

Việt Điện U LinhLĩnh Nam Chích Quái không chỉ là những tác phẩm văn học mà còn là những tài liệu lịch sử vô giá. Chúng cung cấp thông tin về tín ngưỡng dân gian Việt Nam, phong tục tập quán, và các nhân vật lịch sử được tôn thờ. Đinh Gia Khánh đã nhận xét rằng Việt Điện U Linh giúp ta tìm hiểu một phần nào đời sống tinh thần, tín ngưỡng, phong tục của một thời đại lịch sử rất xưa. Vũ Quỳnh cũng đã viết về việc hiểu rõ về việc khai sáng nước Hoàng Việt qua Truyện Hồng Bàng, thể hiện niềm tự hào dân tộc. Những truyện này không chỉ kể về những sự kiện lịch sử mà còn thể hiện lòng yêu, ghét của nhân dân, yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa.

1.2. Việt Điện U Linh Lĩnh Nam Chích Quái Bức tranh văn hóa

Hai tác phẩm này vẽ nên một bức tranh toàn diện về văn hóa Việt Nam thời trung đại. Chúng phản ánh tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, và những giá trị đạo đức xã hội. Truyện Bánh chưng ngợi khen lòng hiếu dưỡng, Truyện Ô Lôi răn đe thói dâm ô (Vũ Quỳnh). Các truyện còn gửi gắm tình yêu tổ quốc, niềm tự hào, lòng tự tôn về tổ quốc, nguồn gốc giống nòi cao quý, sự hình thành quốc gia vững mạnh, ý thức xây dựng lãnh thổ rộng lớn, tinh thần khẳng định chủ quyền, độc lập dân tộc. Những giá trị văn hóa này đã chứng minh căn tính dân tộc Việt Nam không trộn lẫn với bất cứ quốc gia nào.

II. Vấn đề cốt lõi Căn tính dân tộc trong văn học 58

Khái niệm dân tộccăn tính dân tộc là những khái niệm phức tạp, được hình thành trong quá trình lịch sử. Benedict Anderson cho rằng dân tộc là một cộng đồng chính trị tưởng tượng, được tưởng tượng có giới hạn và chủ quyền một cách cố hữu. Căn tính dân tộc là đặc tính, tính chất riêng biệt chỉ có ở một dân tộc nào đó, làm nổi bật lên bản sắc của dân tộc ấy. Trong văn học, căn tính dân tộc được thể hiện ở cái nhìn dân tộc đối với thế giới xung quanh, là biểu hiện đầy đủ nhất những cảm nhận của nhà văn, nhà thơ trước không gian, thời gian và các mối quan hệ giữa con người với con người. Văn học phản ánh rõ ràng linh hồn và tính cách của con người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam, được khơi nguồn từ những căn nguyên chân thật của lịch sử, những biến đổi của đời sống xã hội và sự thay đổi trong nhận thức về thế giới của con người. Tính dân tộc là thuộc tính tất yếu của văn học.

2.1. Ảnh hưởng lịch sử tới hình thành căn tính dân tộc

Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIV – XV đã có nhiều thay đổi hết sức cơ bản, mở ra kỷ nguyên mới với chính sách “khoan dân”, “thư dân”. Văn hoá nước Đại Việt là một lĩnh vực nhận được nhiều quan tâm của một lực lượng Nho sĩ trí thức đông đảo, góp phần thúc đẩy tinh thần yêu nước, đấu tranh giành quyền tự chủ, khơi gợi lòng tự tôn và niềm tự hào dân tộc. Họ đã dùng những tựu của văn hoá dân gian như một vũ khí sắc bén chống lại dã tâm cướp nước của các chế độ phong kiến phương Bắc và phục hồi quốc thống, nêu cao những cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, hay những truyền thuyết về một số vị thần đã tăng thêm niềm tự hào dân tộc. Những nhà nho đã lưu giữ được những câu chuyện thể hiện nhiều mặt của văn hoá Việt, góp phần khẳng định nền văn hoá bản địa.

