CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Tổng quan về kiểm soát thuế 1. Khái niệm về kiểm tra, kiểm soát Kiểm soát là một chức năng của quản lý. Kiểm soát thuế cũng vậy, đó là một chức năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế.
Trong khuôn khổ đề tài, tác giả chỉ đề cập đến việc kiểm soát của cơ quan Thuế đối với ĐTNT thông qua công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát ở tất cả các khâu của quá trình quản lý thuế. Do vậy, để hiểu được khái niệm về kiểm soát thuế chúng ta phải xuất phát từ chức năng quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng. Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất [15]. Đặc điểm của quản lý là tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
Hoạt động quản lý bao gồm các chức năng cơ bản: dự báo, hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm tra và đánh giá. Trong đó, kiểm tra là chức năng quan trọng, được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Kiểm tra là việc xem xét để đánh giá, phân loại, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu, kế hoạch đã định để điều chính các mục tiêu hay định hướng cho các hoạt động. Nếu nội dung kiểm tra cần thời gian dài, mức độ chi tiết, phạm vi rộng, tính chất phức tạp và thường gắn liền với xử lý thì được gọi là thanh tra.
Như vậy giữa kiểm tra và thanh tra không có một ranh giới rõ ràng. Kiểm soát là công việc nhằm soát xét lại những qui định, những quá trình thực thi các quyết định quản lý được thể hiện trên các nghiệp vụ để nắm bắt, điều hành và quản lý [14], [17]. Nói một cách chung nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm bắt và điều hành đối tượng quản lý. Như vậy có thể hiểu cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách hoặc biện pháp cụ thể; nội bộ đơn vị tự kiểm soát; cơ quan quản lý Nhà nước kiểm soát việc tuân thủ pháp luật đối với đối tượng quản lý theo quy định.
Luan van 4 Quá trình quản lý, kiểm soát phải tuân thủ theo ba bước cơ bản: Thứ nhất là xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dựa trên cơ sở của những mục tiêu quản lý. Thứ hai là đo lường việc thực hiện theo những tiêu chuẩn đã xây dựng. Ở bước này, người quản lý sẽ nhận được những thông tin về đối tượng quản lý. Thứ ba là dựa trên những thông tin thu thập được ở bước hai, người quản lý đánh giá, điều chỉnh các sai lệch trong việc thực hiện.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có chức năng tạo lập và bảo đảm môi trường kinh doanh ổn định, hướng dẫn và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tổ chức sắp xếp lại các đơn vị kinh tế và hệ thống quản lý, định hướng phát triển kinh tế thông qua điều tiết vĩ mô. Với những chức năng đó, đối tượng quản lý rất rộng: từ các doanh nghiệp cho đến các ngành, lĩnh vực khác nhau và trên nguyên tắc tất cả các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. đếu thuộc đối tượng quản lý của Nhà nước. Với cương vị quản lý vĩ mô, Nhà nước cũng thực hiện chức năng kiểm tra, thanh tra của mình nhằm kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội, ngăn ngừa phát hiện và xử lý các hiện tượng vi phạm pháp luật, thiết lập các trật tự kỷ cương, bảo đảm thực hiện các chương trình, mục tiêu đề ra.
Tóm lại kiểm soát là nhằm rà soát các vấn đề hiện tại và quá khứ đề hướng tới một tương lai tốt hơn, tiến bộ hơn. Kiểm soát thuế trong hệ thống quản lý 1. Khái niệm về kiểm soát thuế Thuế là một khoản phải nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo Luật với Nhà nước, không mang tính chất đối khoản và không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng [18]. Kiểm soát thuế là chức năng quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế.
Đó là kiểm tra, giám sát việc thực hiện các luật thuế của ĐTNT và các quy trình quản lý thuế do cơ quan Thuế ban hành nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ và thu kịp thời tiền Luan van 5 thuế vào NSNN, đồng thời đề cao tính tự giác chấp hành chính sách, pháp luật thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho DN trong việc kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế. Nội dung kiểm soát thuế ngày càng được sửa đổi bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội và chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó, nội dung kiểm soát thuế nhằm đảm bảo 2 mục tiêu cơ bản đó là đảm bảo tính tuân thủ pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế. Nhà nước cần có chính sách thuế phù hợp để vừa đáp ứng nguồn thu NSNN vừa động viên DN thục đẩy sản xuất kinh doanh.
