đặt vấn đề về tư duy của các nhà hoạch định chính sách để đưa Luật cạnh tranh vào thực tiễn. Nghiên cứu này nêu lên những vấn đề lý thuyết liên quan đến thực thi pháp luật, đó là giải quyết mâu thuẫn giữa cạnh tranh hay hợp tác, mở cửa hay bảo hộ. trong nền KTTT để thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT đạt được kết quả mong đợi. - Những nghiên cứu liên quan đến thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT đi vào thực trạng thực hiện pháp luật trong thời gian qua, bao gồm những nghiên cứu chung và đi vào các lĩnh vực cụ thể: Hội thảo: "5 năm thực thi pháp luật cạnh tranh trong kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam" của Hội đồng cạnh tranh Việt Nam (VCC), Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên giai đoạn III (EU- Viet Nam MUTRAP III) [40] đã có nhiều tham luận đã nêu lên các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về 15 kiểm soát TTHCCT như: Vướng mắc trong các quy định và thực thi các quy định của pháp luật về xử lý vụ việc cạnh tranh, một số vấn đề thực tiễn về điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh, thực tiễn giải quyết các vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam.
Cuốn sổ tay: "Hành vi hạn chế cạnh tranh: Một số vụ việc điển hình của châu Âu" của Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU - Việt Nam MUTRAP III) [27] đã phân tích và bình luận về TTHCCT theo pháp luật EU và những khuyến nghị về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT của Việt Nam trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện pháp luật thời gian qua. Luận án đã tham khảo được nhiều kinh nghiệm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT từ tài liệu này. Nghiên cứu tổng quát nhất về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT: "Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam" của Cục Quản lý cạnh tranh [15] đã công bố những nội dung rà soát đối với các chế định pháp luật cạnh tranh, đánh giá kết quả thực thi các quy định hiện hành về kiểm soát TTHCCT. Kết quả rà soát cho thấy những tác động tích cực cũng như những bất cập qua 05 năm thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
Những kết quả rà soát của tài liệu này mang giá trị thực tiễn cao, là tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài nghiên cứu. Tại Hội thảo 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh ở Việt Nam và những bài học kinh nghiệm của châu Âu do Hội đồng Cạnh tranh Việt Nam phối hợp với Dự án hỗ trợ Chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) tổ chức tháng 12 năm 2014 có bài tham luận của tác giả F. Naert về "Xử lý Cartel" [49] nhận định rằng thực tiễn thực thi cho thấy các-ten ngày càng tinh vi, có thể tồn tại dưới rất nhiều hình thức như thỏa thuận, trao đổi thông tin lỏng lẻo, thông đồng ‘ngầm’, phối hợp hành động. và để xử lý cần áp dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ phối hợp lẫn nhau.
Các diễn giả trong hội thảo cũng nghiên cứu và thảo luận về các vấn đề lý thuyết áp dụng pháp luật như: Loại bằng chứng, xác định mức thiệt hại, khoan hồng khi xử lý TTHCCT. Ngoài ra còn có các tham luận về quá trình tố tụng cạnh tranh và tố tụng hành chính của 04 vụ việc hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam, thị phần và vai trò trong giải quyết vụ việc TTHCCT, vai trò của hiệp hội doanh nghiệp. Đề tài đã tham khảo các thông tin về tình hình 16 thực hiện pháp luật trong vòng mười năm qua, những bình luận về pháp luật và thực hiện pháp luật, về vai trò của nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Hội thảo: "Đánh giá 10 năm thực thi luật và chính sách cạnh tranh tại Việt Nam" của Cục Quản lý cạnh tranh [21] đã tập trung vào điểm mấu chốt là mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan quản lý ngành để thực hiện tốt cả hai nhiệm vụ là bảo vệ cạnh tranh và điều tiết ngành.