2.2. Việt Điện U Linh Lĩnh Nam Chích Quái và sứ mệnh

Hoàn cảnh lịch sử - xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp các tác giả sưu tầm, biên soạn Việt Điện U LinhLĩnh Nam Chích Quái. Không chỉ lưu giữ giá trị văn hoá, những nhà chấp bút đã khẳng định được độc lập dân tộc. Qua đó góp phần khẳng định quốc gia ta trường tồn theo thời gian, không một thế lực nào đô hộ được trên phương diện chính trị cũng như tinh thần. Hai tác phẩm này chứa đựng quốc hồn quốc túy của một thời đại, một văn hoá của dân tộc Việt Nam. Trong giai đoạn văn học trung đại, văn xuôi tự sự Việt Nam phát triển theo ba xu hướng: xu hướng dân gian, xu hướng lịch sử và xu hướng thế tục. Viêt điện u linh theo xu hướng lịch sử và Lĩnh Nam chích quái theo xu hướng dân gian.

III. Cách tiếp cận Việt Điện U Linh và văn xuôi tự sự 59

Việt Điện U Linh, do Lý Tế Xuyên biên soạn, là tập sách chép những truyện linh thiêng ở đất nước Việt, dựa vào những bản thần tích trong các đợt phong thần của vua nhà Trần, tham khảo Báo cực truyện, Ngoại sử ký và ít nhiều cũng có dựa vào lời truyền tụng của nhân dân. Việt Điện U Linh là tập hợp các truyền thuyết về các vị thần linh Việt Nam ở vào thời xa xưa biểu hiện quan niệm về thế giới quan thần thoại của nhân dân ta. Ban đầu Việt Điện U Linh có 27 truyện kể về các vị thần linh được chính quyền công nhận được thờ ở Việt Nam gồm các vua chúa (nhân quân), bề tôi trung liệt (nhân thần), thần sông, thần núi (hạo khí anh linh).

3.1. Tinh thần dân tộc trong Việt Điện U Linh

Tinh thần dân tộc trong Việt Điện U Linh không chỉ thể hiện trong việc ghi chép sự tích và tập hợp thần linh có công “cứu giúp sinh linh”, địa linh, hào khí của núi sông được chính quyền công nhận mà còn được thể hiện trong tín ngưỡng dân gian thờ cúng nhân quân, phụ thần và nhiên thần. Tập truyện trước hết biểu dương công lao to lớn của các bậc đế vương, bầy tôi các đời đã hy sinh thân thế để mang lại hạnh phúc cho dân Việt. Tiếp theo là những câu chuyện về hạo khí anh linh có nguồn gốc từ thần thoại với sự xuất hiện của các vị thần phù trợ giúp vua.

3.2. Giá trị Việt Điện U Linh trong văn học trung đại

Việt Điện U Linh là một tác phẩm có giá trị, ý nghĩa, mở đầu cho văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại và là một tác phẩm văn xuôi tự sự cổ nhất của Việt Nam còn lưu giữ được cho đến ngày nay. Tinh thần dân tộc trong Việt Điện U Linh được thể hiện từ lòng tự hào về các nhân vật lịch sử, các nhân vật văn hóa dân tộc; tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm và truyền thống văn hiến lâu đời của người Việt. Cuốn sách không chỉ mang giá trị sử học, giá trị văn học mà con mang giá trị truyền thống văn hoá sâu sắc chứa đựng quốc hồn quốc tuý của một thời đại, một văn hoá của dân tộc Việt Nam.

IV. Tiếp cận Lĩnh Nam Chích Quái và tinh thần dân tộc 57

Lĩnh Nam Chích Quái là tác phẩm ghi chép truyền thuyết và truyện cổ tích ở nước ta ra đời vào thời Lý – Trần. Đây là một tác phẩm viết bằng chữ Hán mang giá trị lịch sử và văn hóa của đời sống người Việt cổ. Lĩnh Nam Chích Quái nghĩa là những truyện kỳ lạ thu góp được, lượm lặt được ở cõi Lĩnh Nam. Cuốn sách là một tập hợp các truyền thuyết và truyện cổ tích dân gian Việt Nam được sưu tập, biên soạn bởi tác giả Trần Thế Pháp, soạn vào khoảng cuối thế kỷ XIV và hoàn thành vào đời Lê cuối thế kỷ XV do Vũ Quỳnh và Kiều Phú chỉnh lý.

