CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN TIỀN LƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỬ DỤNG NSNN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên tiền lương đối với các đơn vị sử dụng NSNN qua Kho bạc Nhà nước 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về NSNN Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch, nhưng quan niệm về NSNN còn nhiều điểm chưa được thực sự thống nhất.
Trong giáo trình Lý thuyết tài chính của Trương Mộc Lâm (2012), ghi rõ: "NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu" (Trương Mộc Lâm, 2012). Luật NSNN năm 2015 định nghĩa "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước".
Luật NSNN năm 2002 bỏ khái niệm "trong dự toán" và định nghĩa: "NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" (Quốc hội, 2015). Qua nghiên cứu các quan niệm khác nhau về ngân sách ta có thể đi đến kết luận rằng: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được hình thành theo trình tự pháp định và thực hiện trong một năm (hoặc một khoảng thời gian nhất định) để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước (Quốc hội, Hạ Viện, Thượng viện.) quyết định dự toán 6 và quyết toán NSNN theo trình tự pháp định cho một (hoặc nhiều) năm ngân sách dưới các hình thức Nghị quyết hoặc Luật. Chi thường xuyên tiền lương Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là quá trình Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải những nhu cầu chi cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Nếu phân loại chi NSNN theo đối tượng trực tiếp của mỗi khoản chi, thì chi NSNN có thể chia thành: chi cho con người (bao gồm chi trả lương, các khoản có tính chất lương.); chi mua sắm vật liệu, dụng cụ (mua sắm vật liệu, dụng cụ. cho các cơ quan nhà nước); chi xây dựng, sửa chữa; chi trợ cấp, tài trợ, hoàn trả nợ vay. Cách phân loại này cho phép thiết lập qui chế của từng đối tượng chi và chế độ kiểm soát riêng biệt, đồng thời có thể qui định rõ trách nhiệm về quản lý và sử dụng công quỹ của từng loại viên chức nhà nước có liên quan. Khái niệm chi thường xuyên tiền lương Chi thường xuyên tiền lương là quá trình Nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiền lương, tiền công, các khoản thù lao, khoản thu nhập có tính chất lương, thu nhập tăng thêm cho CBCCVC bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; các cơ quan chuyên môn, và các đơn vị sử dụng NSNN,… (Trần Thị Song, 2014).
Chi thường xuyên của đơn vị sử dụng NSNN Khái niệm ĐVSD NSNN Theo Điều 3 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước thì Đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước là đơn vị dự toán ngân sách được giao trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước (bao gồm cả chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước; đơn vị mở tài khoản tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước) (Chính phủ, 2020). Nội dung CTX ở ĐVSD NSNN 7 Theo Luật ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 thì “Chi thường xuyên NSNN là nhiệm vụ chi của NSNN nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh" (Quốc hội, 2015). Nội dung CTX đối với ĐVSD NSNN - Chi thanh toán cá nhân: tiền lương, phụ cấp lương và các khoản đóng góp theo lương; học bổng, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, thu nhập tăng thêm; thanh toán cá nhân thuê ngoài và các khoản thanh toán khác cho cá nhân. - Chi hoạt động chuyên môn cung cấp dịch vụ sự nghiệp công: tùy thuộc vào nhiệm vụ quản lý của từng đơn vị mà xác định nội dung chi cụ thể gắn liền với nhu cầu và khà năng của nguồn kinh phí.
Các khoản chi phục vụ cho công tác chuyên môn bao gồm: vật tư văn phòng; các khoản khoán chi như: văn phòng phẩm, điện thoại, công tác phí; hội nghị; công tác phí; thuê mướn; chi phí sửa chữa phục hồi giá trị sử dụng cho tài sản đã xuống cấp. - Chi mua sắm tài sản: mua sắm, trang bị thêm tài sản phục vụ công tác chuyên môn hàng năm hay khi có nhu cầu cấp thiết. Khoản chi này thuộc nguồn mua sắm thường xuyên của ĐVSD NSNN. - Chi khác: nội dung chi không thuộc 3 nhóm chi ở trên và nằm trong cơ cấu CTX của ĐVSD NSNN như hỗ trợ, tiếp khách, chi khác, chi trích lập các quỹ.
