Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện hoạt động kiểm toán thu sử dụng đất Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chương 3: Thực trạng hoạt động kiểm toán thu sử dụng đất tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm toán thu sử dụng đất tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN THU SỬ DỤNG ĐẤT 1.
Tổng quan tài liệu - Tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, tình trạng vi phạm pháp luật về đất, lấn chiếm, sử dụng đất không đúng mục đích đã xảy ra khá phổ biến ở hầu hết các địa phƣơng. Bên cạnh nguyên nhân khách quan nhƣ cơ chế quản lý đất đai còn khá bất cập thì còn có nguyên nhân chủ quan từ phía các cơ quan hành chính nhà nƣớc trong lĩnh vực quản lý đất đai hoạt động chƣa thật sự hiệu quả, kết quả đem lại chƣa tƣơng xứng, thậm chí đã để xảy ra nhiều sai phạm nghiêm trọng. Trƣớc thực trạng đó, trong những năm gần đây, nội dung kiểm toán thu sử dụng đất đã đƣợc KTNN quan tâm khi kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nƣớc tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng. Kết quả kiểm toán đã phát hiện nhiều vi phạm chính sách, chế độ quản lý tài chính đất đai, kiến nghị tăng thu, giảm chi, xử lý các khoản tạm thu, tạm giữ và các khoản giảm chi khác.
Các sai phạm về thu sử dụng đất đƣợc KTNN phát hiện nhƣ: miễn, giảm thuế đối với thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất; miễn, giảm tiền sử dụng đất không đúng quy định, áp sai đơn giá đất để tính tiền sử dụng đất; cơ quan tài nguyên môi trƣờng của một số địa phƣơng chuyển hồ sơ thông tin địa chính sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính của một số trƣờng hợp thiếu chính xác, chƣa kịp thời. Ngoài ra, kết quả kiểm toán còn chỉ ra nhiều chính sách về đất đai còn bất cập cần phải chỉnh sửa, hoàn thiện theo quy định của pháp luật, phù hợp với thực tiễn, góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nƣớc, tăng cƣờng công tác quản lý đất đai. 4 z Do tính chất phức tạp của các chính sách về quản lý đất đai, thu tiền sử dụng đất, thuê đất, chính sách thu trong lĩnh vực này luôn thay đổi và tồn tại một số bất cập, nhiều chính sách chƣa chặt chẽ và thiếu nhất quán, thậm chí có sự mâu thuẫn, chậm thay đổi, không theo kịp thực tế phát triển… nên quá trình thực hiện kiểm toán gặp không ít khó khăn. Ngoài ra, lĩnh vực quản lý đất đai liên quan đến nhiều đơn vị, nhiều đối tƣợng nên việc thu thập hồ sơ, tài liệu và thông tin kiểm toán, bằng chứng kiểm toán, xác lập biên bản xác nhận số liệu và tình hình kiểm toán phải thực hiện với nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣ: đối với các cơ quan giao đất và tính tiền thu sử dụng đất có sở Quy hoạch, Tài nguyên và Môi trƣờng, Tài chính, Thuế, Kho bạc Nhà nƣớc; các tổ chức, cá nhân đƣợc giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thuê đất… rất khó khăn và phức tạp.
Trong bối cảnh hiện nay KTNN chƣa ban hành đƣợc quy trình kiểm toán riêng cho lĩnh vực này, nên hệ thống về hồ sơ, mẫu biểu kiểm toán còn bất cập, mặt khác, lĩnh vực kiểm toán thu sử dụng đất cũng mới chỉ đƣợc KTNN thực hiện kiểm toán trong vài năm trở lại đây nên còn thiếu kinh nghiệm cũng nhƣ thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn sâu để thực hiện kiểm toán lĩnh vực này. Và về vấn đề kiểm toán thu sử dụng đất đã có một số công trình nghiên cứu đề cập ít nhiều đến những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài ở những góc độ, phạm vi và giai đoạn khác nhau, giúp cho tác giả kế thừa một số vấn đề lý luận về công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai (Đề tài: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán thu sử dụng đất trong kiểm toán ngân sách nhà nƣớc tại các tỉnh thành Nam Sông Hậu” do KTNN khu vực V thực hiện). Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến hoàn thiện hoạt động kiểm toán thu sử dụng đất nói chung và hoàn thiện hoạt động kiểm toán thu sử dụng đất tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng nói riêng ít đƣợc 5 z nghiên cứu so với các lĩnh vực nghiên cứu khác. Tác giả chƣa tìm thấy công trình nào nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về vấn đề này, vì vậy đề tài “Hoàn thiện hoạt động kiểm toán thu sử dụng đất tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng” không chỉ mang tính cấp thiết mà còn mang tính độc lập và tiên phong.
