Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công ty cổ phần (CTCP) giữ vai trò là loại hình doanh nghiệp đối vốn đặc trưng trong nền kinh tế, nơi có sự tách biệt rõ nét giữa quyền sở hữu của các cổ đông và quyền quản lý, điều hành của Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban Giám đốc. Đặc thù này làm nảy sinh vấn đề đại diện (agency problem): các cổ đông (người ủy thác) bổ nhiệm người quản lý (người thụ ủy) nhân danh công ty để định đoạt tài sản và xác lập giao dịch. Tuy nhiên, do xung đột lợi ích, người quản lý có xu hướng lạm dụng quyền hạn để chuyển dịch lợi ích của công ty về cho bản thân hoặc các bên liên quan. Đồng thời, các cổ đông lớn nắm quyền kiểm soát cũng có khả năng thao túng bộ máy điều hành, thông đồng hoặc chèn ép cổ đông thiểu số nhằm thông qua các giao dịch trục lợi ("rút ruột" doanh nghiệp). Các giao dịch này không chỉ gây thiệt hại cho công ty, xâm hại quyền lợi cổ đông thiểu số, làm sụt giảm niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường vốn mà còn đe dọa sự minh bạch của môi trường kinh doanh.
Về mặt lập pháp tại Việt Nam, các quy định kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi bước đầu được ghi nhận từ Luật Doanh nghiệp (LDN) 1999 và LDN 2005 nhưng còn nhiều bất cập, thiếu cơ chế thực thi. LDN 2014 đã nâng dần chuẩn mực nhưng vẫn để lộ nhiều lỗ hổng, thể hiện qua hàng loạt vụ đại án kinh tế và tham nhũng bị phát hiện (như vụ án Bầu Kiên, Trịnh Xuân Thanh, Đinh La Thăng, Hà Văn Thắm, Trần Bắc Hà...). Đến LDN 2020, khung khổ pháp lý đã có những bước tiến tiệm cận thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, so với các thông lệ quản trị công ty tốt trên thế giới, pháp luật Việt Nam vẫn còn những điểm hạn chế, xung đột quy định và vướng mắc trong áp dụng thực tiễn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành quy định về kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong CTCP tại Việt Nam (trọng tâm là LDN 2020 trong mối liên hệ với các luật chuyên ngành và thông lệ quốc tế), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và khuyến nghị quản trị cho doanh nghiệp.
- Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giao dịch có khả năng tư lợi, phân loại giao dịch, chủ thể thực hiện và các phương thức kiểm soát trong CTCP.
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam (LDN 2020, Luật Chứng khoán 2019, Nghị định 155/2020/NĐ-CP, Thông tư 116/2020/TT-BTC) về nhận diện giao dịch, thẩm quyền phê duyệt, nghĩa vụ người quản lý, quyền của cổ đông và hậu quả pháp lý.
- Khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật thông qua các vụ việc, đại án kinh tế tiêu biểu tại Việt Nam.
- Đề xuất các kiến nghị lập pháp và khuyến nghị áp dụng thực tiễn cho công ty nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam và thực tiễn áp dụng liên quan đến kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong CTCP.
- Phạm vi không gian và nội dung: Khóa luận tập trung vào mô hình CTCP theo pháp luật Việt Nam, có sự đối chiếu với pháp luật và kinh nghiệm quốc tế (Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Anh, Pháp). Khóa luận loại trừ giao dịch nội gián (insider trading) do loại giao dịch này chịu sự điều chỉnh chuyên biệt của Luật Chứng khoán và Bộ luật Hình sự.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trọng tâm các văn bản pháp luật hiện hành tính đến thời điểm tháng 05/2021, đối chiếu sự chuyển biến giữa LDN 2014 và LDN 2020 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng các lý thuyết quản trị công ty kinh điển và các quy chuẩn pháp lý quốc tế:
- Học thuyết đại diện (Agency Theory) và Lý thuyết phân tách sở hữu - kiểm soát: Dựa trên nghiên cứu nền tảng của Adolf Berle & Gardiner Means, cùng công trình của Michael Jensen & William Meckling. Lý thuyết giải thích việc tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền kiểm soát vận hành tạo ra nguy cơ người đại diện trục lợi cá nhân thay vì tối đa hóa giá trị cho cổ đông.
