Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên VKSND từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa

Luận văn pháp luật về kiểm sát viên VKSND tại Thanh Hóa. Phân tích thực trạng, bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2021

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò của Kiểm sát viên tại Thanh Hóa và nền tảng pháp lý

Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, một bộ phận quan trọng của lực lượng cán bộ, công chức nhà nước. Vai trò của Kiểm sát viên tại Thanh Hóa được xác định rõ trong Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Họ là những người được bổ nhiệm để trực tiếp thực hiện chức năng thực hành quyền công tốkiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền lợi hợp pháp của công dân. Theo quy định tại Điều 74 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm để thực hiện các nhiệm vụ này, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Viện trưởng. Tại Thanh Hóa, một tỉnh có địa bàn rộng, dân số đông và tình hình an ninh trật tự phức tạp, vai trò này càng trở nên quan trọng. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa (VKSND Thanh Hóa) không thể hoàn thành nhiệm vụ nếu thiếu đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên có đủ phẩm chất và năng lực. Họ là lực lượng tiên phong trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Hoạt động của Kiểm sát viên không chỉ giới hạn trong phòng xử án mà còn bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, xuyên suốt quá trình điều tra, truy tố, và giám sát cả hoạt động thi hành án. Như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhấn mạnh: "Người cán bộ Kiểm sát viên phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình, luôn luôn tôn trọng sự thật, phân rõ đúng sai, hết sức giữ thái độ khách quan, thận trọng, công minh, chính trực". Đây chính là kim chỉ nam cho đạo đức nghề nghiệp Kiểm sát viên, đòi hỏi họ phải liên tục rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông nghiệp vụ và giữ gìn sự liêm khiết. Pháp luật hiện hành đã tạo ra hành lang pháp lý cơ bản để Kiểm sát viên thực thi công vụ, từ các quy định về tiêu chuẩn, quy trình bổ nhiệm đến nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, hệ thống pháp luật này cần được tiếp tục hoàn thiện, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả, tạo điều kiện tốt nhất cho các công tố viên thực hiện sứ mệnh bảo vệ công lý.

1.1. Khái niệm và đặc điểm cốt lõi của chức danh Kiểm sát viên

Kiểm sát viên VKSND Thanh Hóa trước hết là một công chức nhà nước, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, đây là một chức danh pháp lý đặc thù, được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ (5 năm cho lần đầu và 10 năm khi bổ nhiệm lại) để thực hiện hai chức năng chính là thực hành quyền công tốkiểm sát hoạt động tư pháp. Đặc điểm nổi bật của Kiểm sát viên là hoạt động của họ mang tính quyền lực nhà nước, nhân danh Nhà nước để buộc tội hoặc giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan tư pháp khác như cơ quan điều tra Thanh HóaTòa án nhân dân Thanh Hóa. Họ phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung thống nhất, chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp mình và Viện trưởng VKSND tối cao.

1.2. Phân tích nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên theo luật

Nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm sát viên được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức VKSND 2014 và các bộ luật tố tụng. Trong tố tụng hình sự tại Thanh Hóa, Kiểm sát viên có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, yêu cầu điều tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra và quyết định việc truy tố bị can trước tòa. Tại phiên tòa, họ giữ vai trò công tố viên, duy trì và bảo vệ bản cáo trạng. Trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ việc bắt, giữ, điều tra đến xét xử và thi hành án, nhằm đảm bảo không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội.

