LỜI MỞ ĐẦU Trong điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã và đang có những bước phát triển nhanh chóng và vững chắc. Nhiều cơ hội mới được mở ra cho các doanh nghiệp, nhưng đi cùng với nó là những thách thức và rủi ro không thể né tránh được. Với sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt của nền kinh tế năng động hiện nay, các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư luôn phải đối mặt với nhũng vấn đề hết sức phức tạp và cần đến những chuyên gia tư vấn có nhiều kinh nghiệm và năng lực chuyên môn nhằm giúp họ đánh giá tình hình tài chính của mình cũng như tháo gỡ những vướng mắc, những khó. Hoạt động kiểm toán ra đời từ chính nhu cầu tất yếu đó.
Khoản mục tài sản cố định đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Tài sản cố định là cơ sở vật chất không thể thiếu được trên bình diện cả nền kinh tế nói chung và đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng. Tài sản cố định là cơ sở để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong các doanh nghiệp sản xuất Tài sản cố định phản ánh năng lực tạo ra sản phẩm để cung cấp ra thị trường của đơn vị, khoản mục Tài sản cố định chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng tài sản của đơn vị. Vì vậy việc hạch toán Tài sản cố định cũng như việc trích lập chi phí khấu hao cần phải được ghi chép đúng đắn và tính toán chính xác.
Khoản mục Tài sản cố định trên bảng cân đối kế toán thường chiếm tỷ trọng lớn nên sai sót đối với khoản mục này thường gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Do đó kiểm toán Tài sản cố định đóng vai trò quan trọng trong kiểm toán báo cáo tài chính. Nhận rõ tầm quan trọng của kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán Tài sản cố định, với những kiến thức đã được trang bị trong nhà trường và khoảng thời gian thực tập tại Công ty TNHH Mazars STT Việt Nam em đã chọn đề tài: Vận dụng quy trình kiểm toán vào kiểm toán khoản mục tài sản cố đinh trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Mazars STT Việt Nam thực hiện Báo cáo chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em được chia làm ba phần với nội dung khái quát như sau: PHẠM TRƯỜNG GIANG 1 CQ 500 590 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: TH.S TẠ THU TRANG PHẦN I. ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MAZARS STT VIỆT NAM PHẦN 2.
THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀO KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH MAZARS STT VIỆT NAM THỰC HIỆN PHẦN 3. NHẬN XÉT VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VẬN DỤNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN VÀO KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH MAZARS STT VIỆT NAM THỰC HIỆN Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của ThS. Tạ Thu Trang cùng cán bộ công nhân viên Công ty TNHH Mazars STT Việt Nam đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập cũng như viết báo cáo. Tuy em đã cố gắng hết sức nhưng do điều kiện và kiến thức của em còn hạn chế nên báo cáo không tránh khỏi những sai sót.
Em rất mong nhận được những lời nhận xét của cô giáo hướng dẫn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Phạm Trường Giang PHẠM TRƯỜNG GIANG 2 CQ 500 590 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: TH.S TẠ THU TRANG PHẦN I. ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MAZARS STT VIỆT NAM 1. Đặc điểm chung về tài sản cố định có ảnh hưởng đến kiểm toán tài chính do Công ty TNHH Mazars STT Việt Nam thực hiện 1.
Khái niệm tài sản cố định Tài sản cố định là những tài sản của DN có hình thái vật chất hoặc không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị, do DN nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thoả mãn các tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ. Với những loại tài sản này, cần có chế độ bảo quản và quản lý riêng nhằm sử dụng có hiệu quả, đồng thời có kế hoạch đổi mới khi tài sản hết giá trị sử dụng. Hiện tại, ở Việt Nam có hai văn bản pháp quy quy định các vấn đề liên quan đến TSCĐ trong DN bao gồm: Thông tư số 203/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành ngày 20 tháng 10 năm 2009 và hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam bao gồm 3 chuẩn mực: Chuẩn mực số 03 – Tài sản cố định hữu hình, Chuẩn mực số 04 – Tài sản cố định vô hình, Chuẩn mực số 06 – Thuê tài sản. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03 và Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04, có bốn tiêu chuẩn ghi nhận một tài sản là TSCĐ: - DN chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; - Thời gian sử dụng ước tính trên một năm; - Có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên.
TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh. Khoản mục TSCĐ là một khoản mục chiếm tỷ trọng đáng kể trên BCĐKT. PHẠM TRƯỜNG GIANG 3 CQ 500 590 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: TH.S TẠ THU TRANG TSCĐ là những tài sản sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh chứ không phải để bán và trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn dần. Giá trị của chúng được chuyển dần vào chi phí hoạt động và được thu hồi sau khi bán hàng hóa, dịch vụ (đối với hoạt động kinh doanh).
