Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học công nghệ KBNN 1. Một số khái niệm cơ bản a, Ngân sách Nhà nước Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "NSNN " có từ lâu và ngày nay được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội và được diễn đạt dưới nhiều góc độ khác nhau.
Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ cua Nhà nước.
Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chính luôn vận dộng giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thế kinh tế xã hội. Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa Nhà nước với các chủ thể khác, thông qua việc tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hường để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.[8] Thứ hai, xét về mặt thực thể NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của 6 Nhà nước. Nguồn hình thành của quỹ ngân sách là từ tổng sản phẩm quốc nội và nguồn tài chính khác. Mục đích sử dụng của quỹ ngân sách là duy trì sự tồn tại, đảm bảo hoạt động, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Thứ ba, NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính vì NSNN do Nhà nước nắm giữ, chi phối và là công cụ để Nhà nước kiểm soát vĩ mô và cân đối vĩ mô. Việc sử dụng ngân sách có ý nghĩa quốc gia, với phạm vi tác động rộng lớn và được sử dụng chủ yếu cho các nhu cầu có tính chất toàn xã hội. Chính vì vậy thông qua sự vận động của vốn NSNN, Nhà nước thực hiện hướng dẫn, chi phối kiểm soát các nguồn lực tài chính khác của quốc gia. Tóm lại, NSNN xét ở thể tĩnh và hình thức biểu hiện ra bên ngoài là bảng dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước cho một khoảng thời gian nhất định nào đó, phổ biến cho một năm hoặc một số năm; xét ở thể động và trong suốt một quá trình, ngân sách nhà nước là khâu cơ bản, chủ đạo của tài chính Nhà nước, được Nhà nước sử dụng để động viên phân phối một bộ phận mgồn lực của xã hội dưới dạng tiền tệ để đảm bảo điều kiện vật chất nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước và phục vụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về kinh tế - xã hội mà Nhà nước phải thực hiện.
Nội dung khái niệm NSNN được thể hiện ở các điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, ngân sách nhà nước là bản dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Thứ hai, ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước. Thứ ba, ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau. Những quan đểm trên xuất phát từ những cách tiếp cận vấn đề khác nhau và có điểm hợp lý nhưng chưa đầy đủ. Có thể nói ngân sách nhà nước là một khái niệm trừu tượng, nhưng ngân sách nhà nước là một hoạt động tài chính cụ thể của Nhà nước, vì vậy nó phải thể hiện được nội dung kinh tế - xã hội của 7 ngân sách nhà nước, nó phải được xem xét trên các mặt hình thức, thực thể và quan hệ kinh tế chứa đựng trong ngân sách nhà nước.[9] Luật Ngân sách 83/2015/QH13 đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.[17] b, Chi ngân sách Nhà nước Quỹ NSNN là toàn bộ các khoản tiền của Nhà nước, kể cả tiền vay, có trên tài khoản của NSNN các cấp; Quỹ NSNN được quản lý tại KBNN.
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước [4]. Hay nói cách khác Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. (Thủ tướng Chính phủ, 2017) c, Hoạt động khoa học công nghệ Khoa học là một hoạt động mang tính nghề nghiệp xã hội đặc thù, là hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó ngày càng tham gia mạnh mẽ và đầy đủ vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sản xuất vật chất thông qua sự đổi mới hình thức, nội dung trình độ kĩ thuật, công nghệ và làm thay đổi chính cả bản thân con người trong sản xuất.
Xuất phát từ đó xã hội yêu cầu tạo ra cho khoa học một đội ngũ những người hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn nhất định, có phương pháp và làm việc theo yêu cầu của từng lĩnh vực khoa học.[16] Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ thống 8 tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. - Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên.
Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm (Quốc hội, 2020). Mỗi công nghệ đều bao gồm 4 thành phần chính: - Kỹ thuật (Technoware – ký hiệu là T): phần này được coi là phần cứng.
Công nghệ hàm chứa trong các vật thể là các phương tiện vật chất như trang thiết bị, máy móc, vật liệu, dây chuyền sản xuất, nhà xưởng,.Trong công nghệ sản xuất, các vật thể này thường tập hợp thành một dây chuyền để thực hiện 9 quá trình biến đổi theo mong muốn, thường được gọi là dây chuyền công nghệ, ứng với một quy trình công nghệ nhất định. - Con người (Humanware – ký hiệu là H) ): phần này được coi là phần mềm. Công nghệ hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong môi trường công nghệ bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng được rèn luyện qua quá trình học hỏi, tích lũy được trong quá trình lao động. Nó bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự nhanh nhẹn, sự khôn ngoan, khả năng phối hợp và lãnh đạo, đạo đức lao động,.
- Thông tin (Inforware – ký hiệu là I): phần này được coi là phần mềm. Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hóa và được sử dụng trongcông nghệ. Nó bao gồm các dữ liệu về phần Kỹ thuật, phần Con người và phần Tổ chức. - Tổ chức (Organware – ký hiệu là O): phần này được coi là phần mềm.
Công nghệ hàm chứa trong các khu thể chế để tạo nên hệ khung tổ chức của công nghệ như: những quy định về trách nhiệm và quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân trong hoạt động công nghệ, quy trình đào tạo công nhân, việc bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần Kỹ thuật và phần Con người. Như vậy, Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. [16] d, Chi ngân sách cho hoạt động khoa học công nghệ Hàng năm chi ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ của toàn bộ nền kinh tế là rất lớn.