Chương 1:Cơ sở lý luận về thuế và kiểm toán khoản mục thuế và các khoản phải nộp Nhà nước trong kiểm toán BCTC. Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm toán khoản mục Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước của Công ty TNHH Kiểm toán - Thẩm định giá và Tư vấn ECOVIS AFA Việt Nam tại Công ty ABS. Chương 3: Nhận xét và đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước tại Công ty TNHH Kiểm toán – Thẩm định giá và Tư vấn ECOVIS AFA Việt Nam. 4 Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.
Kiến nghị và hướng phát triển đề tài. 5 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TOÁN BCTC. Những vấn đề cơ bản về thuế 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Thuế đối với nền kinh tế.
Khái niệm Thuế là gì? Đến thời điểm hiện tại, chưa có một khái niệm thống nhất nào về thuế. Tuỳ vào từng nhà kinh tế học, dựa theo các góc độ khác nhau mà khái niệm về thuế được đưa ra cũng khác nhau. Một trong những khái niệm được xem là phổ biến và dễ bắt gặp nhất, đó là: “Thuế là khoản chi phí tài chính bắt buộc hoặc một số loại thuế khác áp dụng cho người nộp thuế (một cá nhân hoặc pháp nhân) phải trả cho tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau. Việc trốn tránh hoặc chống lại việc nộp thuế, sẽ bị pháp luật trừng phạt.
Ngoài ra, còn có một khái niệm khác cũng tương đối phổ biến, đó là: “Thuế là hình thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế không hoãn lại. Từ đó, ta có thể hiểu, thuế là một khoản phải thu của Nhà nước đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Khoản phải thu đó mang tính chất bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp và được quy định bởi pháp luật nhằm phục vụ cho lợi ích cộng đồng, tuỳ vào mỗi quốc gia mà quy định về thuế sẽ khác nhau. Thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN, chiếm khoảng 90% NSNN.
Nhà nước dùng thuế như một công cụ để phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, điều tiết thu nhập của các cá nhân, tổ chức và nền kinh tế thị trường. Thuế tồn tại và phát triển được là nhờ vào sự xuất hiện của thặng dư xã hội. Hay nói cách khác, Thuế và thặng dư xã hội tồn tại và phát triển song song với nhau. Đặc điểm Từ khái niệm, chúng ta có thể thấy thuế có 3 đặc điểm chính, đó là: tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp và có tính pháp lý cao.
6 Thứ nhất, thuế là khoản thu mang tính bắt buộc. Vì thuế là nguồn thu chính của Nhà nước và Nhà nước dùng số tiền đó cho việc cung cấp cho các lợi ích cho quốc gia như các cơ sở vật chất, quốc phòng, pháp luật, y tế, môi trường,…để phục vụ cho người dân. Tính bắt buộc để đảm bảo rằng mọi công dân phải đóng thuế. Tính bắt buộc xuất phát từ việc Nhà nước là người cung ứng phần lớn hàng hóa công cộng cho xã hội.
Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng ấy, Nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo rằng nhân dân phải nộp thuế. Đây là nghĩa vụ của mỗi công dân và đã được ghi nhận trong Hiến pháp của mỗi quốc gia. Tính chất không hoàn trả trực tiếp: Nghĩa là công dân sẽ không được Nhà nước trả trực tiếp lại số tiền mà mình đã đóng, nhưng công dân sẽ được nhận lại gián tiếp qua việc được hưởng các dịch vụ công cộng mà Nhà nước sử dụng tiền thuế để tạo ra. Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế.
Các cá nhân, tổ chức đã nộp thuế cho Nhà nước cũng không có quyền đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp trực tiếp cho họ một lượng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Nhưng công dân có quyền nêu ý kiến của mình nếu số tiền thuế đóng quá cao mà trong khi đó mà nhận lại từ các dịch vụ quá thấp, nhân dân cũng có thể kiểm tra việc chi tiêu của NSNN thông qua đại biểu của họ ở các cơ quan đại diện. Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao: Được quyết định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật. Các luật thuế sẽ do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành tránh việc thu thuế tùy tiện.