Để sử dụng TSCĐ được tốt, ngoài việc sử dụng hợp lý công suất để phát triển sản xuất, DN phải tiến hành bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ. Tùy theo quy mô sửa chữa và theo loại TSCĐ, chi phí sửa chữa được bù đắp khác nhau. Đặc điểm về kế toán tài sản cố định ở khách hàng của Công ty TNHH Mazars STT Việt Nam có ảnh hưởng đến kiểm toán báo cáo tài chính Như đã đề cập trong báo cáo thực tập tổng hợp, khách hàng của Công ty Mazars rất đa dạng cả về quy mô, hình thức sở hữu cho đến lĩnh vực kinh doanh. Chính vì thế, đặc điểm về TSCĐ tại mỗi nhóm khách hàng là khác nhau.
Kéo theo đó là cách thức tổ chức công tác kế toán cũng như quản lý đối với TSCĐ tại mỗi khách hàng là có sự khác biệt. Đặc điểm kế toán của khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức công tác kiểm toán. Với mỗi loại khách hàng sẽ có cách tiếp cận kiểm toán cũng như việc phân chia khối lượng giữa các loại trắc nghiệm riêng để công tác kiểm toán đảm bảo về chất lượng và tiết kiệm thời gian, chi phí. Sau đây chúng ta sẽ xem xét những đặc điểm về kế toán đối với khoản mục TSCĐ tại khách hàng của Công ty về các khía cạnh như: Hệ thống chứng từ sổ sách, Hệ thống tài khoản, Cách hạch toán, Cách phân loại TCSĐ bởi những đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn với việc kiểm toán khoản mục TSCĐ.
Phân loại tài sản cố định TSCĐ có thể được phân loại theo nhiều cách nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý như: Theo nguồn hình thành (TSCĐ được mua sắm, xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước cấp, bằng nguồn vốn vay, bằng nguồn vốn tự bổ sung, TSCĐ nhận liên doanh, liên kết với đơn vị khác), theo công dụng kinh tế (TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh, TSCĐ hành chính sự nghiệp, TSCĐ phúc lợi, TSCĐ chờ xử lý), theo tính chất sở hữu (TSCĐ thuộc quyền sở hữu của đơn vị, TSCĐ thuê ngoài) hoặc phân loại theo hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình). PHẠM TRƯỜNG GIANG 4 CQ 500 590 CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD: TH.S TẠ THU TRANG Để quản lý một cách có hiệu quả, các khách hàng chủ yếu tiến hành phân chia TSCĐ theo hình thái vật chất, thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình và sử dụng hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ sách kế toán tương ứng với việc phân loại đó. TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể. TSCĐ hữu hình có thể là từng đơn vị có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định.
TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng chi phí mà DN đã đầu tư hoặc một giá trị lâu dài và được phân bổ dần trong nhiều năm và được coi như trích khấu hao TSCĐ vô hình. Quản lý tài sản cố định TSCĐ là cơ sở vật chất chủ yếu giúp cho DN đạt được các mục tiêu về hoạt động sản xuất và tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh. Mỗi khách hàng kiểm toán của Mazars thường có những quy định, phương pháp quản lý TSCĐ khác nhau sao cho phù hợp với hiện trạng của từng DN. Nhiệm vụ đặt ra đối với mỗi doanh nghiêp là phải tăng cường công tác quản lý TSCĐ nhằm đạt hiệu quả cao.
Hơn nữa, trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu những giá trị của nó giảm dần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó, các DN cần phải quản lý TSCĐ cả về mặt hiện vật và mặt giá trị. Thực tế, các khách hàng đều đã thực hiện phân công người quản lý, giám sát, thiết kế hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nhằm theo dõi một cách đầy đủ cả về mặt hiện vật và mặt giá trị của TSCĐ. Quản lý về mặt giá trị: Việc quản lý về mặt giá trị là công việc chủ yếu ở mỗi khách hàng kiểm toán của Mazars.
Công việc này nhằm cung cấp cho ban quản lý chính xác, kịp thời, đầy đủ những thông tin về mặt giá trị (Nguyên giá, Giá trị hao mòn, Giá trị còn lại) của TSCĐ, giúp ban quản lý lập kế hoạch mua sắm, điều chuyển, sử dụng một cách hợp lý. Kế toán xác định và ghi sổ đúng nguyên giá và giá trị còn lại của TSCĐ đầu tư, mua sắm, điều chuyển.