Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NHTM Chương 2: Quy trình và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, Chi nhánh Hàng Trống Chương 4: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, Chi nhánh Hàng Trống 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NHTM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong thời gian gần đây, tình hình tham nhũng, vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng có những diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp, gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Những nguyên nhân chính dẫn đến các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng thời gian qua là do hoạt động ngân hàng, kinh doanh tiền tệ là một lĩnh vực nhạy cảm, hấp dẫn các đối tƣợng tội phạm và có nhiều cạm bẫy đối với bất cứ cán bộ ngân hàng nào không có lập trƣờng tƣ tƣởng vững vàng, non yếu nghiệp vụ.
Bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng phát triển nhanh, đa dạng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và hiện đại hóa công nghệ thông tin, trong khi việc xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách kiểm soát chƣa theo kịp yêu cầu thực tiễn quản lý đã làm nảy sinh những bất cập. Trƣớc tình hình này, yêu cầu về quản trị rủi ro hoạt động tại các NHTM chính là nhiệm vụ quan trọng cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả công tác quản trị NHTM, duy trì ổn định của các NHTM nói riêng và của cả thị trƣờng tài chính nói chung. Trong lĩnh vực nghiên cứu, kiểm soát nội bộ đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn với nhiều nội dung và khía cạnh khác nhau nhƣ các nội dung liên quan đến kiểm soát chất lƣợng tín dụng, kiểm soát chất lƣợng dịch vụ, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ… Một số nghiên cứu có thể đƣợc kể đến nhƣ: 1.1 Các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ NHTM nói chung Nguyễn Thị Thu Hiền (2013) với công trình “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Hà Tĩnh”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã khái quát lý luận chung về hệ thống 4 KSNB trong các NHTM và phân tích đƣợc thực trạng của hệ thống KSNB tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng, Chi nhánh Hà Tĩnh, đánh giá một số mặt ƣu và nhƣợc điểm, từ đó xây dựng các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại Ngân hàng TMCP Công thƣơng, Chi nhánh Hà Tĩnh.
Đỗ Thị Bích Phƣợng (2014) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”. Tác giả cũng hệ thống những nội dung cơ bản của KSNB và đã nêu ra đƣợc giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB cho trụ sở chính của Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu với phạm vi là toàn bộ ngân hàng Vietcombank mà chƣa đi sâu vào từng thành phần của KSNB gắn với từng chi nhánh cụ thể. Phạm Thanh Thủy (2017) trên Tạp chí Tài chính đã đƣa ra bài viết “Một số vấn đề về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam”.
Bài viết khảo sát, phân tích và đƣa ra một số đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thƣơng mại hiện nay so với quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc và thông lệ quốc tế, phân tích thực trạng những yếu kém về KSNB của các NHTM Việt Nam theo 5 cấu phần chính: Môi trƣờng kiểm soát, nhận diện và đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát.2 Các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong NHTM Nguyễn Thị Quỳnh Tâm (2013) với đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”. Tác giả đã đánh giá đƣợc thực trạng công tác KSNB hoạt động tín dụng tại Agribank dựa trên các tiêu chí, phân tích đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến KSNB hoạt động tín dụng tại Agribank Việt Nam. Tuy nhiên, các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác KSNB hoạt động tín dụng mà tác giả nêu là chƣa đầy đủ và thiếu tính hệ thống. 5 Lê Thanh Lũy (2012) với công trình:“Tăng cường kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Đại Dương”.
Tác giả đã phản ánh khá đầy đủ các khái niệm cũng nhƣ nội dung về KSNB nói chung và KSNB hoạt động tín dụng tại một ngân hàng theo quan điểm của COSO. Tuy nhiên, tác giả vẫn chƣa phân tích đƣợc những nhân tố nào ảnh hƣởng đến công tác KSNB hoạt động tín dụng cũng nhƣ chƣa đƣa ra các tiêu chí để đánh giá hiệu quả công tác KSNB làm cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng công tác KSNB tại ngân hàng. Trong phần thực trạng, tác giả đã lựa chọn phƣơng pháp phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi. Tuy nhiên, bảng câu hỏi của tác giả lại chƣa phản ánh đƣợc mục đích cụ thể của tác giả, chƣa có tính logic với phần thực trạng của bài, chƣa thuyết phục.