II. Top thách thức Kiểm sát viên Thanh Hóa đối mặt và bất cập pháp lý

Mặc dù có nền tảng pháp lý rõ ràng, thực tiễn công tác của Kiểm sát viên tại Thanh Hóa vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức lớn. Những bất cập này xuất phát từ cả hệ thống pháp luật lẫn các yếu tố thực tiễn tại địa phương. Luận văn “Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Hoàng Mạnh Chung đã chỉ ra rằng pháp luật về Kiểm sát viên hiện nay còn bộc lộ sự thiếu đồng bộ và thống nhất. Các quy định về tiêu chuẩn Kiểm sát viên và quy trình bổ nhiệm Kiểm sát viên vẫn còn một số điểm mâu thuẫn, chưa thực sự phù hợp với đòi hỏi thực tiễn. Ví dụ, cơ cấu chức danh và định biên còn cứng nhắc, có nơi thừa, nơi thiếu, chưa linh hoạt theo khối lượng công việc của từng đơn vị thuộc VKSND Thanh Hóa. Một thách thức lớn khác là chất lượng và kỹ năng của đội ngũ Kiểm sát viên. Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn nặng về lý thuyết, chưa chú trọng đúng mức đến kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa. Điều này dẫn đến một bộ phận Kiểm sát viên còn hạn chế trong việc đối đáp, tranh luận để bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ, tiền lương và phụ cấp chưa tương xứng với áp lực công việc và trách nhiệm pháp lý nặng nề, dẫn đến tình trạng một số cán bộ chưa toàn tâm, toàn ý với nghề. Tin tức pháp luật Thanh Hóa đôi khi phản ánh những vụ việc tiêu cực, sách nhiễu liên quan đến cán bộ tư pháp, cho thấy vấn đề đạo đức nghề nghiệp Kiểm sát viên cần được quan tâm hơn nữa. Quyền năng pháp lý của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tuy được pháp luật quy định nhưng cơ chế bảo đảm thực thi trên thực tế chưa thực sự hiệu quả, gây khó khăn trong quá trình kiểm sát hoạt động của các cơ quan khác.

2.1. Hạn chế trong hệ thống pháp luật về tiêu chuẩn bổ nhiệm

Hệ thống pháp luật hiện hành quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên còn tồn tại một số bất cập. Mặc dù Luật tổ chức VKSND 2014 đã nâng cao các tiêu chuẩn so với trước đây, nhưng vẫn còn những điểm chưa phù hợp. Ví dụ, các tiêu chí về thời gian công tác pháp luật đôi khi chưa phản ánh đúng năng lực thực tế. Việc áp dụng hình thức thi tuyển vào các ngạch là một bước tiến, tuy nhiên, nội dung thi cử cần được đổi mới để đánh giá toàn diện hơn cả kiến thức pháp luật lẫn kỹ năng nghiệp vụ và bản lĩnh nghề nghiệp, thay vì chỉ tập trung vào lý thuyết.

2.2. Kỹ năng tranh tụng và đạo đức nghề nghiệp Khoảng trống lớn

Một trong những hạn chế lớn nhất được chỉ ra từ thực tiễn là kỹ năng tranh tụng của một bộ phận không nhỏ Kiểm sát viên. Việc đào tạo chưa thực sự chú trọng vào kỹ năng hỏi, đối đáp, trình bày luận điểm và xử lý tình huống tại phiên tòa. Điều này làm giảm hiệu quả thực hành quyền công tố. Song song đó, vấn đề đạo đức nghề nghiệp Kiểm sát viên cũng là một thách thức. Áp lực công việc lớn, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng có thể dẫn đến những biểu hiện tiêu cực, phiền hà, sách nhiễu, làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành Kiểm sát và lòng tin của nhân dân.