- Lý thuyết xung đột lợi ích: Luận điểm từ Adam Smith trong Của cải của các dân tộc (1776) về xu hướng thiếu mẫn cán và tìm kiếm lợi ích riêng của người quản lý khi quản lý tiền của người khác.
- Khái niệm và cơ chế "Đường hầm" (Tunneling): Vận dụng học thuyết của Simon Johnson, Rafael La Porta, Florencio Lopez de Silanes, Andrei Shleifer (2000) và Vladimir Atanasov, Bernard Black, Conrad S. Ciccotello (2008) để phân chia các hành vi tư lợi thành 3 nhóm: đường hầm dòng tiền (cash flow tunneling), đường hầm tài sản (asset tunneling), và đường hầm vốn cổ phần (equity tunneling).
- Nghĩa vụ ủy thác (Fiduciary Duties) và Quy tắc phán đoán kinh doanh (Business Judgment Rule - BJR): Tiếp cận từ truyền thống Thông luật (Common Law), đặc biệt là luật công ty bang Delaware (Hoa Kỳ), bao gồm nghĩa vụ cẩn trọng (duty of care), nghĩa vụ trung thực (good faith) và nghĩa vụ trung thành (duty of loyalty).
- Khuôn khổ kiểm soát nội bộ COSO: Định nghĩa kiểm soát nội bộ như một quy trình cung cấp sự đảm bảo hợp lý về hiệu quả hoạt động, độ tin cậy báo cáo tài chính và tuân thủ pháp luật.
| Phương thức kiểm soát |
Nội dung cơ bản |
Ưu điểm |
Nhược điểm |
| Cấm đoán tuyệt đối (Ví dụ: Pháp, Anh với "No-conflict rule") |
Nghiêm cấm hoàn toàn các giao dịch giữa công ty với người quản lý, cổ đông lớn hoặc bên liên quan. |
Triệt tiêu nguy cơ phát sinh hành vi tư lợi. |
Làm mất đi các cơ hội kinh doanh hợp pháp và lợi nhuận tiềm năng của công ty; thúc đẩy các giao dịch ngầm lách luật. |
| Cho phép có điều kiện (Ví dụ: Hoa Kỳ - Delaware) |
Cho phép thực hiện giao dịch nếu được công khai đầy đủ và được chấp thuận bởi đa số thành viên/cổ đông không có lợi ích liên quan, hoặc chứng minh được tính công bằng khi xác lập. |
Bảo đảm tính linh hoạt trong kinh doanh, tận dụng nguồn lực nội bộ mà vẫn giám sát được xung đột lợi ích. |
Đòi hỏi trình độ áp dụng pháp luật, thẩm định và cơ chế tố tụng của Tòa án phải rất cao. |
| Kết hợp (Liệt kê giao dịch cấm & kiểm soát giao dịch còn lại) |
Cấm một số giao dịch rủi ro cao (như giao dịch nội gián, cho vay/bảo lãnh không đúng chuẩn); kiểm soát chặt chẽ các giao dịch có khả năng tư lợi khác qua phê duyệt nội bộ. |
Dung hòa giữa sự cứng nhắc và mềm dẻo; vừa ngăn ngừa giao dịch phi pháp vừa giữ lại cơ hội kinh doanh cho công ty. |
Quy định pháp luật phức tạp, đòi hỏi ranh giới phân định danh mục giao dịch phải rõ ràng. |
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh luật học. Phương pháp phân tích - tổng hợp được áp dụng để làm rõ bản chất các quy định trong LDN 2014, LDN 2020, Luật Chứng khoán 2019 và Nghị định 155/2020/NĐ-CP; phương pháp so sánh luật học được sử dụng để đối chiếu quy định của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (Hoa Kỳ, EU, OECD); phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) được dùng để mổ xẻ thực tiễn thi hành qua các bản án, đại án kinh tế đã xét xử. Nguồn