Thu sử dụng đất và hoạt động kiểm toán 1. Cơ sở lý luận chung trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thu sử dụng đất 1. Luật, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến thu sử dụng đất Đất đai là tài sản phẩm của tự nhiên, đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Nếu không có đất đai thì không thể có sự tồn tại của loài ngƣời.
Đất đai là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con ngƣời, điều kiện sống cho động vật, thực vật và con ngƣời trên trái đất. Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội do đó nó là tài sản vô cùng quý giá, là tài nguyên lớn nhất của mọi quốc gia. Nguồn thu từ sử dụng đất là các khoản thu từ việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, đây là nguồn thu khá lớn cho ngân sách nhà nƣớc. Nhà nƣớc quản lý đất đai và các khoản thu từ đất bằng công cụ pháp luật.
Luật Đất đai lần đầu tiên đƣợc Quốc hội thông qua năm 1987, tiếp theo đó đƣợc sửa đổi bổ sung bằng Luật Đất đai lần thứ 2 năm 1993, năm 2003 Luật Đất đai đã đƣợc sửa đổi và sau 10 năm thực hiện, tháng 11 năm 2013 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 đã đƣợc ban hành với nhiều đổi mới trong công tác quản trị đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, định giá đất, cơ chế Nhà nƣớc thu hồi đất, giao đất; nhiều quy định về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ đã đƣợc Luật hóa; những quy định về thời hạn và hạn mức sử dụng đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho nông dân đƣợc nới rộng và việc xử lý các dự án treo cũng đƣợc đổi 6 z mới… Với việc đổi mới trong quan điểm về quản lý sử dụng đất, xác định chính sách thu từ đất là một công cụ của Nhà nƣớc để quản lý vĩ mô nền kinh tế và có vai trò quan trọng trong việc thu Ngân sách Nhà nƣớc. Theo các quy định hiện hành, hệ thống chính sách thu liên quan đến đất đai gồm có các khoản thuế, lệ phí theo quy định của pháp luật và các khoản thu khác (được ban hành dưới hình thức Nghị định của Chính phủ trong khuôn khổ của Luật Đất đai và Luật Ngân sách nhà nước). (1) Quy định về thu tiền sử dụng đất (tiền SDĐ) Hiện nay, chính sách thu tiền sử dụng đất đƣợc thực hiện theo quy định tại các văn bản: Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ và đƣợc sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 17/2006/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Nghị định 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4/2008, Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 31/12/2010 và Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014. Các quy định có nội dung cơ bản nhƣ sau: (i) Đối tượng nộp tiền sử dụng đất: Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 45/2014/NĐ-CP, ngƣời đƣợc Nhà nƣớc giao đất để sử dụng vào các mục đích sau: Hộ gia đình, cá nhân đƣợc giao đất ở; Tổ chức kinh tế đƣợc giao đất để thực hiện dự án đầu tƣ xây dựng nhà ở để bán, hoặc để bán kết hợp cho thuê; Ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc giao đất để thực hiện dự án đầu tƣ xây dựng nhà ở để bán, hoặc để bán kết hợp cho thuê; Tổ chức kinh tế đƣợc giao đất thực hiện dự án đầu tƣ hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng (sau đây gọi tắt là đất nghĩa trang, nghĩa địa); Tổ chức kinh tế đƣợc giao đất để xây dựng công trình hỗn hợp cao tầng, trong đó có diện tích nhà ở để bán, hoặc để bán kết hợp cho thuê.
(ii) Đối tượng không phải nộp tiền sử dụng đất: Điều 54 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 quy định: Nhà nƣớc giao đất không thu tiền sử dụng đất 7 z trong các trƣờng hợp sau đây: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, đƣợc giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này; Ngƣời sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng, không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, không thuộc trƣờng hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này; Tổ chức sự nghiệp công lập chƣa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp; Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cƣ theo dự án của Nhà nƣớc; Cộng đồng dân cƣ sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại Điều 159 của Luật này. (iii) Căn cứ tính thu tiền sử dụng đất: Tại Điều 3 Nghị định 45/2014/NĐ-CP quy định căn cứ tính thu tiền sử dụng đất nhƣ sau: Ngƣời sử dụng đất đƣợc Nhà nƣớc giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại Luật Đất đai và đƣợc xác định trên các căn cứ: Diện tích đất đƣợc giao, đƣợc chuyển mục đích sử dụng, đƣợc công nhận quyền sử dụng đất; mục đích sử dụng đất; giá đất tính thu tiền sử dụng đất.