CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 1. Những vấn đề cơ bản về chuyển giá trong các công ty đa quốc gia 1. Bản chất của giá chuyển nhượng (Transfer price) Giá chuyển nhượng là một khái niệm ra đời, phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của thị trường nội bộ - thị trường hình thành giữa các công ty có mối quan hệ liên kết với nhau trên phương diện này hay phương diện khác. Theo quan điểm của sách “Transfer Pricing Guidelines for Multinational Enterprise and Tax Administration” (OECD Publisher, 2001), “giá chuyển nhượng là giá của hàng hóa, dịch vụ được mua bán giữa hai hay nhiều đơn vị trong cùng một công ty.
Giá chuyển nhượng có thể được xác định bởi các bên có quan hệ liên kết với mức khác xa so với mức giá thị trường nhằm đạt được mục tiêu/ lợi ích của toàn công ty (như tối thiểu hóa mức thuế phải nộp của toàn công ty, tối đa hóa giá trị của toàn công ty, xâm nhập thị trường, …), khi đó, hành vi xác định giá chuyển nhượng được gọi là chuyển giá.” Theo thông tư 66/2010/TT-BTC của Bộ Tài Chính, khái niệm “các bên có quan hệ liên kết” được xác định như sau “Các bên có quan hệ liên kết” là cụm từ được sử dụng để chỉ các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp dưới đây: - Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào bên kia; - Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức của một bên khác; - Các bên cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư dưới mọi hình thức vào một bên khác. Thông thường, hai doanh nghiệp trong một kỳ tính thuế có quan hệ giao dịch kinh doanh thuộc một trong các trường hợp sau thì xác định là các bên liên kết: Tieu luan 5 a) Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia; b) Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp; c) Cả hai doanh nghiệp đều nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của một bên thứ ba; d) Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia, nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia; e) Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 20% vốn đầu tư của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay; f) Một doanh nghiệp chỉ định thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của một doanh nghiệp khác với điều kiện số lượng các thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định chiếm trên 50% tổng số thành viên ban lãnh đạo điều hành hoặc kiểm soát của doanh nghiệp thứ hai; hoặc một thành viên được doanh nghiệp thứ nhất chỉ định có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thứ hai; g) Hai doanh nghiệp cùng có trên 50% thành viên ban lãnh đạo hoặc cùng có một thành viên ban lãnh đạo có quyền quyết định các chính sách tài chính hoặc hoạt động kinh doanh được chỉ định bởi một bên thứ ba; h) Hai doanh nghiệp được điều hành hoặc chịu sự kiểm soát về nhân sự, tài chính và hoạt động kinh doanh bởi các cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ sau: vợ và chồng; bố, mẹ và con (không phân biệt con đẻ, con nuôi hoặc con dâu, con rể); anh, chị, em có cùng cha, mẹ (không phân biệt cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi); ông nội, bà nội và cháu nội; ông ngoại, bà ngoại và cháu ngoại; cô, chú, bác, cậu, dì ruột và cháu ruột; Tieu luan 6 i) Hai doanh nghiệp có mối quan hệ trụ sở chính và cơ sở thường trú hoặc cùng là cơ sở thường trú của tổ chức, cá nhân nước ngoài; j) Một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ của một doanh nghiệp khác với điều kiện chi phí phải trả cho việc sử dụng tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ đó chiếm trên 50% giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm; k) Một doanh nghiệp cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% tổng giá trị nguyên vật liệu, vật tư hoặc sản phẩm đầu vào (không bao gồm chi phí khấu hao đối với tài sản cố định) để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh sản phẩm đầu ra của một doanh nghiệp khác; l) Một doanh nghiệp kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% sản lượng sản phẩm tiêu thụ (tính theo từng chủng loại sản phẩm) của một doanh nghiệp khác; m) Hai doanh nghiệp có thỏa thuận hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng. Trong điều kiện nền sản xuất của xã hội loài người ngày càng phát triển, nhu cầu về nguồn lực và thị trường ngày càng tăng cao, toàn cầu hóa kinh tế đã và đang diễn ra như một xu thế tất yếu. Đặc biệt, sự chuyên môn hóa ngày càng cao trong sản xuất kinh doanh dẫn đến việc một sản phẩm hoàn chỉnh được làm ra là công sức lao động của rất nhiều nhân công ở nhiều cơ sở kinh doanh khác nhau mà trong đó mỗi cơ sở kinh doanh chỉ đảm nhận một hay một vài công đoạn mà thôi.
