CHƯƠNG 1 Qua chương một, tác giả đã cho thấy được tầm quan trọng của TSCĐ trong tổng tài sản của đơn vị. TSCĐ chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng tài sản của doanh nghiệp. Do đó khoản mục TSCĐ được xem là khoản mục trọng yếu và được chú trọng trong quy trình kiểm toán BCTC. Đồng thời, tác giả cũng đã thể hiện được lý do, mục tiêu, sự cần thiết của đề tài nghiên cứu trong nền kinh tế thị trường đã và đang phát triển mạnh mẽ hiện nay.
Để từ đó, đưa ra những phương pháp, phạm vi, đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong quy trình kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán E-Jung. Ngoài ra, qua chương một, tác giả cũng đã cho thấy được các nội dung sẽ được thực hiện trong bài nghiên cứu này. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước Ngày nay, trong thời đại chuyển đổi số đang ngày càng phát triển, các doanh nghiệp, tổ chức đã áp dụng các công nghệ mới, phần mềm, hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo để đơn giản hóa các công việc của kế toán và kiểm toán, hỗ trợ nhập, xử lý một khối lượng lớn dữ liệu, thông tin. Nhận thấy vấn đề chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, tác giả tham khảo một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài có sử dụng và không sử dụng trí tuệ nhận tạo vào quy trình kiểm toán.
Từ đó xác định những điểm kiến thức sẽ được kế thừa trong bài nghiên cứu của tác giả, đồng thời làm cơ sở để phân tích thực trạng kiểm toán khoản mục TSCĐ trong quy trình kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán E – Jung.1 Các nghiên cứu không sử dụng trí tuệ nhân tạo Trong nghiên cứu của đồng tác giả Chuchkevych D. (2022) “Audit of fixed assets of the enterprise: organizational and methodological aspect” các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên những dữ liệu thứ cấp thu thập được đưa ra những nội dung cơ bản về tính chất lý luận và thực tiễn của việc kiểm toán TSCĐ về mục tiêu của việc kiểm toán TSCĐ; về trình tự tổ chức và phương pháp kiểm toán TSCĐ theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ đó xác định các vấn đề liên quan đến TSCĐ là do hệ thống kế toán chưa hoàn thiện và tìm cách giải quyết chúng. Công trình nghiên cứu của Apriyana, A.
(2020) “An Analysis Of The Audit Findings Related To Fixed Assets In Bpk Ri Audit Reports (LHP) On The Financial Statements Of Ministries/Institutions 2016-2018”, là một nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp mô tả, phân tích các BCTC của thu thập các Bộ/Tổ chức ở Indonesia từ năm tài chính 2016 – 2018, kết hợp việc thu thập các nghiên cứu trước liên quan có cùng vấn đề. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác giả phát hiện được 1.441 vấn đề và phân thành 15 nhóm vấn đề khác nhau, hầu hết liên quan 6 đến quản lý, bảo mật và duy trì, hướng dẫn, giám sát và kiểm soát cũng như việc trình bày và công bố TSCĐ. Trong đó phổ biến nhất tác giả xác định là nhóm vấn đề quản lý TSCĐ. Tiếp theo là nhóm các vấn đề phát sinh trong việc đảm bảo, bảo quản tài sản.
Nhóm vấn đề phổ biến thứ ba liên quan đến hướng dẫn, giám sát và kiểm soát TSCĐ (đặc biệt là việc trình bày và kê khai TSCĐ). Hay một nghiên cứu khác của đồng tác giả Dianafi Rizka Amalia và Ayu Chairina Laksmi. (2024) “Implementation of fixed assets audit at PT U by KAP Y”, các tác giả đã mô tả chi tiết các thủ tục kiểm toán TSCĐ được thực hiện trong quy trình những bằng chứng kiểm toán cần thu thập và thu được kết quả kiểm toán như thế nào, thông qua sử dụng phương pháp mô tả định tính với phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách quan sát, phỏng vấn, sử dụng tài liệu; kết hợp phương pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình kiểm toán TSCĐ do KAP Y thực hiện bao gồm các giai đoạn trước khi tham gia, lập kế hoạch, thử nghiệm và báo cáo.
Các thủ tục kiểm toán do KAP Y thực hiện đã tuân thủ các chuẩn mực, nguyên tắc kế toán. Điểm mới của nghiên cứu này là bối cảnh nghiên cứu tập trung vào các thủ tục kiểm toán tài sản cố định của KAP Y được thực hiện tại PT U bằng các quy định mới nhất. Tương tự, với nghiên cứu của tác giả Đào Ngọc Minh Phương (2021) “Hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn THT” đã cho chúng ta thấy được những kẽ hở trong quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định của một doanh nghiệp kiểm toán mới thành lập đó chính là ở bước thực hiện thử nghiệm kiểm soát. Bằng việc thực hiện phương pháp nghiên cứu thử nghiệm và quan sát, cụ thể là tác giả đã tiến hành khảo sát các KTV tại công ty để đánh giá các hạn chế trong quy trình kiểm toán.
