Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THU, CHI BHXH TẠI CƠ QUAN BẢO HIỂM CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm vai trò của quỹ BHXH 1. Khái niệm về BHXH Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản. Kết quả này đã được thế giới ghi nhận và cùng nhau cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp với tình hình của từng quốc gia, từng thời điểm.
Trước đây khi chưa có Luật BHXH, khái niệm về BHXH được tiếp cận và hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau [6], [9] Dưới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, có chức năng giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến tầng lớp lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và sự ổn định quốc gia. Dưới góc độ quản lý: BHXH là một công cụ quản lý của Nhà nước để điều chỉnh, gắn kết mối quan hệ kinh tế giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong xã hội. Dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước. Quý BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung.
Dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết. Theo tổ chức lao động thế giới (ILO): BHXH “là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng 4 để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Ở Việt Nam, cơ quan Bảo hiểm Xã hội được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chính sách BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN. Người lao động khi tham gia BHXH bắt buộc thì đồng thời tham gia cả BHYT, BHTN và BHTNLĐ, BNN, vì vậy khi nói đến BHXH thường được hiểu đã bao gồm cả BHYT, BHTN và BHTNLĐ, BNN.
Tuy nhiên, khái niệm về BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN lại được thể hiện riêng lẻ và cụ thể theo Luật BHXH, Luật BHYT và Luật việc làm, Luật an toàn vệ sinh lao động. Hiện nay, văn bản pháp luật quy định chi tiết nhất, hoàn chỉnh và cụ thể về bảo hiểm xã hội là Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13. Cùng với đó là các nghị định, văn bản pháp luật khác quy định, hướng dẫn về bảo hiểm xã hội như Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, Nghị định số 143/2018/NĐ-CP, Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH, Thông tư 06/2021/TT-BLĐTBXH… Vậy nên, theo Luật BHXH thì khái niệm BHXH được hiểu là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH [6], [7], [9], [12]. Như vậy, có thể thấy BHXH là một trong những chính sách an sinh hữu ích đối với người tham gia, do Nhà nước tổ chức và được bảo đảm thực hiện dựa trên các văn bản pháp lý.
Trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH, người tham gia sẽ được bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập chính do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện. BHXH vừa để thực hiện các mục đích xã hội, vừa để thực hiện các mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia. Đặc điểm - BHXH là chính sách an sinh xã hội của Đảng và nhà nước, đảm bảo 5 cho NLĐ có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn trong cuộc sống, BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, không vì mục đích kinh doanh thu lợi nhuận mà vì mục đích phục vụ cộng đồng xã hội trên phạm vi toàn quốc [6], [7], [9] - BHXH đảm bảo quyền lợi, bảo hiểm cho NLĐ trong và sau quá trình lao động.
Có nghĩa là khi đã tham gia vào hệ thống BHXH, NLĐ được bảo hiểm đến lúc chết, thậm chí thân nhân của người tham gia BHXH cũng được hưởng các chế độ chính sách liên quan [6], [7], [9]. - NLĐ phải có nghĩa vụ đóng BHXH, chủ sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng BHXH cho NLĐ do mình ký kết hợp đồng lao động để được hưởng các chế độ BHXH. Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH là nguồn hình thành nên quỹ BHXH. Quỹ BHXH được dùng để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ [6], [7], [9].
- BHXH chỉ bảo đảm cho các rủi ro của bản thân NLĐ, không bảo đảm cho các rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự như các loại bảo hiểm thương mại khác [6], [7], [9]. - Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở thời gian đóng, mức đóng( căn cứ đóng) và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH. - Sự tương hỗ trong BHXH được thực hiện trong toàn xã hội, ở một cộng đồng rộng rãi, nhằm chia sẻ rủi ro - BHXH là một hoạt động thỏa thuận và không thỏa thuận. Điều này thể hiện ở chỗ: hiện nay có 2 hình thức để người dân có thể đăng ký tham gia, tùy theo nhóm đối tượng bắt buộc tham gia và tham gia tự nguyện.