Thực tế đã chứng minh, hiện nay cùng với xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã nói ở trên, chuyên môn hóa không chỉ dừng lại trong phạm vi nội bộ một quốc gia mà đã diễn ra trên phạm vi toàn cầu, thông qua sự phân công lao động quốc tế ngày càng rõ rệt. Quy trình sản xuất và phân phối sản phẩm đã vượt khỏi biên giới quốc gia thông qua hoạt động xuất nhập khẩu cũng như đầu tư quốc tế trong đó phổ biến nhất là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI). Hình thức này chủ yếu được thực hiện bởi các công ty đa quốc gia (Multi-national Enterprise Tieu luan 7 – MNE), góp phần mở rộng thêm cho khái niệm “cơ sở kinh doanh có quan hệ liên kết” và khiến thị trường nội bộ giữa các cơ sở kinh doanh bây giờ không chỉ bó hẹp trong một vùng miền hay một quốc gia mà đã mở rộng, phát triển lên toàn cầu. Do đó, khái niệm giá chuyển nhượng cũng đã phát triển lên một mức mới, đa dạng hơn, phức tạp hơn và cũng được sử dụng thường xuyên hơn.
Theo các quan điểm kinh tế hiện đại, giá chuyển nhượng là giá tính cho hàng hóa (hữu hình hay vô hình) và dịch vụ cung cấp từ một cơ sở kinh doanh này cho một cơ sở kinh doanh khác có mối quan hệ liên kết. Trên góc độ kinh doanh và với một phạm vi liên kết chặt chẽ hơn, giá chuyển nhượng là giá mà một bộ phận của một tổ chức kinh tế tính cho sản phẩm hoặc dịch vụ đã cung cấp cho một bộ phận khác trong chính tổ chức đó. Như vậy, về bản chất, giá chuyển nhượng là một loại giá phục vụ cho việc luân chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa các cơ sở kinh doanh có quan hệ liên kết, đặc biệt là đối với các cơ sở kinh doanh đặt ở các quốc gia khác nhau trong cùng một công ty đa quốc gia. Xác định giá chuyển nhượng ban đầu nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động trong một nhóm cơ sở kinh doanh có quan hệ liên kết.
Trên cơ sở xác định giá chuyển nhượng trong nội bộ nhóm, các nhà quản lí có thể đưa ra các quyết định tốt nhất khi lựa chọn giữa việc mua (bán) hàng hóa, dịch vụ trong nội bộ nhóm với bên ngoài. Tại một công ty đa quốc gia, giá chuyển nhượng có thể được sử dụng làm căn cứ tính toán, xác định các nghĩa vụ thu nộp, đóng góp vào ngân sách nhà nước mà công ty đó có hoạt động sản xuất kinh doanh. Giá chuyển nhượng đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong công tác quản lí sản xuất kinh doanh của các công ty đa quốc gia cũng như trong hoạt động quản lí của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên mức độ quan trọng của giá chuyển nhượng và những tác động của giá chuyển nhượng tới công tác quản lí sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào hình thức tổ chức của công ty Tieu luan 8 đó.
Theo tiêu chí này, giá chuyển nhượng có thể được phân thành hai loại chính: - Giá chuyển nhượng nội địa (Domestic Transfer Price): được thiết lập đối với các giao dịch diễn ra trong phạm vi nội bộ một quốc gia (các bộ phận, cơ sở kinh doanh của công ty hay tập đoàn chỉ cùng hoạt động trên phạm vi một quốc gia), với mục đích thuần túy là phục vụ các mục tiêu quản trị nội bộ của công ty hay tập đoàn đó, không có nhiều tác động lớn đến nền kinh tế. - Giá chuyển nhượng quốc tế (International Transfer Price): là giá cả mà các công ty đa quốc gia thiết lập và sử dụng trong các giao dịch mua bán, chuyển nhượng các loại hàng hóa, dịch vụ giữa các cơ sở kinh doanh mà các công ty này sở hữu hay kiểm soát đặt tại nhiều quốc gia khác nhau. Giá chuyển nhượng quốc tế có tác động lớn đến lợi ích kinh tế và số thu ngân sách nhà nước nên luôn được đặc biệt quan tâm. Trong phạm vi đề tài, giá chuyển nhượng được đề cập và nghiên cứu cũng chính là giá chuyển nhượng quốc tế được thiết lập trong các công ty đa quốc gia.
Định giá chuyển nhượng (Transfer Pricing) và hành vi áp đặt giá chuyển nhượng (Transfer Price Manipulation) Có thể hiểu, định giá chuyển nhượng là việc thiết lập giá chuyển nhượng trong các giao dịch liên kết trong hoạt động kinh doanh của các công ty đa quốc gia. Xét trên khía cạnh các MNE, định giá chuyển nhượng đóng một vai trò quan trọng trong việc theo dõi các giao dịch nội bộ, phân bổ chi phí tới cho các hoạt động khác nhau, đánh giá tình hình chi phí và doanh thu của các chi nhánh khác nhau.