dữ liệu gồm văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, luận án tiến sĩ chuyên ngành (như công trình của PGS. Nguyễn Như Phát, TS. Nguyễn Thị Vân Anh, TS. Nguyễn Thanh Lý), tạp chí luật học và các hồ sơ vụ án thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về giao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận toàn diện về giao dịch tư lợi trong CTCP. Tác giả chỉ ra rằng giao dịch có khả năng tư lợi là các giao dịch được giao kết với công ty mà hàm chứa nguy cơ xảy ra hành vi trục lợi bởi người quản lý công ty, cổ đông kiểm soát hoặc người có liên quan của họ. Về mặt phân loại cơ chế rút ruột doanh nghiệp, chương này làm rõ 3 dạng thức "đường hầm" (tunneling):
- Đường hầm dòng tiền (Cash flow tunneling): Chuyển dịch dòng tiền của công ty thông qua mua bán hàng hóa, dịch vụ cao hơn hoặc thấp hơn giá thị trường, chi trả lương thưởng, thù lao quá mức hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi bất thường.
- Đường hầm tài sản (Asset tunneling): Mua hoặc bán tài sản sản xuất, tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình (bí mật thương mại, sở hữu trí tuệ, chuyển nhượng cơ hội kinh doanh) với các điều kiện không công bằng vì lợi ích của người quản lý/cổ đông kiểm soát.
- Đường hầm vốn cổ phần (Equity tunneling): Gia tăng tỷ lệ sở hữu hoặc làm loãng giá trị cổ phần của cổ đông thiểu số thông qua việc phát hành cổ phiếu/chứng khoán chuyển đổi dưới giá trị thị trường, giao dịch thâu tóm đóng băng (freeze-out) hoặc mua lại cổ phần với giá cao hơn giá trị thực tế.
Về chủ thể thực hiện, chương 1 phân tích sâu hai nhóm chủ thể hưởng lợi cuối cùng:
- Người quản lý công ty: Gồm Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng Giám đốc và người quản lý khác theo Điều lệ (khoản 24 Điều 4 LDN 2020). Những người này nắm giữ quyền đại diện và quyền định đoạt tài sản, dễ nảy sinh động cơ trục lợi do sự bất tương xứng giữa lợi ích dài hạn của công ty và thu nhập ngắn hạn của cá nhân.
- Cổ đông kiểm soát: Chủ thể nắm giữ đủ số lượng cổ phần có quyền biểu quyết để chi phối việc ra quyết định của Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) và thiết lập nhân sự HĐQT, Ban Kiểm soát (BKS). Tác giả dẫn chứng tính toán: với quy định cuộc họp ĐHĐCĐ lần 1 chỉ cần đạt tỷ lệ 51% cổ phần dự họp và tỷ lệ thông qua nghị quyết là 65% số phiếu dự họp, một cổ đông chỉ cần sở hữu trên 33,15% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là đã có khả năng chi phối cuộc họp ĐHĐCĐ. Quyền lực này cho phép cổ đông kiểm soát chuyển dịch lợi nhuận sang các công ty con/công ty liên kết mà họ sở hữu tỷ lệ vốn cao hơn.
Cuối chương, tác giả khái quát sự cần thiết của việc kiểm soát giao dịch tư lợi nhằm bảo vệ tài sản công ty, bảo đảm sự công bằng cho cổ đông nhỏ, giữ vững uy tín doanh nghiệp và ổn định thị trường chứng khoán; đồng thời phân tích 3 trường phái phương thức kiểm soát trên thế giới.