III. Phương pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Thanh Hóa

Để khắc phục những bất cập và nâng cao hiệu quả hoạt động của Kiểm sát viên tại Thanh Hóa, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là yêu cầu cấp thiết. Giải pháp trọng tâm là xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật đồng bộ, khoa học và có tính khả thi cao. Trước hết, cần rà soát, sửa đổi và bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các văn bản liên quan để đảm bảo tính thống nhất. Các quy định về tiêu chuẩn Kiểm sát viên cần được cụ thể hóa hơn nữa, không chỉ dựa trên bằng cấp và thâm niên mà còn phải đánh giá dựa trên kết quả công tác thực tế, năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Quy trình bổ nhiệm Kiểm sát viên cần tiếp tục được cải cách theo hướng công khai, minh bạch và cạnh tranh hơn. Cần xây dựng một cơ chế bảo đảm thực thi quyền năng pháp lý của Kiểm sát viên một cách hiệu quả. Khi thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên phải được trao đủ thẩm quyền và có cơ chế bảo vệ để họ có thể độc lập đưa ra các yêu cầu, kiến nghị đối với cơ quan điều tra Thanh Hóa hay Tòa án nhân dân Thanh Hóa mà không bị can thiệp. Pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc thực hiện các quyết định, kiến nghị của Viện kiểm sát. Đồng thời, cần thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng về cải cách tư pháp liên quan đến vị trí, vai trò của Kiểm sát viên. Việc xây dựng một bộ quy tắc về đạo đức nghề nghiệp Kiểm sát viên với các chế tài xử lý nghiêm minh cũng là một giải pháp quan trọng để ngăn chặn tiêu cực và xây dựng hình ảnh người cán bộ kiểm sát công minh, chính trực. Hoàn thiện pháp luật cũng bao gồm việc cải thiện chế độ đãi ngộ, tiền lương và các chính sách thu hút nhân tài, tạo động lực để Kiểm sát viên yên tâm công tác và cống hiến.

3.1. Đồng bộ hóa tiêu chuẩn tuyển chọn và bổ nhiệm Kiểm sát viên

Giải pháp cốt lõi là cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn thống nhất và khoa học cho việc tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên. Cần kết hợp giữa tiêu chuẩn cứng (bằng cấp, thời gian công tác) và tiêu chuẩn mềm (kỹ năng thực tiễn, bản lĩnh chính trị, đạo đức). Các kỳ thi tuyển cần được đổi mới, tập trung vào việc giải quyết các tình huống nghiệp vụ phức tạp, đánh giá kỹ năng phân tích, lập luận và khả năng tranh tụng. Quy trình xét duyệt hồ sơ cần có sự tham gia của nhiều cơ quan để đảm bảo tính khách quan, tránh tình trạng cục bộ, nể nang trong công tác cán bộ.

3.2. Tăng cường cơ chế bảo đảm quyền năng pháp lý khi thi hành công vụ

Để Kiểm sát viên thực sự phát huy vai trò, pháp luật cần quy định cơ chế bảo vệ và bảo đảm thực thi các quyền hạn của họ. Cần có quy định rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các yêu cầu, kiến nghị, quyết định của Viện kiểm sát. Đồng thời, phải xây dựng cơ chế xử lý nghiêm các hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của Kiểm sát viên. Điều này sẽ giúp các công tố viên tự tin và kiên quyết hơn trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ pháp chế.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực cho đội ngũ Kiểm sát viên Thanh Hóa

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của VKSND Thanh Hóa. Trọng tâm của giải pháp này là đổi mới toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên tại Thanh Hóa theo phương châm “vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”. Cần chuyển hướng từ đào tạo nặng về lý thuyết sang đào tạo gắn liền với thực tiễn. Các chương trình bồi dưỡng phải được thiết kế dựa trên yêu cầu công việc cụ thể, tập trung vào các kỹ năng còn yếu như kỹ năng hỏi cung, lấy lời khai, kỹ năng tranh tụng, đối đáp tại phiên tòa. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa cần tăng cường tổ chức các phiên tòa giả định, các cuộc thi nghiệp vụ, hội thảo chuyên đề để Kiểm sát viên có cơ hội trao đổi kinh nghiệm và rèn luyện kỹ năng. Việc học tập kinh nghiệm từ các đơn vị bạn và các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tư pháp cũng cần được đẩy mạnh. Đặc biệt, cần chú trọng đào tạo về đạo đức nghề nghiệp Kiểm sát viên và bản lĩnh chính trị. Mỗi Kiểm sát viên phải nhận thức sâu sắc về trách nhiệm của mình trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Ngoài ra, cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành và hoạt động nghiệp vụ, giúp Kiểm sát viên tra cứu thông tin, quản lý hồ sơ vụ án hiệu quả hơn. Cuối cùng, chính sách cán bộ cần được thực hiện một cách khoa học, từ khâu quy hoạch, luân chuyển đến đánh giá, bổ nhiệm, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để mỗi cán bộ, Kiểm sát viên không ngừng phấn đấu, hoàn thiện bản thân, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc cải cách tư pháp.

