CHƯƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về chi đầu tư xây dựng cơ bản 1. Đầu tư xây dựng cơ bản và vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.
Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội (theo Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/06/2014). Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của nhà đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định (TSCĐ) và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế. Đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong những năm qua nhà nước đã giành hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm cho đầu tư xây dựng cơ bản. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định.
Trong hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải quan tâm đến các yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động ( nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,.) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, (Luan.binh 8 nhà xưởng, phương tiên vận tải,.) là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động là các tài sản cố định. Đó là các tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, tài sản cố định vô hình,.
thông thường một tư liệu lao động được coi là một tài sản cố định phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn cơ bản: Phải có thời gian sử dụng tối thiếu và phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tiêu chuẩn này được quy định riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với giá cả của từng thời kỳ. Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán”. Các văn bản pháp luật sau Nghị định này không đưa ra định nghĩa về vốn đầu tư xây dựng cơ bản nữa.
Tuy nhiên, thuật ngữ “vốn đầu tư xây dựng cơ bản” vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản pháp luật hiện nay. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau: Vốn ngân sách nhà nước; Vốn công trái quốc gia; Vốn trái phiếu Chính phủ, Vốn trái phiếu chính quyền địa phượng, Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và Vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, Các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo quá trình đầu tư các công trình được thực hiện theo đúng kế hoạch và tiến độ đã được xác định.binh 9 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được sử dụng chủ yếu để đầu tư cho các công trình dự án không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạ tầng theo đối tượng sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các luật khác.
Do đó, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động về kinh tế, xã hội và môi trường. Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn, cần có cơ chế để giải quyết nguồn huy động vốn trong điều kiện nền kinh tế còn thiếu vốn đầu tư. Phải kết hợp huy động vốn từ các nguồn vốn ngoài nước. Tự do hoá việc giao lưu các nguồn vốn trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, kích thích sự hình thành thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán.
Đối với cơ chế quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cần phải kiểm soát quá trình đầu tư xây dựng cơ bản bằng pháp luật. Hoàn chỉnh các cơ chế về vay vốn đầu tư, sử dụng vốn đầu tư, trả nợ và thu hồi vốn đầu tư. Trong việc giao vốn và bảo toàn vốn đầu tư cần giải quyết việc bảo toàn và phát triển vốn dưới cả hai hình thức giá trị lẫn hiện vật, phải gắn chế độ khấu hao nhanh để đẩy nhanh tốc độ đổi mới kỹ thuật và công nghệ. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản Qui mô vốn đầu tư lớn: Là các công trình xây dựng được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, đa số là các công trình lớn, có phạm vi ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế - xã hội; tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của các vùng, địa phương hoặc ngành của nền kinh tế.
Về khả năng thu hồi vốn: Mặc dù tất cả các dự án đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước đều là những công trình có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế nhưng khả năng thu hồi vốn lại rất thấp, thậm chí không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; do vậy, các dự án này thường không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác. Nói cách khác, đầu tư từ ngân sách nhà nước là hoạt động đầu tư chỉ hướng vào các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế không được phép đầu tư (an ninh quốc phòng như cảng biển, sân bay,.) hay không muốn đầu tư vì không thu được lợi ích trực tiếp (hồ, thủy lợi, đê điều, nhà văn hóa, sân vận động cấp huyện…); hoặc không có khả năng đầu tư do phải sử dụng một lượng vốn đầu tư rất lớn như dự án đường cao tốc Bắc Nam, đường Hồ Chí Minh, đường dây 500KV… (Luan.binh 10 Nguồn vốn để thực hiện đầu tư là do ngân sách nhà nước cấp phát trực tiếp; đây là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với các hình thức đầu tư khác. Việc quản lý vốn đầu tư rất khó khăn, dễ thất thoát lãng phí; đây là đặc điểm rất quan trọng trong công tác quản lý vốn đầu tư; đặc biệt là vốn đầu tư xây dựng cơ bản; từ đó, đòi hỏi việc quản lý vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước phải được thường xuyên chú trọng, quản lý vốn cần theo đúng quy định của pháp luật. Chức năng và vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản * Chức năng của đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản có rất nhiều chức năng với mục tiêu làm thay đổi kết cấu, qui mô của tài sản cố định, để kích thích tăng trưởng kinh tế, trong đó các chức năng quan trọng nhất là: - Chức năng đầu tiên của đầu tư xây dựng cơ bản là tạo ra năng lực mới của đầu tư; các năng lực mới tạo ra giá trị sử dụng và thông qua đó các nhu cầu có thể được thỏa mãn; vì vậy chức năng này đảm bảo duy trì hoặc phát triển sản xuất sản phẩm hàng hóa dịch vụ; bảo vệ và cải tạo môi trường nhằm hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêu dùng.
- Chức năng thay thế của đầu tư xây dựng cơ bản biểu hiện khả năng thay đổi từng tổ hợp các nhân tố sản xuất và khả năng thay thế lẫn nhau của từng nhân tố này do kết quả của quá trình đầu tư; nó được thể hiện ở mức tiết kiệm chi phí trong khu vực sản xuất vật chất; cũng như trong khu vực dịch vụ nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của nền kinh tế với chi phí xã hội ít hơn. - Chức năng thu nhập và sinh lời được xác định bởi khả năng tạo ra thu nhập và sinh lời do quá trình đầu tư xây dựng cơ bản mang lại; là sự kết hợp các chức năng, năng lực và thay thế sẽ tạo điều kiện tăng tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân. Đặc trưng kết quả thu nhập đánh giá công dụng của đầu tư xây dựng cơ bản cũng như ảnh hưởng của nó bởi việc tạo ra mối quan hệ giá trị và thu nhập trong nền kinh tế; do đó, chức năng thu nhập và sinh lời cũng chính là tác động của nó trong tăng thu nhập của từng chủ thể trong hệ thống kinh tế làm ảnh hưởng đến việc tăng lợi nhuận và tổng thu nhập của các tổ chức kinh doanh và các tầng lớp dân cư trong nền kinh tế. Đầu tư vào các hoạt động kinh tế luôn phải tuân (Luan.