Kiểm soát là một chức năng gắn liền với quá trình quản lý từ định hướng đến tổ chức thực hiện, nó không phải là một giai đoạn của quá trình quản lý mà được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Hay nói một cách khác, kiểm soát thuế bao gồm kiểm soát trước khi thực hiện, trong khi thực hiện và sau khi thực hiện. Trong quá trình hoàn thiện cơ chế chính sách thuế cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trong từng giai đoạn, hệ thống quản lý thuế Việt Nam đã chuyển từ mô hình quản lý theo đối tượng sang mô hình quản lý theo chức năng với cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp. Theo đó, cơ chế kiểm soát thuế Việt Nam đã được chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” sang cơ chế “hậu kiểm” theo một lộ trình nhất định.
Kiểm soát thuế được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình quản lý thuế theo mô hình chức năng từ kê khai đăng ký thuế đến cưỡng chế nợ thuế trong đó kiểm tra là chức năng chính để giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm của DN. Sự cần thiết phải kiểm soát thuế Để kiểm soát được NNT trong việc chấp hành các Luật thuế, CQT phải có một hệ thống các qui trình QLT để đảm bảo mọi NNT tuân theo. Dựa trên các qui trình đó, CQT không những kiểm soát được thuế mà còn kiểm soát được việc thực hiện các qui trình QLT trong nội bộ của ngành, cụ thể: - Kiểm soát thuế để đảm bảo nguồn thu quan trọng và kịp thời của NSNN : Thuế là một trong những công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Một nền kinh tế mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ trong nền kinh tế quốc dân đó.
Luan van 6 - Kiểm soát thuế để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội : bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là một cách lý thuyết mà phải được biểu hiện bằng luật pháp, chế độ, qui định rõ ràng của Nhà nước. Phải có những biện pháp chống thất thu có hiệu quả đối với các CSKD, về căn cứ tính thuế, về tổ chức quản lý thu thuế, về chế độ miễn giảm thuế, về công tác thanh tra, kiểm ta về thuế, xử lý nghiêm các vụ vi phạm theo qui định hiện hành. - Kiểm soát thuế để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định : khi ban hành một sắc thuế, Nhà nước đều có những qui định về đối tượng, phạm vi chịu thuế, thuế suất, điều kiện miễn giảm thuế…Các qui định này xét bề ngoài là một sự cưỡng chế, nhưng bên trong là nhằm mục đích điều chỉnh những quan hệ kinh tế xã hội nhất định.Việc phân biệt thuế suất theo từng loại thuế đối với các đối tượng và hình thức đầu tư, những qui định về ưu đãi thuế đối với một số ngành, vùng lãnh thuế, hình thức sỡ hữu vốn,…tự nó đã điều chỉnh việc bỏ vốn kinh doanh vào ngành nghề này hay ngành nghề khác của các DN mà không cần phải có sự hô hào, vận động của Nhà nước. Bởi vì NNT tự họ sẽ phải tính toán nên đầu tư vốn vào đâu có lợi và ngược lại.
- Kiểm soát thuế để góp phần khuyến khích, thúc đẩy phát triển SXKD theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược và toàn diện của Nhà nước : Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định. - Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật thuế của các cấp trong ngành thuế, công chức thuế và NNT ; chống thất thu ngân sách về thuế, thực hiện cải cách hành chính và hiện đại hóa ngành thuế theo chủ trương của Nhà nước. Tóm lại, thông qua việc kiểm soát thuế, Nhà nước có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở sử dụng hợp lý mọi nguồn nhân lực của đất nước trong việc điều chỉnh quan hệ cung cầu và cơ cấu kinh tế. Luan van 7 Từ vai trò nêu trên cho thấy việc kiểm soát thuế là rất cần thiết và vô cùng quan trọng trong quản lý của nhà nước.
Để kiểm soát được NNT trong việc tuân thủ các Luật thuế, CQT phải có một hệ thống quy trình nghiệp vụ có tính chất bắt buộc áp dụng cho toàn ngành để đảm bảo mọi NNT thực hiện. Dựa trên quy trình đó, CQT không những kiểm soát được thuế từ việc thanh tra, kiểm tra NNT mà còn kiểm soát được việc thực hiện quy trình quản lý thuế trong nội bộ của mình. Một số nội dung cơ bản về thuế GTGT và vai trò của thông tin kế toán trong công tác kiểm soát thuế GTGT 1. Một số nội dung cơ bản về thuế GTGT Thuế GTGT là loại thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông đến người tiêu dùng [1, tr.