CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất có sự tham gia quản lý của Nhà nước. Nói cách khác, sự ra đời và phát triển của Nhà nước cùng với sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ là những điều kiện tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của NSNN. Đã có nhiều công trình và bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này, có thể kể đến như: - Luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Quốc Oai – Hà Nội” của tác giả Phùng Văn Tài năm 2014.
Luận văn đã xây dựng được cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Quốc Oai giai đoạn 2011 – 2013. Tác giả cũng nêu ra những giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên còn chung chung, chưa cụ thể để có thể đưa vào thực tế để áp dụng. - Luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua kho bạc Gia Lai” của tác giả Thân Tùng Lâm thực hiện năm 2012. Luận văn có khá nhiều điểm tương đồng với đề tài nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu tập trung đánh giá tình trạng bất cập trong công tác kiểm soát chi NSNN, ban hành những chính sách , văn bản của nhà nước còn chưa sát với tình hình thực tế. Đề tài của tác giả Thân Tùng Lâm đã nêu bật những yếu tố ảnh hưởng đến Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhưng thuộc môi trường vĩ mô nhiều hơn mà chưa nêu bám sát nhóm yếu tố về đơn vị thụ hưởng NSNN. 4 - Luận văn thạc sỹ “ Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN tỉnh Kon Tum” của tác giả Lê Thị Hải Vân thực hiện năm 2013. Luận văn của tác giả tiếp cận đã đi sâu nghiên cứu công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN Gia Lai.
Bên cạnh việc kế thừa một số nội dung nhất định về mặt lý luận cũng như định hướng một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách xã qua KBNN. Tuy nhiên đề tài chỉ đề cập đến một lĩnh vực trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN. - Luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiện công tác Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa” của tác giả Đỗ Thị Thu Trang, thực hiện năm 2012. Đề tài đã đi sâu nghiên cứu công tác Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Khánh Hòa trên cơ sở tiếp cận công tác kiểm soát chi theo yêu cầu đổi mới cải cách tài chính công và kiểm soát chi tiêu công của các nước tiên tiến, để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua Kho bạc theo hướng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý NSNN.
Đề tài cũng nêu bật ra được những giải pháp hoàn thiện kế toán kiểm soát chi NSNN, tuy nhiên còn mang tầm vĩ mô và chưa được phù hợp để ứng dụng đối với công tác kiểm soát chi qua KBNN Khánh Hoà. - Bài viết của Nguyễn Thị Nhơn, Tổng giám đốc KBNN đăng trên Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 24/2009 về “ Triển khai chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020”, nêu: cần phải tăng cường công tác quản lý quỹ NSNN và các quỹ tài chính với mục tiêu đổi mới toàn diện cơ chế chính sách, quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản, hiện đại, công khai, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế. - Bài viết của Hoàng Thị Xuân đăng trên tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia “ Đề xuất giải pháp quy trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN”, bài viết đã nêu tầm quan trọng của NSNN tác động đến tình hình KTXH nói chung và 5 nền 6 tài chính nói riêng, từ đó xác định quản lý và sử dụng hiệu quả các khoản chi ngân sách có ý nghĩa to lớn, góp phần nâng cao nguồn lực tài chính, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Mặc dù các công trình nghiên cứu kể trên đã nêu được một số vấn đề lý luận về chi thường xuyên NSNN và thực tiễn tại từng địa phương. Các công trình này đều có giá trị cao trên địa bàn nghiên cứu.
Tuy nhiên, tại KBNN Ứng Hoà chưa có công trình nghiên cứu kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Ứng Hoà, nên đề tài này là hết sức cần thiết. Cơ sở lý luận kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước qua kho bạc 1.ái niệm và đặc điểm của kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN sử dụng các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định và theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý tài chính của Nhà nước. Kiểm soát chi thường xuyên NSNN có một số đặc điểm như sau: Một là, kiểm soát chi thường xuyên gắn liền với những khoản chi thường xuyên nên phần lớn công tác kiểm soát chi diễn ra đều đặn trong năm, ít có tính thời vụ, ngoại trừ những khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa lớn tài sản cố định. Hai là, kiểm soát chi thường xuyên diễn ra trên nhiều lĩnh vực và rất nhiều nội dung nên rất đa dạng và phức tạp.