4.1. Nội dung Lĩnh Nam Chích Quái và ý thức dân tộc

Về nội dung, Lĩnh Nam Chích Quái có nhiều truyện gắn với việc giải thích nguồn gốc nòi giống dân tộc, phản ánh quá trình chinh phục tự nhiên mở mang đất đai, ổn định địa bàn quốc gia cổ đại trên ba địa bàn cư trú: đồng bằng, sông nước, rừng núi; đến truyện đánh giặc giữ nước, truyện xây dựng đất nước như đắp thành Loa, chế nỏ thầ, phát minh tiền đồng; tiếp đến giải thích sự tích một số địa danh, một số phong tục tập quán; tôn vinh linh khí núi sông; các nhân vật lịch sử; anh hùng dân tộc, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Việt cổ có ý nghĩa củng cố ý thức quốc gia dân tộc.

4.2. Tính chất dân tộc trong Lĩnh Nam Chích Quái

Tính chất dân tộc của Lĩnh Nam Chích Quái gắn liền với tính chất nhân dân tuy rằng các truyện dân gian được ghi chép lại mang sắc thái của chế độ phong kiến. Lĩnh Nam Chích Quái là một tác phẩm văn học mang vị trí đặc biệt, dấu mốc quan trọng trong sự phát triển văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần dân tộc. Ít nhiều, người đọc vẫn thấy được “lòng yêu, ghét của nhân dân, yêu chính nghĩa, ghét phi nghĩa, yêu điều thiện, ghét điều ác, yêu cái gì có lợi cho nhân dân, ghét cái gì có hại cho nhân dân, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người”. Đây cũng là tác phẩm khởi nguyên có giá trị tổng kết lịch sử sâu sắc chứa đựng lòng yêu nước, tình yêu truyền thống, văn hoá dân tộc Việt Nam [79].

V. Đối kháng văn hóa khẳng định bản sắc qua Lĩnh Nam 58

Trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, các triều đại phong kiến Trung Hoa luôn coi Việt Nam là phiên thuộc và không ngừng tìm cách xâm chiếm, đồng hóa. Với lòng tự tôn dân tộc, niềm tự hào dân tộc và niềm kiêu hãnh mạnh mẽ, nhân dân ta bắt đầu hình thành tinh thần đối kháng với văn hoá Trung Hoa và xây dựng những khái niệm khẳng định chủ quyền độc lập, lãnh thổ riêng: Nam quốc, Nam nhân, Nam đế, Đại Việt. trên tinh thần không thua kém, ngang hàng với nhau.

5.1. Cội nguồn dân tộc qua Truyện Hồng Bàng Thị

Khi nói đến cội nguồn của một dân tộc, một quốc gia là nói đến giang sơn và nguồn gốc giống nòi của dân tộc, quốc gia đó. Lĩnh Nam Chích Quái đã lý giải nguồn gốc, giống nòi người Việt qua Truyện Hồng Bàng Thị giống như: “Ôi! Nếu trời đã sai chim huyền điểu xuống để sinh ra nhà Thương, thì ắt có việc trăm trứng nở ra con, chia nhau đi cai trị nước Nam, Truyện Hồng Bàng thị không thể mất được”[105, tr. Đây là câu chuyện thần thoại về thủy tổ người Việt lý giải nguồn gốc dân tộc, thể hiện tinh thần tự tôn về xuất xứ cao quý (con Rồng cháu Tiên); nêu cao tinh thần đoàn kết, coi những dân tộc khác đều là anh em một nhà, cùng một mẹ sinh ra (đồng bào - cùng bọc).

5.2. Nam Quốc Sơn Hà Tuyên ngôn chủ quyền đất nước

Bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà - bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên đã khẳng định một chân lý hiển nhiên và thiêng liêng: Bắc có Bắc đế thì Nam cũng có hoàng đế của mình: Nam quốc sơn hà nam đế cư... Đây là một tuyên bố khẳng định núi sông nước Nam là đất Nam, bờ cõi của ta – một nước có chủ quyền do Nam Đế trị vì, Bắc Đế không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai Bình Ngô Đại Cáo cũng đã khẳng định nền văn hiến lâu đời của nước Việt ngang hàng với Trung Quốc.