Điểm hạn chế chính là ở các bước thử nghiệm kiểm soát đa phần thực hiện đầy đủ ở các doanh nghiệp mới còn đối với những doanh nghiệp cũ, KTV chỉ thực hiện khi nghi ngờ về chính sách vận hành hoặc khi khách hàng có sự thay đổi nhân sự cũng như chính sách áp dụng.2 Các nghiên cứu có sử dụng trí tuệ nhân tạo Công trình nghiên cứu của tác giả Nathalia Cahyadi (2020) “Impact of Artificial Intelligence on the work of external auditors”, tác giả nghiên cứu về tác động của của trí tuệ nhân tạo đến các KTV trong Big4. Mục tiêu của nghiên cứu là sẽ điều tra mức độ thay đổi mà trí tuệ nhân tạo đã tác động trong quy tình kiểm toán BCTC đồng thời đánh giá khả năng phát triển của trí tuệ nhân tạo trong hoạt động kiểm toán ở tương lai. Để thực hiện nghiên cứu, tác giả thu thập thông tin hiện có về việc đổi mới kiểm toán trên trang truy cập của các công ty Big4, từ đó đánh giá khả năng áp dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt động kiểm toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mỗi công ty trong Big4 đều sử dụng các công nghệ, phần mềm riêng biệt để hỗ trợ hoạt động kiểm toán, nâng cao hiệu quả và chất lượng kiểm toán.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đánh giá khả năng tham gia của trí tuệ nhân tạo vào quy trình kiểm toán trong tương lai, cho thấy trí tuệ nhận nhân tạo có thể tham gia hầu hết trong quy trình, ngoại trừ các thủ tục cần sự xét đoán chuyên môn nghề nghiệp của KTV về rủi ro, gian lận. Trí tuệ nhân tạo sẽ giảm bớt gánh nặng cho KTV về thu thập bằng chứng, tìm kiếm thông tin, lấy mẫu kiểm toán, kiểm tra sự tương tích, chính xác và đánh giá dữ liệu. Tiết kiệm thời gian cho KTV tập trung vào các vấn đề có rủi ro cao hơn góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả của cuộc kiểm toán. Hay công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nga (2019), nghiên cứu về quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại công ty Kiểm toán KPMG Việt Nam thực hiện.
Tác giả đã sử dụng phương pháp tiếp cận định tính và vận dụng các phương pháp phân tích, quan sát, phòng vấn đã mô phỏng lại thực trạng quy trình kiểm toán TSCĐ tại KPMG. Cũng như các nghiên cứu khác, quy trình kiểm toán được thực hiện qua ba giai đoạn theo chương trình kiểm toán mẫu VACPA, tác giả đưa ra các thử nghiệm, thủ tục chi tiết cho từng giai đoạn. Đồng thời, qua quá trình mô phỏng, tác giả đánh giá được các ưu điểm nổi trội tại KPMG nhờ vào việc ứng dụng các công nghệ, phần mềm chuyên dụng cho hoạt động kiểm toán, bao gồm Sentinel, một hệ thống theo dõi độc lập tự động và tinh vi, giúp các nhóm dự án kiểm tra, chấp thuận và xác minh các quan hệ dịch vụ của KPMG với các đơn vị kinh doanh 8 trên toàn thế giới. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của phần mềm Idea, để chọn mẫu khi kiểm tra chứng từ, giúp tiết kiệm thời gian và đảm bảo độ chính xác với các thuật toán được cài đặt sẵn và eAudIT giúp kiểm soát chất lượng cuộc kiểm toán, hỗ trợ nâng cao hiệu quả của cuộc kiểm toán.
Kết luận: Các nghiên cứu được trình bày cho thấy, tùy vào mỗi thực thể kinh tế mà TSCĐ mang các đặc điểm ghi nhận không giống nhau. Mỗi doanh nghiệp đều có những rủi ro liên quan tới khoản mục là khác nhau, vì vậy KTV cũng lựa chọn các kĩ thuật kiểm toán tùy thuộc vào những rủi ro của đơn vị. Các công trình nghiên cứu trước đó hầu hết các tác giả đều trình bày tuân theo quy chương trình kiểm toán cơ bản bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán, kết thúc kiểm toán. Đồng thời xác định được các thủ tục, thử nghiệm kiểm toán được thiết kế thực hiện trong quá trình kiểm toán khoản mục TSCĐ.
Đặc biệt, trong nghiên cứu của tác giả Nathalia Cahyadi (2020), tác giả đã chỉ ra mức độ ảnh hưởng của trí tuệ nhân tạo đối với hoạt động kiểm toán mô phỏng tại các công ty thuộc Big4. Đây chính là một trong những điểm kiến thức kế thừa vào bài nghiên cứu, làm cơ sở để đánh giá ưu, nhược điểm trong quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ tại công ty TNHH Kiểm toán E – Jung. Mặc dù đã mô tả đầy đủ về quy trình kiểm toán khoản mục, nhưng một số nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu vào giai đoạn chuẩn bị kiểm toán và thực hiện kiểm toán. Giai đoạn kết thúc kiểm toán vẫn chưa được làm rõ những công việc cần thực hiện.
Đồng thời, việc trình bày các thủ tục kiểm toán còn khá chung chung, chưa đi sâu vào các thủ tục phân tích cụ thể, các kiểm tra chi tiết. Nhưng đó chính là tiền đề để tác giả có thể kế thừa, vận dụng và tiếp tục nghiên cứu, tập hợp những kiến thức thực tế đã lĩnh hội được trong quá trình học tập và thực tập tại E - Jung để phát triển thêm đề tài. Từ đó đưa ra những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện kiểm toán khoản mục, đồng thời đề xuất thêm các giải pháp khắc phục, nhằm hoàn thiện quy trình Kiểm toán TSCĐ tại Công ty TNHH Kiểm toán E - Jung.2 Cơ sở lý thuyết về kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính 2.