Nguyễn Huy Hùng (2014) bài báo khoa học tại Báo tạp chí Ngân hàng với chủ đề “ Hệ thống KSNB trong hoạt động tín dụng Ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay”. Bài báo đi sâu phân tích đánh giá hệ thống KSNB chung của hệ thống ngân hàng trong hoạt động cho vay và đƣa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra của nhà quản lý ngân hàng.3 Các nghiên cứu có liên quan khác Thịnh Văn Vinh (2015) trên Tạp chí Tài chính với bài viết: “ Hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ theo luật kế toán năm 2015”. Bài viết chia sẻ cách tiếp cận về kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ theo Luật Kế toán 2015, theo đó: Hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm vào 3 vấn đề lớn, đó là: Tuân thủ luật pháp và quy định; Đảm bảo mục tiêu của hoạt động (hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý); Đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính. Luật Kế toán 2015 cũng đã chỉ rõ trách nhiệm của đơn vị kế toán phải xây dựng, thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả, hiệu lực và tin cậy, tổ chức kiểm toán nội bộ với những nhiệm vụ đƣợc quy định cụ thể theo luật định.
6 Phan Ngọc Hà (2014) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật ra số tháng 7 (268) với bài viết: “Kiểm soát nội bộ về kế toán của ngân hàng – Những vấn đề pháp lý cần hoàn thiện”. Qua công tác kiểm tra nội bộ về kế toán của Ngân hàng TMCP Sài Gòn, Chi nhánh Đà Nẵng (SCB Đà Nẵng), tác giả đã chỉ ra những lỗi thƣờng gặp của Ngân hàng này về hệ thống chứng từ, sổ sách và báo cáo tài chính; kiểm soát kế toán lƣu động; kế toán tiền vay. Qua đó, tác giả đƣa ra các biện pháp pháp lý để hạn chế rủi ro trong hoạt động kế toán và nhấn mạnh, từ thực tiễn hoạt động kiểm soát nội bộ của SCB Đà Nẵng, có thể rút ra một số kinh nghiệm để hoàn thiện các biện pháp pháp lý nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kế toán của ngân hàng TMCP. Tuy nhiên, để các biện pháp pháp lý mang tính thiết thực, cần phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ chất lƣợng cao, hoạt động tốt, đáp ứng yêu cầu tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro mất mát tài sản và cung cấp thông tin tài chính đáng tin cậy.
Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu thực tế về kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng nói riêng tại các ngân hàng thƣơng mại, tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu hoạt động kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, Chi nhánh Hàng Trống nên đề tài này đã đƣợc chọn để nghiên cứu.2 Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong NHTM 1.1 Những vấn đề cơ bản về kiểm soát nội bộ trong NHTM 1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ NHTM Từ đầu thế kỷ 20 đã bắt đầu xuất hiện khái niệm về KSNB với ý nghĩa hết sức đơn giản là các biện pháp bảo vệ tiền không bị biển thủ, sau đó đƣợc mở rộng ra việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động, tuân thủ chính sách của nhà quản lý. Tiếp đó mỗi quốc gia, mỗi hiệp hội, tổ chức lại đƣa ra các khái niệm về KSNB riêng: 7 • Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì : “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phƣơng pháp, các bƣớc công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo. Hệ thống Kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt đƣợc mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy”. • Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (AICPA) định nghĩa kiểm soát nội bộ nhƣ sau : “Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phƣơng pháp phối hợp và đo lƣờng đƣợc thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cƣờng tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài”.
• COSO năm 1992, đƣa ra báo cáo đầu tiên về hệ thống KSNB, cung cấp hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB trở thành chuẩn mực đƣợc công nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.