Thuế thể hiện quyền lực của Nhà nước, nên việc quy định rõ các vấn đề liên quan đến thuế như: đối tượng chịu thuế, mức thuế suất, các chế tài mang tính cưỡng chế đối với các đối tượng trốn tránh hay chống lại việc nộp thuế,. sẽ giúp cho việc thực hiện trách nhiệm thuế của các cá nhân, tổ chức hiệu quả hơn. Vai trò Thuế tạo nguồn thu NSNN, được xem là khoản thu quan trọng nhất trong xã hội, có tính ổn định lâu dài và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng lớn. Vì vậy, nếu không có thuế thì Nhà nước không thể hoạt động vững mạnh.
7 Là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: thuế góp phần thực hiện chức năng kiểm soát, kiểm kê, quản lý hướng dan và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với mọi thành phần kinh tế theo hướng phát triển trong kế hoạch do Nhà nước đề ra, góp phần tích cực trong việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế của một quốc gia. Có chức năng điều tiết nền kinh tế quốc dân. Hai mặt trong nền kinh tế mà thuế tham gia điều tiết là: kích thích và hạn chế. Nhà nước thông qua các chính sách thuế để tác động lên cung cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh tế – đặc trưng của nền kinh tế thị trường.
Đảm bảo công bằng xã hội: Nhà nước thông qua thuế để điều tiết phần chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo bằng cách trợ cấp hoặc cung cấp hàng hóa công cộng. Phân loại Việc phân loại thuế có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc nghiên cứu, nắm bắt quy định của pháp luật về các loại thuế mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà lập pháp, hành pháp. Để phân loại các loại thuế, việc phân loại cần dựa trên những tiêu chí cụ thể. Các tiêu chí này có thể là đối tượng chịu thuế; mối quan hệ giữa cơ quan thuế và người nộp thuế; người nộp thuế.
Phân loại thuế là việc sắp xếp các sắc thuế trong hệ thống thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Có nhiều tiêu thức phân loại khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại có nhiều loại thuế khác nhau: Căn cứ vào đối tượng chịu thuế có thể chia hệ thống thuế thành ba loại sau: Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được, thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần,… Do vậy thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau : Thuế thu nhập cá 8 nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế tiêu dùng là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong hiện tại. Bao gồm: Thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng… Thuế tài sản là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản.
Bao gồm ,thuế bất động sản là thuế tài sản đánh trên giá trị của tài sản cố định, thuế động sản là thuế đánh trên tài sản chính. Căn cứ theo tính chất của thuế có thể phân loại thuế thành 2 nhóm như sau: Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được quy định nộp thuế. Đây là loại thuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế và họ không có khả thu hồi lại tiền thuế. Ví dụ như: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất … Nhóm thuế gián thu: là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi nó lưu chuyển trên thị trường, là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế, nó được tính vào sản phẩm hoặc dịch vụ mà cá nhân người dùng là người chịu thuế.
Người nộp thuế gián thu là người đóng thuế hộ người tiêu dùng. Căn cứ theo đối tượng đánh thuế có thể phân loại thuế như sau: - Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh. - Thuế đánh vào sản phẩm. - Thuế đánh vào thu nhập.
- Thuế đánh vào tài sản. - Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. Khái quát về các loại thuế 1. Thuế GTGT Thuế GTGT còn được gọi với một cái tên khác là thuế VAT (Value-Added Tax).
Hiểu một cách đơn giản, đây là loại thuế được tính cộng vào giá bán của các 9 loại hàng hóa, dịch vụ trong đơn hàng và do người tiêu dùng thanh toán, chi trả khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó. Đối tượng chịu thuế: Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT được quy định tại Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính và được sửa đổi bổ sung tại Điều 1 Thông tư 26/2015/TT/-BTC. Người nộp thuế Tại Điều 3 Thông tư 219/2013/TT-BTC có quy định: Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu) bao gồm: 1. Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác; 2.