Đặc điểm chi thường xuyên ở ĐVSD NSNN - CTX là những khoản chi mang tính khá ổn định và phân bổ tương đối đồng đều trong năm. Xuất phát từ vai ưò, CTX tạo ra nguồn lực tài chính giúp Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, trang trải các khoản chi phục vụ cho việc vận hành bộ máy quản lý trên. - CTX mang tính chất tiêu dùng trong thời gian ngắn. Bởi mục đích cuối cùng của nguồn vốn cấp phát này là tạo ra các sản phẩm dịch vụ công nhằm nâng cao trình độ dân trí, đời sống cho người dân, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu.Ngày nay những hoạt động này được coi là lực lượng sản xuất trực tiếp góp phần vào nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
8 - Phạm vi, mức độ: CTX phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội. CTX là nguồn kinh phí chủ yếu đảm bào cho hoạt động của bộ máy Nhà nước, cho nên một cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả thì quy mô CTX giảm và ngược lại.Cũng tương tự như các khoản chi khác, CTX phải đảm bảo có trong dự toán, đúng tiêu chuẩn, định mức, tiết kiệm và thực hiện cấp phát bởi hai hình thức: trực tiếp và tạm ứng. Nếu chi đầu tư phát triển tạo ra cơ sở hạ tầng, kỹ thuật thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển thì CTX ở đây chủ yếu chi cho con người, hoạt động sự nghiệp nhằm đảm bảo chính sách phúc lợi nên không làm tăng cơ sở vật chất. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí này thể hiện qua sự ổn định chính trị, xã hội cùng với chi đầu tư phát triển thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.
Vai trò chi thường xuyên ở ĐVSD NSNN CTX là nhóm chi NSNN đặc biệt quan trọng gồm nhiều khoản chi mang tính chất ổn định. CTX có vai trò: - Đảm bảo kinh phí cho bộ máy quản lý thực hiện chức năng của Nhà nước về quản lý kinh tế xã hội. - Là công cụ để thực hiện mục tiêu ổn định thu nhập, hỗ trợ người nghèo, thực hiện các chính sách của Nhà nước - Góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội (Phạm Thị Hương, 2015). Kiểm soát chi thường xuyên tiền lương đối với các đơn vị sử dụng NSNN Khái niệm kiểm soát chi ngân sách nhà nước Tại phần lớn các quốc gia trên thế giới như Cộng hòa Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nga., kiểm soát chi NSNN được sử dụng với vai trò là biện pháp tổ chức hành chính tối ưu trong quản lý chi NSNN.
Kiểm soát chi NSNN là hệ thống các hoạt động, cơ chế, chính sách quan trọng trong quá trình thực hiện quản lý chi NSNN. Hoạt động kiểm soát chi NSNN được thực hiện nhằm đảm bảo tính tuân thủ các cơ chế, chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành - của các chủ thể (các đơn vị, tổ chức, cá nhân) sử dụng NSNN, tại tất cả các khâu của quá trình chi NSNN; thông qua đó điều 9 chỉnh hoạt động chấp hành dự toán chi ngân sách của các chủ thể, nhằm đảm bảo các khoản chi NSNN đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng yêu cầu và đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra ban đầu. Có thể khái quát lại, kiểm soát chi NSNN chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, giám sát đối với các khoản chi NSNN diễn ra tại các khâu của quá trình chi ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành dự toán, đến quyết toán NSNN, nhằm đảm bảo mỗi khoản chi NSNN, được thực hiện đúng dự toán được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định và có hiệu quả kinh tế - xã hội (Vũ Thị Nhài, 2007). Kiểm soát chi thường xuyên tiền lương đối với các đơn vị sử dụng NSNN qua KBNN chính là việc KBNN thực hiện thẩm định, kiểm tra, giám sát đối với các khoản chi tiền lương của đơn vị sử dụng NSNN diễn ra theo chu trình chi ngân sách, từ lập dự toán chi tiền lương, chấp hành dự toán chi tiền lương, đến quyết toán chi tiền lương từ NSNN, nhằm đảm bảo mỗi khoản chi tiền lương từ NSNN được thực hiện đúng dự toán được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định.Đặc điểm, vai trò, nguyên tắc của kiểm soát chi thường xuyên tiền lương đối với ĐVSD NSNN 1.