VI. Kiến tạo tương lai Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa 58

Nghiên cứu sự kiến tạo căn tính dân tộc qua Việt Điện U LinhLĩnh Nam Chích Quái không chỉ là tìm hiểu về quá khứ mà còn là kiến tạo tương lai. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ quan trọng để giữ vững bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử, văn hóa, và những giá trị tốt đẹp của dân tộc là cách tốt nhất để xây dựng một tương lai tươi sáng.

6.1. Ứng dụng giá trị vào giáo dục và du lịch

Gía trị từ các tác phẩm có thể được đưa vào chương trình giảng dạy lịch sử, văn học ở các cấp học khác nhau. Các di tích lịch sử, đền thờ, liên quan đến các nhân vật, sự kiện trong tác phẩm có thể được khai thác để phát triển du lịch văn hóa, thu hút du khách trong và ngoài nước.

6.2. Hướng đi tương lai Nghiên cứu và phát triển hơn nữa

Các nhà nghiên cứu cần tiếp tục tìm tòi, khám phá những giá trị văn hóa tiềm ẩn trong Việt Điện U LinhLĩnh Nam Chích Quái. Cần có những công trình nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ thống để đánh giá toàn diện và khách quan về hai tác phẩm này. Cần phát huy hơn nữa giá trị của hai tác phẩm để tăng thêm niềm tự hào và lòng yêu nước của dân tộc.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về vấn đề căn tính dân tộc và tác phẩm Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái. Chương 2: Xác lập căn tính dân tộc qua sự đối kháng, giao lưu và tiếp nhận văn hoá Trung Hoa. Chương 3: Xác lập căn tính dân tộc qua sự quay trở về với các yếu tố văn hoá bản địa. 14 download by : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CĂN TÍNH DÂN TỘC VÀ TÁC PHẨM VIỆT ĐIỆN U LINH, LĨNH NAM CHÍCH QUÁI 1.

Vấn đề căn tính dân tộc trong văn học trung đại Việt Nam 1. Nội hàm về khái niệm căn tính dân tộc Các khái niệm: Quốc gia/dân tộc/quốc gia tính/dân tộc tính/Căn tính dân tộc/bản sắc dân tộc (nation/nationality/nationalism) đều có sự giống nhau và cùng một trường từ vựng. Do đó việc định nghĩa những khái niệm này là vô cùng khó khăn. Vì thế trước khi đi vào bài nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể, chúng tôi sẽ xem xét vắn tắt về hai khái niệm “dân tộc” và “căn tính dân tộc” để đưa ra một định nghĩa hợp lí nhất.

Trước hết chúng tôi bàn luận về khái niệm dân tộc (nation). Benedict Anderson trong công trình nghiên cứu Những cộng đồng tưởng tượng do Lưu Ngọc An dịch cho rằng: các khái niệm “dân tộc”, “căn tính dân tộc” được hình thành vào cuối thế kỷ XVIII như là một cấu trúc xã hội để thay thế các chế độ quân chủ, trật tự xã hội nặng về tôn giáo trước đây [2, tr. Với một tinh thần nhân học, Benedict Anderson nhận định: dân tộc là một cộng đồng chính trị tưởng tượng - được tưởng tượng có giới hạn và chủ quyền một cách cố hữu [2, tr. Nó được tưởng tượng nên bởi lẽ các thành viên của ngay cả những dân tộc nhỏ nhất cũng không bao giờ biết hết đồng bào của mình, gặp họ hay thậm chí nghe nói về họ, nhưng trong ý thức mỗi người vẫn duy trì một hình ảnh về cộng đồng mình”.