Chương 2: Thực trạng kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và hướng hoàn thiện
Chương 2 chiếm dung lượng trọng tâm, tập trung rà soát các quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành:
Xác định đối tượng bị kiểm soát:
- Giao dịch với người có liên quan: Pháp luật sử dụng phương pháp liệt kê. Khoản 23 Điều 4 và khoản 1 Điều 167 LDN 2020 quy định các giao dịch phải thông qua ĐHĐCĐ hoặc HĐQT chấp thuận gồm: giao dịch với cổ đông/đại diện ủy quyền sở hữu trên 10% cổ phần phổ thông và người liên quan của họ; thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng giám đốc và người liên quan; doanh nghiệp mà những người này hoặc người liên quan làm chủ/sở hữu phần vốn góp. Tuy nhiên, tác giả phát hiện sự không tương thích: khoản 1 Điều 167 dùng cụm từ "người có liên quan của họ" (tức của cá nhân quản lý, cổ đông) nhưng khoản 23 Điều 4 lại định nghĩa "người có liên quan" là người có quan hệ với doanh nghiệp, dẫn đến khoảng trống pháp lý khi xác định người có liên quan của cá nhân, dễ bỏ sót giao dịch giữa công ty với doanh nghiệp do cổ đông chi phối hoặc người thân của họ sở hữu vốn.
- Giao dịch có giá trị lớn: LDN 2020 lấy mốc giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản ghi nhận trong Báo cáo tài chính gần nhất (hoặc tỷ lệ khác theo Điều lệ) để phân định thẩm quyền phê duyệt giữa HĐQT và ĐHĐCĐ.
Cơ chế kiểm soát và thủ tục phê duyệt:
- Theo khoản 4 Điều 167 LDN 2020 và Điều 293 Nghị định 155/2020/NĐ-CP, thành viên HĐQT hoặc cổ đông có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết. Tác giả chỉ ra bất cập chưa được luật dự liệu: trường hợp số lượng thành viên HĐQT không có lợi ích chiếm thiểu số (ví dụ 2/3 thành viên có liên quan) thì không đủ túc số biểu quyết; hoặc trường hợp Chủ tịch HĐQT là người có quyền lợi liên quan thì xử lý thế nào khi số phiếu ngang nhau.
Nghĩa vụ của người quản lý và so sánh chuẩn mực:
- Điều 163 và Điều 165 LDN 2020 quy định chế độ thù lao và 4 nhóm nghĩa vụ: cẩn trọng, trung thực; trung thành; minh bạch thông tin; bồi thường thiệt hại. Khoản 2 Điều 165 bổ sung chế định người quản lý vi phạm phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới hoàn trả lợi ích và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.
- So sánh với thông lệ Common Law, các nghĩa vụ này có nguồn gốc từ Fiduciary Duty. Tại Hoa Kỳ, Tòa án áp dụng Quy tắc phán đoán kinh doanh (Business Judgment Rule - BJR) với các tiêu chí định lượng/định tính rõ ràng. Tại Việt Nam (thuộc hệ thống Dân luật - Civil Law), do các khái niệm mang tính trừu tượng, thiếu án lệ và hướng dẫn tiêu chuẩn xét xử nên các vụ kiện liên quan đến vi phạm nghĩa vụ trung thành, cẩn trọng rất hiếm khi được Tòa án áp dụng giải quyết triệt để.
Quyền của cổ đông và các thiết chế giám sát nội bộ:
- Quyền cổ đông (Điều 115, 153, 166 LDN 2020): Bãi bỏ rào cản nắm giữ cổ phần "liên tục ít nhất 06 tháng" của LDN 2014; hạ tỷ lệ tiếp cận thông tin và yêu cầu triệu tập họp; trao quyền cho cổ đông sở hữu từ 5% được tra cứu biên bản, nghị quyết và các hợp đồng thông qua HĐQT; mở rộng quyền khởi kiện người quản lý với cơ chế yêu cầu Tòa án/Trọng tài thu thập tài liệu (khoản 4 Điều 166); quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định của HĐQT hoặc nghị quyết ĐHĐCĐ trong thời hạn 90 ngày.