4.1. Đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng gắn liền thực tiễn tố tụng

Công tác đào tạo cần thoát ly khỏi lối mòn lý thuyết suông. Cần xây dựng các chương trình đào tạo dựa trên phân tích tình huống thực tế trong hoạt động tố tụng hình sự tại Thanh Hóa. Việc mời các Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán giàu kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm sẽ mang lại hiệu quả cao. Đồng thời, cần định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng cập nhật tin tức pháp luật Thanh Hóa mới, các quy định và hướng dẫn nghiệp vụ của ngành để đảm bảo Kiểm sát viên luôn nắm vững và áp dụng đúng pháp luật.

4.2. Chú trọng phát triển kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa hình sự

Kỹ năng tranh tụng là thước đo bản lĩnh và năng lực của một công tố viên. Các chương trình đào tạo cần dành thời lượng thỏa đáng cho việc rèn luyện kỹ năng này. Cần tổ chức nhiều phiên tòa giả định với các vụ án phức tạp, yêu cầu Kiểm sát viên phải xây dựng luận tội, chuẩn bị câu hỏi, thực hành đối đáp với luật sư. Việc ghi hình, phân tích, rút kinh nghiệm sau mỗi buổi thực hành sẽ giúp Kiểm sát viên nhận ra điểm mạnh, điểm yếu và nhanh chóng tiến bộ, tự tin hơn khi thực hiện quyền công tố tại tòa.

V. Thực tiễn phối hợp của Kiểm sát viên Thanh Hóa trong tố tụng

Hiệu quả của hoạt động tư pháp phụ thuộc rất lớn vào sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Tại Thanh Hóa, vai trò của Kiểm sát viên thể hiện rõ nét qua mối quan hệ công tác với các cơ quan khác. Trong giai đoạn điều tra, Kiểm sát viên phải phối hợp thường xuyên với cơ quan điều tra Thanh Hóa. Mối quan hệ này không chỉ là giám sát mà còn là phối hợp, hỗ trợ. Kiểm sát viên thực hiện việc phê chuẩn các quyết định của Điều tra viên, đề ra các yêu cầu điều tra để đảm bảo việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đúng pháp luật. Sự phối hợp tốt giúp hạn chế các vi phạm tố tụng, tránh việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án. Tại giai đoạn xét xử, mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và Tòa án nhân dân Thanh Hóa là trung tâm của hoạt động tố tụng. Kiểm sát viên giữ quyền công tố, trong khi Tòa án thực hiện chức năng xét xử. Quá trình tranh tụng tại phiên tòa là sự tương tác trực tiếp, nơi Kiểm sát viên phải bảo vệ cáo trạng, đưa ra các lập luận, chứng cứ để thuyết phục Hội đồng xét xử. Đồng thời, Kiểm sát viên cũng thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, đảm bảo việc xét xử của Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Ngoài ra, mối quan hệ với cơ quan thi hành án và luật sư cũng rất quan trọng. Kiểm sát viên giám sát việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh. Trong khi đó, mối quan hệ với luật sư thể hiện tính dân chủ, tranh tụng trong tố tụng, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Thực tiễn tại VKSND Thanh Hóa cho thấy, nơi nào có sự phối hợp tốt, nơi đó chất lượng giải quyết án được nâng cao, hạn chế oan sai và bỏ lọt tội phạm.

