Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ 1. Khái niệm môi trường đầu tư Trong quá trình tìm kiếm cơ hội dau tư ở nứơc ngoài, các nhà đầu tư luôn so sánh mức độ hấp dẫn và rủi ro giữa các yếu tố của môi trường đầu tư ở nứơc ngoài với các yếu tố của môi trường kinh doanh và chiến lược phát triển của nước họ. Họ chỉ quyết định đâu tư ra nước ngoài nếu xét thấy đầu tư ở nước ngoài có hiệu quả hơn đầu tư ở trong nứơc.Vậy môi trường kinh doanh ở nước đầu tư bao gồm những yếu tố gì và tác động của chúng như thế nào đối với thúc đẩy dòng vốn đầu tư ra nước ngoài? Như vậy, môi trường đầu tư “ Môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất “.
Cũng như môi trường đầu tư nứơc ngoài, môi trường kinh doanh ở nứơc đầu tư bao gồm tất cả các yếu tố về chính trị, chính sách pháp luật, vị trí địa lý diéu kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế và các đặc điểm văn hoá — xã hội. Mức độ hấp dẫn cuẩ từng yếu tố sẽ tạo ra những cơ hội hoặc rủi ro cho các nhà đầu tư, qua đó tác động mạnh đến quyết định của họ trong việc so sánh nên đầu tư ở trong nứơc hay chuyển đầu tư ra nứơc ngoài .Tuy nhiên, ngoài các yếu tố tạo nên sự thuận lợi của môi trường đầu tư trong nứơc, quyết định dau tư ra nứơc ngoài của các nhà đầu tư còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ những thay đổi chính sách kinh tế vi mô, các hoạt động thúc đẩy đâu tư ra nứơc ngoài của chính phủ và tiém lực kinh tế — khoa học công nghệ của nứơc họ. Hiện nay, môi trường dau tư vốn di không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia như trước đây, mà còn liên thông mạnh mẽ với môi trường đầu tư toàn câu. Điều này chỉ có được khi thiết lập được “ Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người” tuân thủ theo những luật chơi quốc tế.
Nghĩa là không còn tình trạng phân biệt doanh nghiệp lớn nhỏ, doanh nghiệp trong nứơc và nứơc ngoài, DNNN và DN ngoài quốc doanh, và mang lại lợi ích cho toàn bộ người nghèo chứ không chỉ cho khu vực doanh nghiệp. Do đó, tất cả những cải cách chính sách từ phía chính phủ chung qui vẫn là cố gắng tạo ra một môi trường dau tư ít rủi ro, chỉ phí cơ hội thấp và ít cẩn trở nhà đầu tư trong quá trình hoạt động mang tính cạnh tranh của họ.Trong quá trình thu hút ĐTNN các quốc gia đều rất nỗ lực để tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi , thường xuyên thay đổi các chính sách để môi trường đâu tư trở nên hấp dẫn và cạnh tranh thu hút nhiều ĐTNN. Chẳng hạn sửa đổi các qui định về vốn, lĩnh vực đầu tư nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nứơc và nứơc ngoài. Thực tế cho thấy: quốc gia nào có môi trường đầu tư thuận lợi và ổn định, quốc gia đó có cơ hội thu hút được nhiều vốn đầu tư quốc tế hơn.
Trong điều kiện hiện nay, các quốc gia đang cạnh tranh để nhằm thu hút càng nhiều DTNN, chính vì thế các quốc gia không ngừng cải thiện môi trường đầu tư của mình để môi trường đầu tư của họ ngày càng bên vững hơn.Phát triển bén vững môi trường đâu tư và sự cần thiết phải phát triển bén vững môi trường đầu tư 1.1 Phát triển bền vững. Theo định nghĩa của Hội Nghị của Liên Hiệp Quốc về môi trường và phát triển họp ở Rio de Janerio thì : “ Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai “ + lŨ- Như vậy khi nói đến phát triển bền vững người ta thường tập trung vào 3 nội dung trụ cột là : tăng trường kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Nhưng với phạm vi luận văn muốn để cập tới ảnh hưởng của thu hút đầu tư trong mối quan hệ phát triển bén vững vì thực tế trong đầu tư trực tiếp vấn để mối trường và bảo vệ môi trường có phần nào bị coi nhẹ vì các nhà dau tư cũng như khi tiếp nhận đầu tư phần nào chú ý tới tăng trưởng kinh tế nên đã vắt kiệt những nguồn tài nguyên, bất chấp đến việc huỷ hoại môi trường sinh thái. Thiên nhiên có thể chịu đựng nổi sự bóc lột qúa của con người ở một giới hạn nào đó, nhưng cứ kéo dài mãi sự bóc lột thiên nhiên thì các hệ sinh thái và các tài nguyên thiên nhiên sẵn có sẽ sụp đổ.
Đến lúc này con người sẽ phải gánh chịu tất cả những hậu quả tai hại do thiên nhiên gây ra như: hạn hán, lụt lội, động đất. Tất cả những hậu quả này đã và đang xảy ra trên thế giới và càng ngày càng ở mức độ trầm trọng hơn. Vì thế cần phải quan tâm đến việc phát triển bén vững môi trường dau tư. Sự cần thiết phát triển bền vững môi trường đầu tư Phát triển bển vững môi trường đầu tư là điều thiết yếu vì một môi trường đầu tư bén vững sẽ thúc đẩy đầu tư có hiệu qua, tạo cơ hội và động lực cho các doanh nghiệp, từ các doanh nghiệp vi mô cho đến các công ty đa quốc gia, tạo công ăn việc làm, không gây ô nhiễm môi trường, mở rộng hoạt động cung cấp chủng loại hàng hoá, dịch vụ và giảm giá thành của chúng vi lợi ích người tiêu dùng, Do đó , có được môi trường dau tư bén vững sẽ giúp cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế bén vững.