Có nghĩa là, theo ông, cái gọi là quốc gia/dân tộc, không phải là điều gì có sẵn và có tính thực hữu, mà chỉ là một sự tưởng tượng - hay dùng thuật ngữ của ông: “một cộng đồng được tưởng tượng mà ra”. Những cộng đồng đó mang trong mình những “giới hạn” (mọi quốc gia dân tộc đều có biên giới), “chủ quyền” như một “cộng đồng” và có một dân số nhất định, chứ không phải một thực thể hữu cơ, vĩnh cửu [2, tr. Bên cạnh đó, cũng theo ông, các căn tính (indentity) của một dân tộc không phải là một thực thể tồn tại hoàn toàn khách quan tự nhiên mà là những tạo tác văn hóa có tính nhân tạo. Do vậy, căn tính dân tộc không phải là một yếu tố được hình thành một 15 download by : skknchat@gmail.com cách khách quan, lịch sử mà được hun đúc lên từ một loạt các yếu tố văn hóa dân tộc bắt đầu từ các huyền thoại về tổ quốc đến các nhân vật lịch sử.

Dân tộc thuộc phạm trù lịch sử, phạm trù văn hóa. Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về khái niệm dân tộc. Theo quan niệm của một số nhà sử học, “dân tộc” là những cộng đồng người được hình thành trong quá trình lịch sử, trên cở sở những chung đụng về giống nòi, ngôn ngữ, lãnh thổ, tổ chức đời sống chính trị, đời sống kinh tế và văn hoá, đặc biệt là về truyền thống văn hoá. Mỗi dân tộc đều có quá trình hình thành và phát triển không giống nhau gắn liền với điều kiện lịch sử, địa lý, văn hoá, tâm lý,.

dân tộc ấy. Dân tộc khác với chủng tộc và giai cấp. Chủng tộc là cơ sở tập hợp dựa trên sự khác nhau của đặc tính di truyền về màu da, màu tóc, cấu tạo cơ thể hay các đặc tính về khuôn mặt. Cũng cần phân biệt dân tộc với bộ lạc, bộ lạc là một phạm trù nhân chủng chỉ có trong chế độ cộng sản nguyên thủy, còn dân tộc là một phạm trù lịch sử do những người thuộc nhiều chủng tộc, bộ lạc họp nhau lại mà thành.

Còn giai cấp đề cập đến các bậc thứ khác nhau để phân biệt giữa các cá nhân hoặc các nhóm người trong các xã hội hoặc các nền văn hóa dựa trên cơ sở địa vị khác nhau, sở hữu vật chất khác nhau và thành quả lao động khác nhau trong một hệ thống sản xuất, hình thái xã hội nhất định của giai đoạn lịch sử cụ thể. Dân tộc là một cộng đồng người, nó bao gồm nhiều giai cấp. Đặc tính dân tộc không thể và không phải là những gì chung cho mọi giai cấp, mọi người trên cùng một lãnh thổ. Về khái niệm căn tính dân tộc.

Đó là đặc tính, tính chất riêng biệt chỉ có ở một dân tộc nào đó làm nổi bật lên bản sắc của dân tộc ấy. Đó là cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác dựa trên cơ sở những giá trị vốn có, sẵn có hay tái tạo và sáng tạo từ những giá trị văn hóa của dân tộc khác. Trong bài nghiên cứu này, căn tính dân tộc được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tổ chức đời sống sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh, thói quen, tính cách, tín ngưỡng,. của một dân tộc nào đó.

Ở nhiều nước Âu - Mĩ , dân tộc sinh ra trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, còn ở Việt Nam, dân tộc được hình thành từ rất sớm, có thể bắt đầu có từ khi lập nước. Ðiều kiện để dân tộc Việt Nam hình thành sớm là do các cộng đồng người cần liên kết nhau lại để chống thiên tai, để sản xuất lúa nước, để 16 download by : skknchat@gmail.com chống giặc ngoại xâm và ổn định địa bàn cư trú. Căn tính dân tộc Việt Nam được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tổ chức đời sống sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh, thói quen, tính cách, tín ngưỡng,. của người Việt Nam.

Đó chính là gia tài, cái vốn liếng thiêng liêng của quốc gia và là sản nghiệp chung của giống nòi người Việt đã được hình thành trong suốt quá trình hàng nghìn năm lịch sử với muôn vàn biến cố, thăng trầm và được biểu hiện ở các giá trị trong truyền thống văn hóa của người Việt. Khẳng định về tầm quan trọng của đặc tính dân tộc, Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng: “Dân tộc và quốc gia là hai phạm trù lịch sử, hai phạm trù văn hóa. Nó nảy sinh trong lịch sử như kết quả phát triển lâu dài của nhân loại cả ở phương diện thực tiễn, cả về phương diện tinh thần. Đến bây giờ, ta có thể vững tin ở sự tồn tại lâu bền của nó cùng nhân loại tương lai.