Hội thảo có các tham luận đánh giá tổng quan về kết quả thực thi Luật cạnh tranh; các hoạt động phối hợp xây dựng và thực thi Luật và chính sách cạnh tranh giai đoạn 2005-2015; mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan cạnh tranh và Cơ quan quản lý ngành trong hoạt động xây dựng và thực thi chính sách và pháp luật cạnh tranh. Giá trị tham khảo tài liệu hội thảo là những thông tin về tình hình thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh trong vòng mười năm qua, vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc áp dụng pháp luật và mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác trong thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Bộ tài liệu mang tên chung: "Hồ sơ các vấn đề cạnh tranh" của CUTS Hanoi Resource Centre [10] đã có bài viết về các vấn đề cạnh tranh ở Việt Nam, đưa ra những phân tích về pháp luật và các vụ việc vi phạm pháp luật. Một phần nhỏ phân tích và bình luận vụ việc TTHCCT trong bộ tài liệu này đã gợi mở những ý tưởng về chính sách và pháp luật để có thể đảm bảo thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT trong thực tiễn Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu như Luận án tiến sĩ Luật học: "Pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thị Tình [61] không nghiên cứu tổng quát thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT mà nghiên cứu về những lĩnh vực cụ thể, trong đó có liên quan đến thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT. Tuy thế, những nội dung nghiên cứu này cũng góp phần làm rõ hơn về thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHCCT trên nền tảng lý thuyết chung của pháp luật cạnh tranh. Để đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh, Luận án tiến sĩ Kinh tế: "Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh của Việt Nam" của Trịnh Anh Tuấn [68] đã đưa ra các tiêu chí đánh giá cụ thể, xem xét thực trạng 17 và từ đó kết luận nguyên nhân dẫn đến hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong thời gian qua chưa cao. Tuy đã làm rõ góc độ đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật, công trình này không tiếp cận vào nội dung thực hiện pháp luật của từng hình thức tuân thủ, sử dụng, thi hành và áp dụng pháp luật về kiểm soát TTHCCT.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài dưới góc độ kinh tế học về TTHCCT rất đa dạng, phong phú. Trong đó giải nghĩa về thuật ngữ TTHCCT dưới góc độ kinh tế của công trình: "The Concise Encyclopedia Of Economic" (Bác khoa toàn thư về kinh tế) của David R.Henderson [84] được nhiều nghiên cứu sau này dẫn nguồn và công nhận các nội dung về khái niệm TTHCCT, nguồn gốc dẫn đến hình thành TTHCCT, động cơ của các bên tham gia TTHCCT, bản chất của một TTHCCT là sự "đồng thuận" giữa các bên dưới bất cứ hình thức nào để hạn chế cạnh tranh giữa họ nhằm đem lại lợi ích cao nhất. Trong công trình "Kinh tế học" của David Begg, Stanley Fisher và Rudiger Dornbusch [4], các tác giả sử dụng lý thuyết kinh tế hiện đại để xác định nguyên nhân hình thành và bản chất của một TTHCCT để đi đến kết luận rằng một TTHCCT theo chiều ngang (các-ten) có khả năng gây tác hại rất lớn cho nền kinh tế, thậm chí là một loại "ung nhọt" của thị trường, các nhà nước cần phải sử dụng những chính sách vi mô và vĩ mô để kiểm soát nó.
Các tác giả cũng đưa ra những trường hợp TTHCCT vi phạm pháp luật đã bị xử lý và bình luận về một số điều kiện thị trường, yếu tố tác động đã thúc đẩy hình thành và phát triển của TTHCCT. Bộ sách: "Foundations and Trends® in Microeconomics" (Những nền tảng và xu hướng trong kinh tế vi mô) của Joseph E. Tác giả nghiên cứu khoảng 20 Quyết định giải quyết vụ việc các-ten của Ủy ban Châu Âu trong giai đoạn 2000-2004 dưới góc độ kinh tế học để rút ra cơ chế vận hành của một các-ten. Các công trình nghiên cứu về TTHCCT dưới góc độ kinh tế khác cũng tương tự hai công trình trên, tập trung làm rõ khái 18 niệm, nguồn gốc, bản chất, động cơ hình thành.
và cơ chế phá vỡ TTHCCT một cách hữu hiệu nhất. Các nghiên cứu về TTHCCT dưới góc độ luật học tập trung vào rõ vấn đề thống nhất ý chí của một TTHCCT. Trong bài nghiên cứu về: "Combinations, Concerted Practices and Cartels: Adopting the Concept of Conspiracy in European Community Competition Law" (Sự kết hợp, phối hợp hành động và TTHCCT: Áp dụng khái niệm về âm mưu trong Luật cạnh tranh EU) của tác giả Julian M. Joshua & Sarah Jordan [103] hướng tới xác định khái niệm rộng nhất của "thỏa thuận" theo hai hệ thống pháp luật cạnh tranh nổi bật nhất hiện nay là pháp luật cạnh tranh EU và Hoa Kỳ.
Tác giả nhận định rằng để có một TTHCCT, trước hết, phải có một "thỏa thuận", và chỉ cần chứng minh các bên có "thỏa thuận" với nhau là có thể xác định vi phạm pháp luật chứ không đòi hỏi chứng minh các bên đã có hành động trong thực tiễn. Cho rằng trong thực tế việc xác định một TTHCCT là công việc khó khăn vì cơ sở lý luận và pháp lý về TTHCCT còn nhiều điểm chưa hoàn thiện, trong các bài viết: "Objective and Subjective Theories of Concerted Action” (Lý thuyết về chủ thể và đối tượng của hành động phối hợp) và The Gary Dinners and the Meaning of Concerted Action" (Vụ việc The Gary Dinners và ý nghĩa của hành động phối hợp) của William H. Page [127] đã cho rằng có ba câu hỏi cơ bản cần đặt ra khi áp dụng pháp luật: Thứ nhất, thế nào là một thỏa thuận? Thứ hai, những bằng chứng cần thiết để chứng minh thỏa thuận? Và cuối cùng, nếu đúng là có một thỏa thuận và đã được chứng minh, thỏa thuận đó hạn chế thương mại không? Những luận cứ này đã khơi mở tiếp cho những nghiên cứu nối tiếp như là: "EU Concerted Practices & US Concerted Actions: Beyond William H. Page's Proposal" (Phối hợp hành động của EU và phố hợp hành động của Hoa Kỳ: Theo giả thuyết của William H.