Với mỗi hình thức, người tham gia sẽ được hưởng những quyền lợi và chế độ khác nhau [6], [7], [9]. Vai trò a) Đối với NLĐ [7], [8] NLĐ là lực lượng đông đảo nhất, tạo ra của cải vật chất và dịch vụ chủ yếu cho xã hội. Những rủi ro như ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN,.có thể xảy 6 ra với bất kỳ NLĐ nào, tại bất kỳ thời điểm nào, gây rất nhiều khó khăn, tổn thất cả về vật chất và tinh thần cho NLĐ và gia đình họ. Khi đó NLĐ và gia đình họ rất cần sự chia sẻ, giúp đỡ từ các yếu tố xung quanh để nhanh chóng phục hồi khả năng lao động, nhanh chóng quay trở lại quá trình sản xuất, tạo ra của cải vật chất để đảm bảo cuộc sống hàng ngày.
Có Quỹ BHXH sẽ trợ giúp bằng cách thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm hoặc bị mất cho NLĐ và gia đình họ. đây là chỗ dựa tinh thần để NLĐ yên tâm làm việc, giúp họ phát huy khả năng sáng tạo trong lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất, tạo thêm nhiều của cải vật chất cho gia đình, cho xã hội. b) Đối với NSDLĐ [7], [8] Một đơn vị SDLĐ muốn ổn định và phát triển sản xuất thì không thể thiếu sự đóng góp của NLĐ, ngoài việc đầu tư vào máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng.còn phải chăm lo đến đời sống cho NLĐ. Bởi NLĐ có làm việc liên tục, hiệu quả thì quá trình sản xuất kinh doanh mới diễn ra thông suốt.
Tuy nhiên trong quá trình sản xuất cũng như trong đời sống, rủi ro có thể đến bất cứ lúc nào với NLĐ, lúc đó NSDLĐ phải bỏ ra chi phí đền bù, hỗ trợ NLĐ bị rủi ro, phải thuê mướn công nhân mới, mất thời gian, công sức đào tạo công nhân mới dẫn đến gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng xấu đến năng suất lao động và doanh thu. Lúc này Quỹ BHXH sẽ giúp góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính cho NSDLĐ. NLĐ và NSDLĐ luôn tồn tại những mâu thuẫn nhất định về tiền lương, tiền công, thời gian lao động,.Và khi có rủi ro xảy ra nếu không có sự trợ giúp của BHXH thì rất dễ xảy ra tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ. BHXH góp phần tạo môi trường làm việc ổn định cho NLĐ, tạo sự gắn kết, rang buộc và có trách nhiệm giữa NLĐ và NSDLĐ, góp phần đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và hiệu quả cao.
7 c) Đối với nền kinh tế [7], [8] BHXH đảm bảo để NLĐ yên tâm làm việc, phân phối lại thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, từ đó NLĐ hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân, làm tăng năng suất lao động xã hội. Do đó sản phầm được tạo ra cho xã hội ngày một tăng lên, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và quốc tế. Đồng thời, giảm chi cho ngân sách Nhà nước thay vào đó, Ngân sách Nhà nước sẽ tăng thêm thông qua việc thu thuế từ các doanh nghiệp sản xuất nói trên. BHXH góp phần kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc “số đông bù số ít”. Do tính đặc thù giữa thời gian khoản tiền đóng góp của các bên tham gia BHXH và thời gian khoản chi trả trợ cấp BHXH cho những người hưởng chế độ không trùng nhau, đã tạo cho quỹ BHXH có nguồn tiền tạm thời “nhàn rỗi”. Khoản tiền tạm thời “nhàn rỗi” được sử dụng cho hoạt động đầu tư sinh lời bảo tồn giá trị cho quỹ BHXH. Quỹ BHXH được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng, được phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối lại thu nhập các nguồn lực giữa các chủ thể tham gia tạo lập và sử dụng quỹ BHXH.
Những luận cứ trên đây đã chứng minh rằng bên cạnh mục tiêu hoạt động BHXH là an toàn xã hội về kinh tế cho mọi người trong cộng đồng, thì BHXH còn là một hình thức huy động vốn. Và với sức mạnh về tài chính của mình cùng với sự quản lý của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần ổn định tài chính, tiền tệ quốc gia. d) Đối với xã hội [7], [8] BHXH góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Bởi BHXH góp phần điều hòa, hạn chế các mâu thuẫn giữa NSĐ và NSDLĐ, góp phần tạo ra một môi trường làm việc ổn định.
Đối tượng tham gia BHXH bao gồm NSDLĐ, NLĐ và Nhà nước, đây là những thành phần của xã hội và thụ hưởng các chính sách BHXH. NLĐ tham gia BHXH là thực hiện trách nhiệm 8 của mình với cộng đồng và xã hội để bảo vệ quyền lợi trực tiếp cho chính bản thân mình.