Chương 1: Tổng quan về vấn đề căn tính dân tộc và tác phẩm Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái. Chương 2: Xác lập căn tính dân tộc qua sự đối kháng, giao lưu và tiếp nhận văn hoá Trung Hoa. Chương 3: Xác lập căn tính dân tộc qua sự quay trở về với các yếu tố văn hoá bản địa. 14 download by : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CĂN TÍNH DÂN TỘC VÀ TÁC PHẨM VIỆT ĐIỆN U LINH, LĨNH NAM CHÍCH QUÁI 1.
Vấn đề căn tính dân tộc trong văn học trung đại Việt Nam 1. Nội hàm về khái niệm căn tính dân tộc Các khái niệm: Quốc gia/dân tộc/quốc gia tính/dân tộc tính/Căn tính dân tộc/bản sắc dân tộc (nation/nationality/nationalism) đều có sự giống nhau và cùng một trường từ vựng. Do đó việc định nghĩa những khái niệm này là vô cùng khó khăn. Vì thế trước khi đi vào bài nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể, chúng tôi sẽ xem xét vắn tắt về hai khái niệm “dân tộc” và “căn tính dân tộc” để đưa ra một định nghĩa hợp lí nhất.
Trước hết chúng tôi bàn luận về khái niệm dân tộc (nation). Benedict Anderson trong công trình nghiên cứu Những cộng đồng tưởng tượng do Lưu Ngọc An dịch cho rằng: các khái niệm “dân tộc”, “căn tính dân tộc” được hình thành vào cuối thế kỷ XVIII như là một cấu trúc xã hội để thay thế các chế độ quân chủ, trật tự xã hội nặng về tôn giáo trước đây [2, tr. Với một tinh thần nhân học, Benedict Anderson nhận định: dân tộc là một cộng đồng chính trị tưởng tượng - được tưởng tượng có giới hạn và chủ quyền một cách cố hữu [2, tr. Nó được tưởng tượng nên bởi lẽ các thành viên của ngay cả những dân tộc nhỏ nhất cũng không bao giờ biết hết đồng bào của mình, gặp họ hay thậm chí nghe nói về họ, nhưng trong ý thức mỗi người vẫn duy trì một hình ảnh về cộng đồng mình”.
Có nghĩa là, theo ông, cái gọi là quốc gia/dân tộc, không phải là điều gì có sẵn và có tính thực hữu, mà chỉ là một sự tưởng tượng - hay dùng thuật ngữ của ông: “một cộng đồng được tưởng tượng mà ra”. Những cộng đồng đó mang trong mình những “giới hạn” (mọi quốc gia dân tộc đều có biên giới), “chủ quyền” như một “cộng đồng” và có một dân số nhất định, chứ không phải một thực thể hữu cơ, vĩnh cửu [2, tr. Bên cạnh đó, cũng theo ông, các căn tính (indentity) của một dân tộc không phải là một thực thể tồn tại hoàn toàn khách quan tự nhiên mà là những tạo tác văn hóa có tính nhân tạo. Do vậy, căn tính dân tộc không phải là một yếu tố được hình thành một 15 download by : skknchat@gmail.com cách khách quan, lịch sử mà được hun đúc lên từ một loạt các yếu tố văn hóa dân tộc bắt đầu từ các huyền thoại về tổ quốc đến các nhân vật lịch sử.
Dân tộc thuộc phạm trù lịch sử, phạm trù văn hóa. Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về khái niệm dân tộc. Theo quan niệm của một số nhà sử học, “dân tộc” là những cộng đồng người được hình thành trong quá trình lịch sử, trên cở sở những chung đụng về giống nòi, ngôn ngữ, lãnh thổ, tổ chức đời sống chính trị, đời sống kinh tế và văn hoá, đặc biệt là về truyền thống văn hoá. Mỗi dân tộc đều có quá trình hình thành và phát triển không giống nhau gắn liền với điều kiện lịch sử, địa lý, văn hoá, tâm lý,.
dân tộc ấy. Dân tộc khác với chủng tộc và giai cấp. Chủng tộc là cơ sở tập hợp dựa trên sự khác nhau của đặc tính di truyền về màu da, màu tóc, cấu tạo cơ thể hay các đặc tính về khuôn mặt. Cũng cần phân biệt dân tộc với bộ lạc, bộ lạc là một phạm trù nhân chủng chỉ có trong chế độ cộng sản nguyên thủy, còn dân tộc là một phạm trù lịch sử do những người thuộc nhiều chủng tộc, bộ lạc họp nhau lại mà thành.
Còn giai cấp đề cập đến các bậc thứ khác nhau để phân biệt giữa các cá nhân hoặc các nhóm người trong các xã hội hoặc các nền văn hóa dựa trên cơ sở địa vị khác nhau, sở hữu vật chất khác nhau và thành quả lao động khác nhau trong một hệ thống sản xuất, hình thái xã hội nhất định của giai đoạn lịch sử cụ thể. Dân tộc là một cộng đồng người, nó bao gồm nhiều giai cấp. Đặc tính dân tộc không thể và không phải là những gì chung cho mọi giai cấp, mọi người trên cùng một lãnh thổ. Về khái niệm căn tính dân tộc.
Đó là đặc tính, tính chất riêng biệt chỉ có ở một dân tộc nào đó làm nổi bật lên bản sắc của dân tộc ấy. Đó là cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác dựa trên cơ sở những giá trị vốn có, sẵn có hay tái tạo và sáng tạo từ những giá trị văn hóa của dân tộc khác. Trong bài nghiên cứu này, căn tính dân tộc được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tổ chức đời sống sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh, thói quen, tính cách, tín ngưỡng,. của một dân tộc nào đó.