- BKS và Ủy ban Kiểm toán: BKS được tăng cường tính độc lập khi quy chế hoạt động do ĐHĐCĐ phê duyệt (thay vì HĐQT như trước). LDN 2020 chính thức ghi nhận Ủy ban Kiểm toán trực thuộc HĐQT (Điều 161) thay thế cho Ban Kiểm toán nội bộ mờ nhạt của LDN 2014, yêu cầu có từ 2 thành viên trở lên, Chủ tịch phải là thành viên HĐQT độc lập, các thành viên khác là thành viên HĐQT không điều hành.
Hậu quả pháp lý:
- Khoản 5 Điều 167 LDN 2020 quy định hợp đồng, giao dịch ký kết không đúng trình tự, thẩm quyền sẽ "bị vô hiệu theo quyết định của Tòa án" (bỏ điều kiện phải "gây thiệt hại cho công ty" của LDN 2014). Tác giả phân tích điểm này làm rõ giao dịch không mặc nhiên vô hiệu mà phải qua phán quyết của Tòa án.
- Chế tài bồi hoàn dân sự liên đới, xử lý hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự (Bộ luật Hình sự 2015/2017 đã mở rộng tội danh tham nhũng sang khu vực tư).
Thực tiễn xét xử các vụ án điển hình tại Việt Nam:
- Vụ án BIDV (TAND TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm 26/10/2020): Trần Bắc Hà (Chủ tịch HĐQT BIDV) lạm dụng quyền lực gây sức ép lên cấp dưới (Trần Lục Lang - Phó TGĐ, Đoàn Ánh Sáng - Phó TGĐ) phê duyệt cho vay trái quy định đối với hai công ty "sân sau" là CTCP Chăn nuôi Bình Hà và Công ty TNHH TM&DV Trung Dũng, gây thất thoát tài sản đặc biệt lớn.
- Vụ án Oceanbank: Hà Văn Thắm (Chủ tịch HĐQT) lập công ty sân sau là CTCP BSC Việt Nam, chỉ đạo Nguyễn Văn Hoàn (Phó TGĐ Oceanbank) ký hợp đồng dịch vụ khống, thu phí ngoài lãi suất của khách hàng vay vốn gần 69 tỷ đồng nhằm chuyển tiền về cho cá nhân.
- Vụ án Vinashin: Phạm Thanh Bình (Chủ tịch kiêm TGĐ) thông qua Công ty môi giới Maersk Broker để mua tàu cũ Cartour (năm 2001, đổi tên thành tàu Hoa Sen) của Italia không đúng quy chuẩn nhằm nhận hoa hồng và phân chia lợi ích.
Kết quả và đóng góp
| Nội dung pháp lý |
Quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014 |
Điểm mới tại Luật Doanh nghiệp 2020 |
| Điều kiện thực hiện quyền của cổ đông |
Yêu cầu sở hữu cổ phần liên tục trong thời hạn ít nhất 06 tháng. |
Bãi bỏ hoàn toàn điều kiện thời hạn nắm giữ 06 tháng tại Điều 115, tạo điều kiện kích hoạt quyền giám sát ngay lập tức. |
| Quyền tiếp cận hồ sơ, hợp đồng |
Hạn chế, chỉ xem các sổ sách, biên bản cơ bản. |
Cổ đông sở hữu từ 5% được tra cứu, trích lục hợp đồng, giao dịch phải thông qua HĐQT (trừ bí mật thương mại). |
| Quyền khởi kiện người quản lý |
Cổ đông sở hữu từ 1% (trong 6 tháng), tự thu thập chứng cứ (gặp rào cản bảo mật). |
Cổ đông sở hữu từ 1% được quyền yêu cầu Tòa án/Trọng tài trích lục thông tin, tài liệu cần thiết để phục vụ khởi kiện. |
| Căn cứ tuyên vô hiệu giao dịch tư lợi |
Giao dịch vi phạm thủ tục VÀ phải "gây thiệt hại cho công ty". |
Giao dịch vi phạm trình tự, thủ tục phê duyệt bị Tòa án tuyên vô hiệu mà KHÔNG cần chứng minh yếu tố gây thiệt hại. |
| Mô hình giám sát chuyên trách |
Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT mang tính chất mờ nhạt, thiếu quy định. |
Pháp điển hóa Ủy ban Kiểm toán trực thuộc HĐQT (Điều 161) với điều kiện Chủ tịch bắt buộc là thành viên HĐQT độc lập. |
Hệ thống giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện quy định về đối tượng: Sửa đổi, chuẩn hóa khái niệm "người có liên quan" giữa khoản 23 Điều 4 và khoản 1 Điều 167 LDN 2020; bổ sung kiểm soát giao dịch giữa công ty với doanh nghiệp mà người thân của cổ đông kiểm soát sở hữu phần vốn góp.