5.1. Mối quan hệ với Cơ quan điều tra Thanh Hóa trong vụ án hình sự

Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và cơ quan điều tra Thanh Hóa là mối quan hệ vừa kiểm sát, vừa phối hợp. Ngay từ khi khởi tố vụ án, Kiểm sát viên đã phải nắm chắc hồ sơ, đề ra yêu cầu điều tra, tham gia hỏi cung và các hoạt động điều tra quan trọng khác. Sự giám sát chặt chẽ của Kiểm sát viên giúp hoạt động điều tra đi đúng hướng, tuân thủ pháp luật, tránh bức cung, nhục hình. Ngược lại, sự phối hợp tốt giúp Kiểm sát viên nắm bắt kịp thời các tình tiết của vụ án để củng cố quan điểm truy tố, thực hiện hiệu quả quyền công tố.

5.2. Vai trò và bản lĩnh của Kiểm sát viên tại Tòa án nhân dân Thanh Hóa

Tại phiên tòa của Tòa án nhân dân Thanh Hóa, Kiểm sát viên không chỉ đọc cáo trạng mà còn phải tham gia xét hỏi, tranh luận để làm rõ các tình tiết. Đây là nơi thể hiện rõ nhất bản lĩnh, trí tuệ và kỹ năng của người thực hành quyền công tố. Một Kiểm sát viên giỏi phải có khả năng lập luận sắc bén, sử dụng chứng cứ thuyết phục và đối đáp hiệu quả với luật sư và những người tham gia tố tụng khác, góp phần giúp Hội đồng xét xử ra một phán quyết công minh, đúng pháp luật.

04/10/2025
Luận văn pháp luật về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân 1. Khái niệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên VKSND trước hết là cán bộ, công chức nhà nước. Vì vậy, để xây dựng khái niệm về Kiểm sát viên VKSND, trước hết cần phải làm rõ khái niệm cán bộ, công chức nhà nước.

Theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thì ở nước ta sử dụng đồng thời ba thuật ngữ cán bộ, công chức và viên chức. Cán bộ, được hiểu theo nghĩa thông thường nhất là những người được nhà nước tuyển dụng để làm việc trong bộ máy chính quyền các cấp, lực lượng vũ trang (mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế… Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” [37] Theo đó, cán bộ là những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ theo quy định của pháp luật, công chức theo quy định của pháp luật và được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ. 10 Theo quy định của Hiến pháp thì những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ, công chức và viên chức. Điều 8, Hiến pháp năm 2013 quy định: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân…" [12].

Công chức, là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi hơn cán bộ, là thuật ngữ mang tính lịch sử và được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng mỗi quốc gia khái niệm công chức lại mang một màu sắc riêng, phản ánh đặc sắc riêng của tổ chức bộ máy nhà nước và nền công vụ ở mỗi quốc gia. Mỗi một giai đoạn lịch sử, mỗi nền công vụ và chế độ chính sách ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ mà khái niệm công chức được hiểu theo nghĩa khác nhau. Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2019 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Là một bộ phận hợp thành của cán bộ, công chức, Kiểm sát viên VKSND là khái niệm được quy định trong Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật tổ chức VKSND năm 2002 và đến nay là Luật tổ chức VKSND năm 2014. Tại Điều 74 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các 11 hoạt động tư pháp [38]. Đồng thời, căn cứ Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức thì xác định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này” [4]. Theo đó, công chức trong hệ thống VKSND là người làm việc trong hệ thống VKSND các cấp, nằm trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Đối với VKSND tối cao, gồm: Các Phó Viện trưởng VKSND tối cao; kiểm sát viên, kiểm tra viên và người làm việc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc VKSND tối cao. Đối với VKSND cấp cao, gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, kiểm sát viên, kiểm tra viên, người làm việc trong văn phòng, Viện nghiệp vụ thuộc VKSND cấp cao. Đối với VKSND cấp tỉnh, gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng; kiểm sát viên, kiểm tra viên; người làm việc trong văn phòng, phòng thuộc VKSND cấp tỉnh. Đối với VKSND cấp huyện, gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng; kiểm sát viên, kiểm tra viên và người làm việc trong VKSND cấp huyện.