Chính vì thế, những quy định trong kiểm soát chi thường xuyên cũng hết sức phong phú, với từng lĩnh vực chi có những quy định riêng, từng nội dung, từng tính chất nguồn kinh phí 7 cũng có những tiêu chuẩn, định mức riêng. Ba là, kiểm soát chi thường xuyên bị áp lực lớn về mặt thời gian vì phần lớn những khoản chi thường xuyên đều mang tính cấp thiết như: chi về tiền lương, tiền công, học bổng. gắn với cuộc sống hàng ngày của cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên; các khoản chi về chuyên môn nghiệp vụ nhằm đảm bảo duy trì hoạt động thường xuyên của bộ máy nhà nước nên những khoản chi này cũng đòi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng. Bên cạnh đó, tất cả các đơn vị thụ hưởng NSNN đều có tâm lý muốn giải quyết kinh phí trong những ngày đầu tháng làm cho cơ quan kiểm soát chi là KBNN luôn gặp áp lực về thời gian trong những ngày đầu tháng.
Bốn là, Kiểm soát chi thường xuyên thường phải kiểm soát những khoản chi nhỏ, vì vậy cơ sở để kiểm soát chi như hoá đơn, chứng từ. để chứng minh cho những nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, thường không đầy đủ, không rõ ràng, thiếu tính pháp lý. gây rất nhiều khó khăn cho cán bộ kiểm soát chi, đồng thời cũng rất khó để có thể đưa ra những quy định bao quát hết những khoản chi này trong công tác kiểm soát chi. Nội dung kiểm soát chi thường xuyên 1.1 Lập kế hoạch kiểm soát chi thường xuyên Giai đoạn lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên phải thực hiện trong bất kì quy trình kiểm soát chi nào.
Đây là giai đoạn định hướng cho các bước công việc kiểm soát và chuẩn bị các điều kiện cho quá trình kiểm soát được thực hiện tốt. Quy trình kiểm soát chi qua kho bạc thường theo sơ đồ sau: Đơn vị sử dụng ngân sách (4a) (1) KBNN (Bộ phận (5) quỹ) KBNN (4b) (Bộ phận kế toán) (2) NH/KBNN của đơn (3) vị thụ hưởng Lãnh đạo cơ quan KBNN 7 Sơ đồ 1.1: Quy trình kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước huyện (Nguồn: Tác giả tổng hợp) (1): Đơn vị sử dụng NSNN gửi đầy đủ hồ sơ, chứng từ chi cho Bộ phận kế toán của KBNN (2): Kế toán KBNN kiểm soát các khoản chi thường xuyên và trình lãnh đọa KBNN duyệt. (3): Lãnh đạo KBNN huyện kiểm soát, ký duyệt và chuyển hồ sơ, chứng từ cho kế toán. (4a): Nếu khoản chi bằng tiền mặt: kế toán chuyển chứng từ cho bộ phận kho quỹ để chi tiền mặt cho đơn vị.
(4b): Nếu khoản chi là chuyển khoản: kế toán trích tài khoản của đơn vị và chuyển cho đơn vị thụ hưởng và tài khoản tại ngân hàng hoặc KBNN khác. (5): Bộ phận kế toán thực hiện xong khoản chi và trả chứng từ, hồ sơ cho đơn vị theo quy định. Bên cạnh xác định quy trình kiểm soát chi, lập kế hoạch kiểm soát chi còn xác định một số điểm sau: Một là, tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí NSNN chuẩn chi.
Hai là, tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN trong quá trình lập, phân bổ, và thực hiện dự toán được giao. Ba là, mọi khoản chi NSNN phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách, cấp ngân sách và theo Mục lục NSNN. Các 8 khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán chi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan có thẩm quyền quy định. Bốn là, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi.
Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện thu hồi giảm chi NSNN. Năm là, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng quy định; tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn vị sử dụng NSNN.