- Bổ sung quy định giải quyết bế tắc biểu quyết: Ban hành hướng dẫn cơ chế thông qua nghị quyết HĐQT khi đa số thành viên có lợi ích liên quan (chuyển giao thẩm quyền lên ĐHĐCĐ hoặc sử dụng cơ chế biểu quyết của thành viên độc lập).
- Nội luật hóa tiêu chuẩn nghĩa vụ ủy thác và BJR: Ban hành án lệ hoặc nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về tiêu chí đánh giá nghĩa vụ cẩn trọng, trung thành và quy tắc phán đoán kinh doanh, tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho Tòa án giải quyết tranh chấp.
- Khuyến nghị quản trị cho doanh nghiệp: Tự nguyện nâng cao tỷ lệ biểu quyết chấp thuận giao dịch trong Điều lệ; thành lập Ủy ban Kiểm toán độc lập; ban hành Quy chế nội bộ về quản trị rủi ro giao dịch với các bên liên quan và minh bạch hóa dòng tiền.
Đóng góp của khóa luận: Đề tài đã cập nhật và phân tích có hệ thống những điểm mới của LDN 2020 so với LDN 2014 về kiểm soát giao dịch tư lợi; chỉ ra các bất cập kỹ thuật lập pháp thực định và liên hệ sâu sắc với các vụ án thực tiễn xảy ra tại Việt Nam, bổ sung thêm góc nhìn thực chứng cho lĩnh vực nghiên cứu quản trị công ty.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khung khổ pháp lý của CTCP nói chung, chưa đi sâu phân tích sự khác biệt chi tiết giữa CTCP chưa đại chúng (công ty gia đình, công ty đóng) và công ty đại chúng quy mô lớn có vốn Nhà nước; chưa có điều kiện khảo sát định lượng toàn diện tỷ lệ giao dịch với bên liên quan trên toàn bộ các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán.
- Hướng nghiên cứu mở rộng: Khảo sát sâu hơn cơ chế trách nhiệm dân sự phái sinh (derivative suits) của cổ đông khi khởi kiện người quản lý theo quy định mới; nghiên cứu tác động thực tế của Nghị định 155/2020/NĐ-CP và Thông tư 116/2020/TT-BTC đối với việc minh bạch hóa thông tin giao dịch của các CTCP niêm yết trong giai đoạn sau năm 2021.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Doanh nghiệp, Quản trị Kinh doanh và Tài chính doanh nghiệp.
- Thành viên HĐQT, Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát, thành viên Ủy ban Kiểm toán trong các CTCP.
- Luật sư tư vấn doanh nghiệp, thẩm phán, kiểm sát viên và các chuyên gia xây dựng chính sách pháp luật.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Khung phân loại 3 dạng đường hầm rút ruột công ty (cash flow, asset, equity tunneling).
- Bảng đối chiếu các điểm sửa đổi của LDN 2020 và hệ thống phân tích lỗi kỹ thuật lập pháp tại Điều 4 và Điều 167.