Ở nhiều nước Âu - Mĩ , dân tộc sinh ra trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, còn ở Việt Nam, dân tộc được hình thành từ rất sớm, có thể bắt đầu có từ khi lập nước. Ðiều kiện để dân tộc Việt Nam hình thành sớm là do các cộng đồng người cần liên kết nhau lại để chống thiên tai, để sản xuất lúa nước, để 16 download by : skknchat@gmail.com chống giặc ngoại xâm và ổn định địa bàn cư trú. Căn tính dân tộc Việt Nam được hiểu là những nét tiêu biểu, đặc trưng về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tổ chức đời sống sinh hoạt cộng đồng, đời sống tâm linh, thói quen, tính cách, tín ngưỡng,. của người Việt Nam.
Đó chính là gia tài, cái vốn liếng thiêng liêng của quốc gia và là sản nghiệp chung của giống nòi người Việt đã được hình thành trong suốt quá trình hàng nghìn năm lịch sử với muôn vàn biến cố, thăng trầm và được biểu hiện ở các giá trị trong truyền thống văn hóa của người Việt. Khẳng định về tầm quan trọng của đặc tính dân tộc, Nguyễn Hùng Vĩ cho rằng: “Dân tộc và quốc gia là hai phạm trù lịch sử, hai phạm trù văn hóa. Nó nảy sinh trong lịch sử như kết quả phát triển lâu dài của nhân loại cả ở phương diện thực tiễn, cả về phương diện tinh thần. Đến bây giờ, ta có thể vững tin ở sự tồn tại lâu bền của nó cùng nhân loại tương lai.
Không một nhà văn hóa nào lại tưởng tượng được không gian văn hóa dân tộc, không gian văn hóa quốc gia một ngày nào đó sẽ mất đi. Sự mất đi của nó sẽ đồng nghĩa với sự tàn lụi của bản sắc văn hóa ở cấp cộng đồng cơ bản nhất [79]. Chúng ta tự định nghĩa bản thân trong phạm trù có tính quốc gia, dân tộc: Việt Nam. Và khi làm thế, một trong những chúng ta chắc chắn coi bản thân mình là một nhân tố được quyền sống trong một không gian xã hội và lãnh thổ kế thừa từ các giá trị cố hữu của quá khứ tiền cách mạng.
Theo các nhà dân tộc học, trên lãnh thổ dân tộc Việt Nam có 54 tộc người sinh sống với những nét văn hoá riêng nhưng lại gắn bó chặt chẽ nhau trong vận mệnh dân tộc chung. Căn tính dân tộc trong văn học Trong kho tàng văn chương nhân loại, ta thấy mỗi dân tộc có một nền văn chương riêng, một truyền thống văn chương khác nhau. Cái làm nên sự phân biệt ấy chính là bản sắc dân tộc của văn chương. Tính dân tộc trong văn học còn thể hiện ở cái nhìn dân tộc đối với thế giới xung quanh, là biểu hiện đầy đủ nhất những cảm nhận của nhà văn, nhà thơ trước không gian, thời gian và các mối quan hệ giữa con người với con người.
Mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhưng đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai cấp mà họ đang sống. Vì thế có thể nói văn học được coi là một phương tiện bảo 17 download by : skknchat@gmail.com tồn và phát huy căn tính dân tộc. Trước hết văn học phản ánh rõ ràng linh hồn và tính cách của con người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam dựa trên cơ sở ngôn ngữ tiếng Việt. Văn học được khơi nguồn từ những căn nguyên chân thật của lịch sử, những biến đổi của đời sống xã hội và sự thay đổi trong nhận thức về thế giới của con người.
Hay nói các khác, mỗi dân tộc được hình thành trong quá trình lịch sử đã tạo ra những đặc trưng, truyền thống văn hoá gắn liền với những đặc trưng hình thành của chính dân tộc ấy. Nó được hình thành dựa trên các cơ sở: điều kiện địa lý, lịch sử, tôn giáo, điều kiện xã hội,… Chính vì vậy bản sắc dân tộc, căn tính dân tộc của văn học được xem xét là sản phẩm của một quá trình lịch sử và phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử, truyền thống văn hoá thông qua khung tham chiếu của người nghệ sĩ hoặc các nhà nghiên cứu. Nói tới dân tộc, đặc tính dân tộc, chúng thường mang tính ổn định, ít biến đổi bởi chúng được thừa nhận như một thuộc tính có tính chất truyền thống. Tính dân tộc là thuộc tính tất yếu của văn học.
Căn tính dân tộc trong nền văn học Việt Nam nói chung và nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng được thể hiện trong phương diện nội dung, tư tưởng tác phẩm ở các khía cạnh: Tình cảm yêu nước nhiệt thành, niềm tự hào về truyền thống, về đất nước độc lập, ý thức tự tôn dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, tổ quốc, đạo lý Việt Nam,… Còn trong phương diện nghệ thuật, tính dân tộc được biểu hiện ở các khía cạnh: ngôn ngữ, thể loại, hình tượng nghệ thuật,… 1. Các biến động lịch sử và ý thức dân tộc Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam thế kỷ XIV – XV đã có nhiều thay đổi hết sức cơ bản. Đất nước mở ra kỷ nguyên mới. Các triều đại phong kiến đã thực hiện chính sách “khoan dân”, “thư dân” để ổn định đời sống trong nước, thu phục lòng dân, đoàn kết nhân dân cả nước, góp phần bảo vệ sự thống trị của nhà nước phong kiến.