Không một nhà văn hóa nào lại tưởng tượng được không gian văn hóa dân tộc, không gian văn hóa quốc gia một ngày nào đó sẽ mất đi. Sự mất đi của nó sẽ đồng nghĩa với sự tàn lụi của bản sắc văn hóa ở cấp cộng đồng cơ bản nhất [79]. Chúng ta tự định nghĩa bản thân trong phạm trù có tính quốc gia, dân tộc: Việt Nam. Và khi làm thế, một trong những chúng ta chắc chắn coi bản thân mình là một nhân tố được quyền sống trong một không gian xã hội và lãnh thổ kế thừa từ các giá trị cố hữu của quá khứ tiền cách mạng.

Theo các nhà dân tộc học, trên lãnh thổ dân tộc Việt Nam có 54 tộc người sinh sống với những nét văn hoá riêng nhưng lại gắn bó chặt chẽ nhau trong vận mệnh dân tộc chung. Căn tính dân tộc trong văn học Trong kho tàng văn chương nhân loại, ta thấy mỗi dân tộc có một nền văn chương riêng, một truyền thống văn chương khác nhau. Cái làm nên sự phân biệt ấy chính là bản sắc dân tộc của văn chương. Tính dân tộc trong văn học còn thể hiện ở cái nhìn dân tộc đối với thế giới xung quanh, là biểu hiện đầy đủ nhất những cảm nhận của nhà văn, nhà thơ trước không gian, thời gian và các mối quan hệ giữa con người với con người.

Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhưng đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai cấp mà họ đang sống. Vì thế có thể nói văn học được coi là một phương tiện bảo 17 download by : skknchat@gmail.com tồn và phát huy căn tính dân tộc. Trước hết văn học phản ánh rõ ràng linh hồn và tính cách của con người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam dựa trên cơ sở ngôn ngữ tiếng Việt. Văn học được khơi nguồn từ những căn nguyên chân thật của lịch sử, những biến đổi của đời sống xã hội và sự thay đổi trong nhận thức về thế giới của con người.

Hay nói các khác, mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử đã tạo ra những đặc trưng, truyền thống văn hoá gắn liền với những đặc trưng hình thành của chính dân tộc ấy. Nó được hình thành dựa trên các cơ sở: điều kiện địa lý, lịch sử, tôn giáo, điều kiện xã hội,… Chính vì vậy bản sắc dân tộc, căn tính dân tộc của văn học được xem xét là sản phẩm của một quá trình lịch sử và phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử, truyền thống văn hoá thông qua khung tham chiếu của người nghệ sĩ hoặc các nhà nghiên cứu. Nói tới dân tộc, đặc tính dân tộc, chúng thường mang tính ổn định, ít biến đổi bởi chúng được thừa nhận như một thuộc tính có tính chất truyền thống. Tính dân tộc là thuộc tính tất yếu của văn học.

Căn tính dân tộc trong nền văn học Việt Nam nói chung và nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng được thể hiện trong phương diện nội dung, tư tưởng tác phẩm ở các khía cạnh: Tình cảm yêu nước nhiệt thành, niềm tự hào về truyền thống, về đất nước độc lập, ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, tổ quốc, đạo lý Việt Nam,… Còn trong phương diện nghệ thuật, tính dân tộc được biểu hiện ở các khía cạnh: ngôn ngữ, thể loại, hình tượng nghệ thuật,… 1. Các biến động lịch sử và ý thức dân tộc Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIV – XV đã có nhiều thay đổi hết sức cơ bản. Đất nước mở ra kỷ nguyên mới. Các triều đại phong kiến đã thực hiện chính sách “khoan dân”, “thư dân” để ổn định đời sống trong nước, thu phục lòng dân, đoàn kết nhân dân cả nước, góp phần bảo vệ sự thống trị của nhà nước phong kiến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