Qua phân tích các quy định trên đây, có thể khái quát: Kiểm sát viên VKSND là công dân Việt Nam, được tuyển dụng vào ngạch công chức của VKSND, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được bổ nhiệm vào vào ngạch Kiểm sát viên theo nhiệm kỳ để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đặc điểm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận trong bộ máy cơ quan nhà nước. Kiểm sát viên VKSND là những người được bổ nhiệm thực hiện nhiệm vụ của VKSND theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân và Viện trưởng VKSND. Kiểm sát viên là một bộ phận của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

Do đó, hoạt động của Kiểm sát viên trước hết nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của cán bộ, công chức nhà nước. Về vị trí: VKSND là cơ quan trong bộ máy nhà nước ta, Kiểm sát viên VKSND là một bộ phận của cán bộ, công chức nhà nước. Vấn đề này được quy định bởi nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập trong Hiến pháp. Về chức năng, nhiệm vụ: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Về tổ chức, quyền hạn: VKSND là một hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước, gồm có bốn cấp: VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND cấp tỉnh, VKSND cấp huyện và Viện kiểm sát quân sự được phân cấp đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật Tổ chức VKSND. Ở mỗi cấp, VKSND được phân bổ số lượng Kiểm sát viên theo ngạch. Có Kiểm sát viên được bổ nhiệm chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; một số Kiểm sát viên vừa được bổ nhiệm để thực hiện chức năng trên của Kiểm sát viên, vừa giữ chức danh quản lý theo nhiệm kỳ. Về hoạt động: VKSND thực hiện hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

Thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị 13 khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các quan hệ pháp luật trong hoạt động tư pháp. Kiểm sát viên VKSND có các đặc điểm cụ thể sau: Kiểm sát viên là công chức ngành kiểm sát, là một chức danh pháp lý được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ của VKSND là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Với đặc thù là người thực thi pháp luật và thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động tư pháp, hoạt động của Kiểm sát viên nhằm bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm pháp luật, đảm bảo pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân. Kiểm sát viên VKSND phải đảm bảo tiêu chuẩn: Là công dân Việt Nam; về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân; có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp luật nhằm mục tiêu bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và công bằng xã hội; Kiểm sát viên VKSND phải không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ ngành Kiêm sát “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”; có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nguyên tắc tổ chức của VKSND.

Với chức năng, nhiệm vụ được Hiến pháp và pháp luật quy định, Kiểm sát viên là những người trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND nên có điều kiện gần dân, thông qua thực hiện nhiệm vụ dễ làm dân tin, dân mến. Từ đó tuyên truyền, phổ biến và vận động nhân dân tuân thủ pháp luật, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Cùng với sự phát triển của đất nước, Kiểm sát viên VKSND là lực lượng quan trọng, tiên phong góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy nhiên, trên 14 thực tế cơ chế để đảm bảo thực thi quyền của VKSND nói chung và Kiểm sát viên VKSND còn chưa đảm bảo, chế độ chính sách đối với Kiểm sát viên chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

Nên, còn không ít Kiểm sát viên chưa toàn tâm, toàn ý với công việc, chưa tâm huyết với nhiệm vụ được giao. Ngoài phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, Kiểm sát viên VKSND phải bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Theo quy định tại Điều 75 Luật Tổ chức VKSND: Kiểm sát viên phải có trình độ cử nhân Luật trở lên, đã được đào tạo về nghiệm vụ kiểm sát. Xuất phát từ yêu cầu hiện nay, đòi hỏi mỗi Kiểm sát viên phải “Tinh thông về pháp luật”, nắm vững và áp dụng đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, các Điều ước quốc tế, các quy chế nghiệp vụ của ngành.

Nhất là các quy định pháp luật trong lĩnh vực công tác được giao để thực hiện chức năng hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