Để có môi trường đầu tư bền vững chúng ta cần chú ý đến những vấn để sau: 1. Chính sách của chính phủ Chính sách của chính phủ đóng vai trò chủ chốt trong việc định hình môi trường đầu tư cho xã hội bao gồm 4 điểm chính như sau : - Môi trường đầu tư hấp dẫn cho nha dau tư. xilƒ« - N6 lực cải thiện môi trường dau tư không chỉ dừng lại ở việc giảm chi phí kinh doanh. - Cần có nhiều chính sách thu hút dau tư.
- Đánh giá lại các chiến lược, phát triển tiến hành một chương trình cải cách toàn diện. Mặc dù không thể cầu toàn để làm được tất cả mọi thứ cùng một lúc, nhưng để tiến bộ và phát triển thì thông thường một quốc gia cần giải quyết những trở ngại quan trọng theo hướng tạo cho doanh nghiệp niềm tin để đầu tư và duy trì quá trình đầu tư đang diễn ra. Bên cạnh đó, ngoài việc xem xét các chính sách cũng cần phải quan tâm đến phát triển bén vững môi trường dau tư với các yếu tố trọng yếu của nó, đó là: 1. Sự ổn định , an ninh và an toàn tài chính quốc gia - Xây dựng một định hướng, chiến lược ổn định và lâu dài, tránh những thay đổi lớn đột biến trong định hướng , làm hoang mang các nhà đầu tư.
- Giám sát hiệu quả sử dụng vốn dau tư nhất là nguồn vốn từ nude ngoài - Hoàn thiện các chính sách tài chính thông qua việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh các văn bản pháp qui, các phương pháp kiểm tra và giám sát tài chính đối với hoạt động đầu tư nói chung và dau tư nước ngoài nói riêng. - Hệ thống chính sách tài chính cần bao quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. - Quần lý nhà nước về ngoại hối, vay nợ nứơc ngoài đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. - Chính sách quản lý và giám sát các tác động tích cực của nhà đầu tư nứơc ngoài về bảo vệ môi trường và biện pháp xử lý.
- Điều tiết cải thiện được phúc lợi xã hội và môi trường đầu tư khi nó đối phó với những tổn thất vì thất bại thị trường một cách có hiệu quả s 2+ 1. Thuế và môi trường đầu tư. Chúng ta biết chừng nào chính phủ còn áp đặt thuế thì chừng đó còn nhiều người đóng thuế phải phan nàn. Các doanh nghiệp dau tư kể cả trong nước lẫn nước ngoài tại các nước đang phát triển cũng không là ngoại lệ, vì họ cho rằng thuế suất là trở ngại chủ yếu đối với hoạt động của họ.
Thuế ảnh hưởng đến động cơ của các doanh nghiệp trong việc đâu tư có hiệu quả, do đó, nó làm yếu đi mối quan hệ giữa nỗ lực và kết quả và bằng cách tăng chỉ phí đầu vào sử dụng trong quá trình sản xuất. Thuế suất và chỉ phí hành chính đều quan trọng. Thêm vào đó, khi áp đặt hoặc sử dụng không công bằng, thuế có thể làm méo mó cạnh tranh. Các rào can điều tiết đối với đầu tư nước ngoài Nhằm giảm bớt các rào cẩn, những qui định phân biệt đối xử với các nhà đâu tư nứơc ngoài thường có một trong 3 mục tiêu : - Thứ nhất, những qui định nhằm tìm kiếm FDI nhưng đồng thời tăng cường sự lan toả tới nên kinh tế trong nước bằng cách áp đặt những yêu cầu khi gia nhập liên doanh với các doanh nghiệp trong nước hoặc đáp ứng được những yêu cầu khác.
- Thứ hai, những qui định nhằm loại trừ hoặc nếu không thì liên kết chặt chẽ hơn sự tham gia của nước ngoài vào những khu vực được coi là đặc biệt “ Nhay cảm “ như cơ sở hạ tang, và truyền thông. - Thứ ba, nhằm kiểm soát tác động không ổn định tiềm ẩn của các luéng vốn ngắn hạn lớn do chú trọng đến cơ cấu đầu tư ngắn hạn chứ khong phải FDI 1. Tài chính va co sở hạ tang. Khi hoạt động tốt, các thị trường tài chính liên kết các doanh nghiệp với những người cho vay và các nhà đầu tư muốn cấp tién cho các liên doanh và chia sẻ một số rủi ro của họ, vì cơ sở ha tang tốt liên kết họ với khách hàng và các nhà cung ứng và giúp họ tận dụng những công nghệ sản xuất « ]3* hiện đại.
Ngược lại , việc thiếu tài chính và cơ sở hạ tang tạo ra những rào cần cơ hội và làm tăng các chỉ phí đối với nhiều doanh nhân nhỏ ở nông thôn cũng như các công ty đa quốc gia.