- Cơ sở lý luận về Fiduciary Duty và Business Judgment Rule ứng dụng trong giải quyết tranh chấp quản trị công ty tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Doanh nghiệp 2020 có sửa đổi gì mang tính đột phá nhằm tháo gỡ rào cản cho cổ đông nhỏ khởi kiện người quản lý?
LDN 2020 đã bãi bỏ hoàn toàn điều kiện cổ đông phải nắm giữ cổ phần "liên tục trong thời hạn ít nhất 06 tháng" (tại Điều 115 và 166). Đồng thời, khoản 4 Điều 166 LDN 2020 bổ sung quyền cho cổ đông sở hữu từ 1% được yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài ra quyết định trích lục, thu thập các thông tin, tài liệu cần thiết từ phía công ty để phục vụ cho quá trình khởi kiện.
2. Bất cập kỹ thuật lập pháp lớn nhất trong việc xác định "người có liên quan" tại LDN 2020 là gì?
Khoản 1 Điều 167 LDN 2020 quy định kiểm soát giao dịch với "người có liên quan của họ" (người có liên quan của cổ đông lớn, thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng Giám đốc). Tuy nhiên, phần giải thích từ ngữ tại khoản 23 Điều 4 LDN 2020 lại chỉ định nghĩa người có liên quan đối với doanh nghiệp, thiếu quy định làm rõ thế nào là người có liên quan của cá nhân quản lý/cổ đông, gây lúng túng khi xác định phạm vi giao dịch bị kiểm soát trên thực tế.
3. Khóa luận phân loại các dạng hành vi rút ruột công ty (tunneling) như thế nào?
Dựa trên học thuyết của Atanasov và cộng sự (2008), tác giả phân thành 3 dạng: (1) Đường hầm dòng tiền (chuyển dịch dòng tiền qua định giá sai lệch hàng hóa/dịch vụ, thù lao quá mức, cho vay lãi suất thấp); (2) Đường hầm tài sản (chuyển giao tài sản hữu hình, tài sản trí tuệ hoặc cơ hội kinh doanh cho bên liên quan); (3) Đường hầm vốn cổ phần (thao túng tỷ lệ sở hữu, phát hành cổ phiếu giá rẻ để làm loãng cổ phần của cổ đông thiểu số).
4. Điều kiện luật định để thành lập Ủy ban Kiểm toán trực thuộc HĐQT theo Điều 161 LDN 2020 gồm những gì?
Ủy ban Kiểm toán phải có từ 02 thành viên trở lên; Chủ tịch Ủy ban Kiểm toán bắt buộc phải là thành viên HĐQT độc lập; các thành viên còn lại phải là thành viên HĐQT không điều hành. Quyết định của Ủy ban Kiểm toán được thông qua theo nguyên tắc đa số biểu quyết; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch Ủy ban Kiểm toán.
5. Khi một giao dịch tư lợi được ký kết trái với quy định tại Điều 167 LDN 2020 thì hậu quả pháp lý xử lý ra sao?
Hợp đồng, giao dịch vi phạm không mặc nhiên vô hiệu mà sẽ "bị vô hiệu theo quyết định của Tòa án" (khoản 5 Điều 167). Người ký kết, thành viên HĐQT, Giám đốc/Tổng giám đốc hoặc cổ đông có liên quan phải liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại phát sinh và hoàn trả cho công ty các khoản lợi bất hợp pháp thu được từ giao dịch đó.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tô Tường Vy đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về cơ chế kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa học thuyết quản trị công ty quốc tế và phân tích thực định các quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, tác giả đã chỉ rõ những bước tiến lập pháp quan trọng cũng như các điểm nghẽn kỹ thuật còn tồn đọng. Công trình đưa ra các giải pháp hoàn thiện lập pháp khả thi và khuyến nghị thiết thực, đóng góp giá trị khoa học rõ ràng cho việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số và thúc đẩy tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam.