phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm bốn (04) chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về KSNB Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng KSNB quy trình mua hàng và thanh toán tại NIPPO VN Chƣơng 4: Giải pháp để nâng cao hiệu quả của KSNB tác động tới quy trình mua hàng và thanh toán tại NIPPO VN. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KSNB 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Hoạt động kinh doanh chủ yếu NIPPO VN là sản xuất và gia công, một phần rất nhỏ là thƣơng mại.
Chính vì vậy mà quy trình mua hàng và thanh toán là một trong những quy trình đƣợc quan tâm nhất tại đây. Việc kiểm soát tốt quy trình mua hàng và thanh toán không những kiểm soát đƣợc chi phí đầu vào mà còn kiểm soát đƣợc chất lƣợng của hàng hóa dịch vụ đơn vị mua vào nhất là với những hàng hóa tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cấu thành nên sản phẩm. Do vậy việc kiểm soát quy trình mua hàng và thanh toán mang một ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đƣợc sứ mệnh của mình: đảm bảo chất lƣợng đã cam kết và mang lại hiệu quả kinh tế tối ƣu cho các nhà đầu tƣ. Tổng quan nghiên cứu nước ngoài Từ năm 1999, bộ quy tắc quản trị công ty đầu tiên do OECD ban hành đã yêu cầu các công ty phải xây dựng HTKSB.
Từ đó đến nay trải qua 4 lần sửa đổi và chỉnh lý và nó đã trở thành một bộ hƣớng dẫn toàn diện và hiện đại về quản trị công ty. Các nguyên tắc này đƣợc sử dụng nhƣ một khung tham chiếu cho các nƣớc thành viên OECD và các nƣớc khác trên thế giới trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản trị công ty của mình. Có thể thấy, quản trị công ty không phải là một vấn đề của riêng quốc gia nào mà nó đã trở thành vấn đề chung của toàn cầu. Thế giới đã chứng kiến những vụ bê bối tài chính với mức độ ảnh hƣởng đáng sợ nhƣ vụ bê bối kế toán lớn tại Enron và WorldCom xảy ra tại Hoa Kỳ năm 2001 đã làm thiệt hại hàng tỷ đô la cho các nhà đầu tƣ và khiến nhiều ngƣời mất niềm tin vào thị trƣờng chứng khoán.
Sau những vụ bê bối đó ắt sẽ có những công cụ từ các chính phủ để chống lại gian lận. J-SOX đã ra đời vào năm 2006, sau Đạo luật Sarbanes- Oxley (SOX) của Hoa Kỳ 04 năm (SOX đƣợc thông qua vào ngày 30 tháng 7 năm 2002). Cả SOX và J-SOX đều yêu cầu các công ty phải thiết lập và duy trì KSNB để đảm chất lƣợng của báo cáo tài chính do các công ty lập và công bố. Đến nay 6 yêu cầu của J-SOX không chỉ dừng lại ở mức độ công ty mà đã đƣợc nâng cấp đến mức độ quy trình và mức độ giao dịch.
Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về KSNB bao gồm nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố cấu thành của nó đến hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp. Các nghiên cứu này đã chỉ ra những tổ chức có KSNB hữu hiệu sẽ đảm bảo hoạt động của tổ chức đƣợc diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, thực hiện đƣợc những mục tiêu kế hoạch đã đặt ra. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài về KSNB và KSNB quy trình mua hàng nhƣ sau: Nhóm tác giả (Nooraslinda Abdul Aris, Siti maznah Arif, Rohana Othman, Norlela Zaini, 2013) đã thực hiện nghiên cứu “Khung cơ chế kiểm soát nội bộ để phòng chống gian lận ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp ô tô”. Nhóm tác giả nhận định rủi ro gian lận đã trở thành một thực tế phổ biến có thể tồn tại trong bất kỳ thực thể kinh tế nào.
Cả gian lận bên trong và bên ngoài đều gây ra lãng phí đáng kể cho tổ chức/doanh nghiệp. Khảo sát gian lận của KPMG Malaysia năm 2009 công bố rằng các tổ chức khó tránh khỏi sự phá hủy do những kẻ gian lận, đặc biệt là các tổ chức vừa và nhỏ. Việc này đòi hỏi phải xây dựng hệ thống phòng ngừa, kịp thời phát hiện và giảm thiểu rủi ro để làm giảm thiểu gánh nặng tài chính và phi tài chính cho các tổ chức. Nghiên cứu này cũng đề xuất một khung kiểm soát nội bộ để phát hiện gian lận đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp ô tô.
Nhóm tác giả gồm Nor Hafizah Abdul Rahman, Noradiva Hamzah, Adibah Jamaluddin và Khairul Azman Aziz (2019) đã nghiên cứu đề tài “Thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả để ngăn ngừa gian lận”. Nhóm tác giả đã nghiên cứu dựa trên các bài viết về hiệu quả kiểm soát nội bộ đƣợc xuất bản từ năm 2000 đến năm 2018. Sau 5 giai đoạn xem xét nghiên cứu, nhóm tác giả đã có một số phát hiện và chỉ ra rằng kiểm soát nội bộ hiệu quả có thể làm giảm rủi ro kinh doanh một cách hợp lý và ngăn ngừa sự xuất hiện của gian lận. Nghiên cứu của các tác giả nói trên cũng đã thu hoạch đƣợc một số phát hiện cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo trong tƣơng lai hiệu quả kiểm soát nội bộ trong việc đánh giá rủi ro kinh doanh đối và phòng ngừa gian lận.
7 Owusu-Ansha (2019) nghiên cứu về mức độ ảnh hƣởng của HTKSNB đến hiệu quả hoạt động của một tổ chức trong lĩnh vực công. Nghiên cứu này đƣợc thực hiện để đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị công quản của MMDA. Kết quả cho thấy rằng hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại sẽ mang lại hiệu quả trong việc đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Nhóm tác giả: Nicholas Renaldo, Sudarno, Marice Br.
Hutahuruk (2020) Nghiên cứu về nhận diện và xác định hiệu quả của KSNB với các khoản phải thu tại Công ty Cổ phần SP. Công ty này có những khoản phải thu tồn đọng trong giai đoạn 2013-2019, khoản phải thu đó sẽ đƣợc xóa sổ. Lý thuyết mô hình chính đƣợc sử dụng trong nghiên cứu này là COSO (Ủy ban Tổ chức Bảo trợ) để đánh giá tính hiệu quả kiểm soát nội bộ. Nhóm tác giả gồm (Twesigye Nduhura, Beatrice Juliet Nakalanzi, Brian Ssempebwa, Toriola Funke Christiana, Baker Ainebyona Wilcky , Baker Anita Muhairwe, 2022) đã có nghiên cứu đánh giá tác động của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả mua sắm tại Hiệp hội Nhân quyền Uganda.
Cụ thể, nghiên cứu đã nghiên cứu hiệu quả của môi trƣờng kiểm soát nội bộ, hoạt động kiểm soát nội bộ và quy định và quy định mua sắm; 1. Tổng quan nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về HTSKNB nhƣng các nghiên cứu về KSNB trong một doanh nghiệp cụ thể đối với một quy trình cụ thể chƣa nhiều. Trong quá trình thực hiện luận văn này tác giả đã tiến hành tham khảo và kế thừa một số bài báo khoa học và luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đã công bố tại Việt Nam có nội dung liên quan đến đề tài và có cùng các phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong nghiên cứu. Các nghiên cứu đó là: Phan Thị Ngọc Yến (2012) với đề tài “Tăng cƣờng kiểm soát nội bộ Chu trình mua hàng và thanh toán Tại công ty cổ phần kim khí miền trung”, với luận văn này tác giả đã nghiên cứu một số yếu tố của HTKSNB tại công ty cổ phần kinh doanh thƣơng mại, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sắt thép.
Tuy nhiên, luận án này đã đƣợc thực hiện cách đây khá lâu, lúc đó quan niệm về HTKSNB còn rất sơ khai 8 nên kết quả nghiên cứu và đề xuất của tác giả so với khung yêu cầu hiện tại của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế chƣa đƣợc đầy đủ. Đinh Hoài Nam (2016) với “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Các doanh nghiệp trong tổng công ty đầu Tƣ phát triển nhà và đô thị”. Đề tài đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong tổng công ty đầu tƣ phát Triển nhà và đô thị. Tuy nhiên đề tài này chƣa làm rõ các yếu tố để hoàn thiện hệ thống KSNB ở mức độ quy trình mà mới đề cập đến việc một hệ thống KSNB ở mức độ công ty.
Nguyễn Thị Phƣơng Lan (2018) nghiên cứu nhân tố ảnh hƣởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty cổ phần ở Việt Nam. Nghiên cứu này đã thảo luận về một số yếu tố ảnh hƣởng đến HTKSNB nhƣ: chiến lƣợc kinh doanh mà doanh nghiệp theo đuổi, cấu trúc tổ chức của Công ty, nhận thức của tổ chức về sự bất ổn của môi trƣờng bên ngoài, văn hóa tổ chức và một số hàm ý từ kết quả nghiên cứu. Nghiên cứu này cũng chƣa đi sâu vào các yếu tố cấu thành trong khung KSNB ở mức độ công ty nói chung, mức độ quy trình nói riêng. Nhóm tác giả gồm Trần Thị Cẩm Thanh, Lê Thị Thanh Mỹ, Trần Thị Bích Duyên, Trần Thị Quanh (2018), nhóm tác giả này đã đề cập đến các yếu tố cấu thành của HTKSNB qua đó đề xuất một số ý kiến với Nhà Nƣớc, với doanh nghiệp để “hoàn thiện kiểm soát nội bộ chu trình mua hàng”, tuy nhiên đây là một nghiên cứu chung ở mức độ quy trình và không đi vào cụ thể ở một loại hình hay một doanh nghiệp cụ thể nào.
Trần Thị Hồng Diễm (2021) với đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình mua sắm tài sản công tại Trƣờng Đại học Tiền Giang” với đề này Trần Thị Hồng Diễm sử dụng phƣơng pháp các nghiên cứu định tính để nghiên cứu ảnh hƣởng của 5 thành tố cấu thành KSNB đến quy trình mua sắm tài sản công. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng cũng nhƣ đề xuất các giải pháp “nhằm khắc phục những hạn chế, giảm thiểu các sai sót từ đó hoàn thiện KSNB quy trình mua sắm tài sản công tại Trƣờng Đại học Tiền Giang góp phần hoàn thiện hiệu quả sử dụng ngân sách.” Nghiên cứu này đã tập trung nghiên cứu KSNB ở mức độ quy trình của một 9 đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng ngân sách nhà nƣớc, không phải là một doanh nghiệp FDI.