Chương 1: Cơ sở lý luận về KTNB trường Tiểu học, kiểm tra đánh giá. Chương 2: Thực trạng quản lí công tác KTNB ở các trường Tiểu học trên địa bàn huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Chương 3: Biện pháp quản lí công tác KTNB ở các trường Tiểu học huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. Ngoài ra còn có danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục 5 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ KIỂM TRA NỘI BỘ TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Ở nước ngoài hoạt động KTNB trường học được gọi theo nhiều cách khác nhau (D. Nelson, 2015) và được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, các nghiên cứu đều thống nhất rằng quy trình KTNB trường học được thực hiện hoàn toàn bởi nhân viên của nhà trường, được thành lập thành một nhóm đánh giá chuyên biệt. Những nhóm này thường bao gồm các giáo viên và các thành viên thuộc Ban quản lí của nhà trường. Các nghiên cứu về hoạt động KTNB trường học của một số nước cũng chỉ ra rằng: - Các thành viên chuyên trách trong nhóm đánh giá nội bộ của nhà trường chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kiểm tra và quá trình KTNB ở trường học; - Đánh giá nội bộ trường học có tác động tích cực đến hoạt động của trường học, gia tăng thành tích học tập của học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, mặc dù những ảnh hưởng tích cực này phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ chế quản lí; - Các nghiên cứu thực hiện tại Đan Mạch, Anh, Phần Lan, Xcốt-len và Thụy Điển chỉ ra rằng: Ở tất cả các nghiên cứu này đã cho thấy rằng, giáo viên tin là đánh giá, KTNB có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến quá trình giảng dạy của họ cũng như chất lượng học tập của học sinh và KTNB đem lại nhiều lợi ích hơn các biện pháp đánh giá từ bên ngoài. Một số công trình và báo cáo nghiên cứu liên quan đến KTNB ở một số nước như sau: Trong nghiên cứu “Quản lí chất lượng giáo dục tại Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng đến cải thiện môi trường giáo dục” tại Hà Lan của tác giả Ah-Teck, J.
[2014- Tạp chí Journal of Educational Administration, 52(6), 833 - 849] tập trung nghiên cứu việc Hiệu trưởng ở các trường thuộc auritius (Hà Lan) sử dụng hệ thống dữ liệu quản lí chất lượng nội bộ trong việc đưa ra quyết định cải thiện môi trường giáo dục. Kết quả nghiên cứu của các tác giả cũng cho thấy việc quản lí chất lượng KTNB rất quan trọng và nó còn quan trọng hơn khi các Hiệu trưởng sử dụng kết quả đó trong các quyết định của mình trong quá trình quản lí nhà trường. (2001) người Mỹ, trong một nghiên cứu với 6 tên: “Đánh giá kiểm tra nội bộ” (Local Education Authority), đề cập về các nhân tố tác động đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học của các trường học. Nghiên cứu này được thực hiện trên một số trường tại Mỹ.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Lãnh đạo trường học có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo quản lí tốt sẽ duy trì hoạt động KTNB và hướng tới tầm nhìn rõ ràng về sự phát triển của giáo dục. Hai tác giả người Anh là Hall, C. (2007), nghiên cứu về “Ảnh hưởng của kiểm tra nội bộ trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân”. Tại nghiên cứu này, các tác giả phân tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng khi chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTNB trường học.
Đồng thời xem xét mối liên hệ giữa Thanh tra viên và giáo viên thuộc nhóm KTNB trường học thay đổi thế nào kể từ khi chính sách có hiệu lực. Kết quả cho thấy giáo viên và Ban lãnh đạo trường học hưởng ứng và thực hiện tốt công tác KTNB trường học, không những thế KTNB trường học được giáo viên sử dụng như một công cụ, biện pháp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của bản thân. Cũng tại Mỹ các tác giả McNaughton, S. (2012) nghiên cứu “Kiểm tra tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học” (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trường đa văn hóa, đa sắc tộc.
Nghiên cứu này trình bày tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học phục vụ việc dạy và học của các trường học thuộc cộng đồng bản địa. Theo đó nâng cao vai trò của Hiệu trưởng cũng như nâng cao hoạt động quản lí đối với mô hình KTNB trường học đã giúp cho việc quản lí Nhà trường một cách có hiệu quả. Từ một số nghiên cứu trên đây có thể thấy, KTNB trường học được các nhà quản lí giáo dục ở nước ngoài rất coi trọng. Công tác KTNB trường học được đánh giá cao trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, cũng như nâng cao chất lượng học tập của học sinh và việc KTNB trường học được giáo viên cho rằng quan trọng hơn và có tác động nhiều hơn đến hoạt động của trường so với những cuộc kiểm tra từ bên ngoài (thanh tra).
Đồng thời các nghiên cứu trên đây cũng cho thấy vai trò của Hiệu trưởng trong việc quyết định, tổ chức KTNB trường học tại các nước này. Nghiên cứu trong nước Hiện nay ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu, các sáng kiến kinh nghiệm quản lí hoạt động KTNB trường học, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Không những thế Chính phủ còn xây dựng, tổ chức hệ thống thanh kiểm tra từ Nhà nước, Trung ương (Bộ GD&ĐT), đến địa phương và các cơ sở dạy học và giáo dục trên cả nước và điều hành hệ thống đó bằng các quy định pháp luật, các Nghị định, 7 Thông tư, và một số đề tài, luận văn tốt nghiệp của các học viên thuộc ngành quản lí giáo dục cũng có các nghiên cứu, đánh giá về một số biện pháp, sáng kiến quản lí hoạt động KTNB trường học nói chung và KTNB trường Tiểu học nói riêng. Tuy nhiên các đề tài, sáng kiến kinh nghiệm của các học viên này thường nghiên cứu công tác KTNB trường học trong phạm vi các trường trong một Huyện của Phòng GD&ĐT thuộc Sở GD&ĐT của một tỉnh.
Cụ thể: - Lại Thị Thanh Huyền (2014), Quản lí hoạt động KTNB ở các Trường tiểu học, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục, Đại học Thái Nguyên - Trường ĐHSP. Trong đó, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lí công tác KTNB ở các trường TH trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, đề xuất các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lí công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc[[19]]. - Phạm Viết Hùng (2016), Biện pháp quản lí công tác KTNB tại các trường Tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục, Đại học Đà Nẵng - Trường ĐHSP. Trong đó, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lí công tác KTNB ở các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, đề xuất các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lí công tác KTNB tại các trường TH trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng[[18]].
- Nông Quốc Duy (2017), Quản lí hoạt động KTNB ở các trường Tiểu học huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục, Đại học QG Hà Nội - Trường Đại học Giáo dục. Trong đó, Nghiên cứu lý luận về hoạt động KTNB và thực trạng về quản lí hoạt động KTNB của các trường Tiểu học huyện Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang; đề xuất một số biện pháp cụ thể về quản lí hoạt động KTNB nhằm góp phần tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lí, nâng cao chất lượng dạy và học tại các trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang[[10]]. Qua đây có thể thấy, công tác KTNB trường học được thực hiện thường xuyên tại các trường phổ thông nói chung và tại các trường Tiểu học nói riêng. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu tổng thể nhằm nâng cao chất lượng quản lí hoạt động KTNB trường học trong đó có trường Tiểu học chưa thực sự nhiều.
Trong thời gian tới ngành Quản lí giáo dục cần đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực này, nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng quản lí quá trình dạy và học trong nhà trường tốt hơn. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lí Quản lí là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Đây là lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện.
Khoa học quản lí cũng như nhiều khoa học xã hội - nhân văn khác gắn với tiến trình phát triển của xã hội loài người, nên nó luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc, tính thời đại… Quản lí là một khoa học, nhưng nó còn mang tính nghệ thuật. Theo Từ điển của viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản (NXB) Giáo dục (1994) viết: “Quản lí là trông coi, giữ gìn theo yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” [[33]]. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, nhà xuất bản (NXB) Giáo dục 1998, quản lí là: tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.
Tóm lại, các định nghĩa nêu trên đều diễn đạt được nét đặc trưng cơ bản của quản lí đó là những tác động có tính hướng đích; được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội và hoạt động quản lí là những tác động phối hợp tích cực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức. Chúng tôi sử dụng khái niệm sau đây làm khái niệm công cụ: Quản lí là sự tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lí để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt được mục tiêu và ý chí của nhà quản lí đề ra, phù hợp với quy luật khách quan. Quản lí nhà trường Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục và đào tạo. Nó chịu sự quản lí trực tiếp của các cấp QLGD đồng thời nhà trường cũng là một hệ thống độc lập, tự quản.