BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ VÂN ANH KIỂM CHỨNG ĐƯỜNG CONG J TẠI VIỆT NAM: PHƯƠNG PHÁP NARDL LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh – 2019 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ VÂN ANH KIỂM CHỨNG ĐƯỜNG CONG J TẠI VIỆT NAM: PHƯƠNG PHÁP NARDL Chuyên ngành: Tài chính–Ngân hàng Mã số: 8340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. NGUYỄN NGỌC ĐỊNH TP. Hồ Chí Minh – 2019 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với chủ đề “Kiểm chứng đường cong J tại Việt Nam: Phương pháp NARDL” hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Ngọc Định. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Tôi cam đoan sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và các nội dung được trình bày trong luận văn này. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019 Nguyễn Thị Vân Anh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU DANH MỤC CÁC HÌNH TÓM TẮT (ABSTRACT) PHẦN 1: GIỚI THIỆU . Giới thiệu chủ đề nghiên cứu . Động cơ nghiên cứu . Mục tiêu nghiên cứu . Câu hỏi nghiên cứu . Kết cấu nghiên cứu .3 PHẦN 2: KHUNG LÝ THUYẾT . Các lý thuyết cơ bản về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại . Điều kiện Marshall-Lerner (ML) . Hiệu ứng đường cong J . Các nghiên cứu thực nghiệm . Các bằng chứng thực nghiệm về điều kiện Marshall-Lerner . Các bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng đường cong J . Các bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng đường cong J bất đối xứng .16 PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . Mô hình cán cân thương mại . Phương pháp ARDL . Phương pháp NARDL . Dữ liệu nghiên cứu .26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cán cân thương mại song phương . Tỷ giá hối đoái thực song phương . Thu nhập trong nước và nước ngoài .30 PHẦN 4: KẾT QUẢ . Kiểm định tính dừng . Kết quả từ mô hình ARDL . Kết quả từ mô hình NARDL .37 PHẦN 5: KẾT LUẬN .42 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ARDL . Phương pháp tự hồi quy phân phối trễ NARDL . Phương pháp tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến RER . Tỷ giá hối đoái thực song phương REER . Tỷ giá hối đoái thực đa phương TB . Cán cân thương mại song phương GDP . Tổng sản phẩm quốc nội ML . Điều kiện Marshall-Lerner LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1. Đóng góp thương mại của các đối tác trong năm 2018 . Thống kê mô tả biến cán cân thương mại song phương . Thống kê mô tả biến tỷ giá thực song phương. Thống kê mô tả biến thu nhập thực. Kiểm định tính dừng (phương pháp ADF) . Kiểm định tính dừng (phương pháp PP) . Kết quả hồi quy ARDL . Kết quả hồi quy NARDL .39 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2. Minh họa hiệu ứng đường cong J. Xu hướng của biến cán cân thương mại song phương. Xu hướng của biến tỷ giá thực song phương. Xu hướng của biến thu nhập thực.31 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÓM TẮT Một số bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại khác nhau giữa ngắn hạn và dài hạn. Cụ thể, giới nghiên cứu tin rằng sau khi phá giá tiền tệ, cán cân thương mại sẽ xấu đi trong ngắn hạn trước khi cải thiện trong dài hạn; do đó, tạo ra hiện tượng đường cong J. Bài luận văn xem xét hiện tượng trên trong mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và các đối tác quan trọng (Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc), thông qua dữ liệu hàng quý trong giai đoạn 2000Q1–2019Q1 trong khuôn khổ mô hình ARDL tuyến tính lẫn phi tuyến. Sử dụng mô hình ARDL tuyến tính, tác giả không tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng đường cong J trong mối quan hệ song phương giữa Việt Nam với các đối tác. Tuy nhiên, khi sử dụng mô hình NARDL, tác giả lại phát hiện hiệu ứng đường cong J xuất hiện duy nhất trong mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Điều đó cho thấy ý nghĩa của việc đề cập tính bất phi tuyến trong quá trình điều chỉnh khi nghiên cứu hiệu ứng đường cong J. Các kết quả mang lại nhiều hàm ý cho các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam. Từ khóa: Hiệu ứng đường cong J; bất đối xứng; NARDL. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ABSTRACT Some empirical evidence argued that the relationship between the exchange rate and the trade balance diff ers between the short-run and long-run. In particular, it is widely believed that following currency depreciation the trade balance deteriorates in the short-run before it improves in the long-run; thus, producing the J-curve phenomenon. This paper examines this phenomenon for bilateral relations between Vietnam and 4 of its major trading partners (namely China, US, Japan and Korea), using quarterly data for the period 2000Q1–2019Q1 within the linear as well as the non-linear ARDL framework. By employing ARDL model, we are unable to find support for the J-curve in any cases. However, when the NARDL model is used, we are able to find evidence for the J-curve in relation between Vietnam and Korea. This suggests that allowing for nonlinearity in the adjustment process is important when studying the J-curve phenomenon. These results have many implications for policy makers in Vietnam. Keywords: J-curve effect; asymmetry; NARDL. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1. Giới thiệu chủ đề nghiên cứu Các nhà kinh tế học và hoạch định chính sách luôn quan tâm vai trò của cơ chế tỷ giá hối đoái trong việc cải thiện cán cân thương mại. Về mặt lý thuyết, bất kỳ sự mất giá (devaluation) hoặc định giá thấp (depreciation) của tỷ giá hối đoái sẽ cải thiện đáng kể năng lực cạnh tranh thương mại. Khái niệm đường cong J (J-curve effect) được khởi xướng bởi Magee (1973) xuất phát từ việc quan sát cán cân thương mại của Mỹ. Theo đó, sự mất giá của đồng đô la Mỹ đã làm xấu đi cán cân thương mại trong ngắn hạn trước khi có sự hồi phục trong dài hạn. Như vậy, mặc dù tuân thủ điều kiện Marshall-Lerner (sau khi phá giá tiền tệ, tổng độ co giãn giá xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn một đơn vị, thì cán cân thương mại sẽ được cải thiện), cán cân thương mại của Mỹ vẫn xấu đi trong ngắn hạn. Kể từ nghiên cứu của Magee (1973), số lượng các nghiên cứu có liên quan đường cong J đã gia tăng nhanh chóng. Gần đây, Bahmani-Oskooee và Ratha (2004), Bahmani-Oskooee và Hegerty (2010) đã cung cấp các khái niệm và hiểu biết toàn diện về hiệu ứng đường cong J. Một số nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận tuyến tính và dữ liệu thương mại tổng hợp (aggregate trade data), tức là một quốc gia và phần còn lại của thế giới, như Miles (1979); Himario (1985); Bahmani-Oskooee và Malixi (1992); Bahmani- Oskooee và Alse (1994) và Lal và Lowinger (2002). Miles (1979) sử dụng dữ liệu chéo cho 15 quốc gia nhưng không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào về hiệu ứng đường cong J. Himario (1985) sử dụng chuỗi thời gian cho 10 quốc gia và phát hiện sự cải thiện của cán cân thương mại ngay khi phá giá tiền tệ diễn ra. Bahmani- Oskooee và Malixi (1992) thực hiện cấu trúc chuỗi thời gian trễ Almon cho 13 quốc gia và cũng không phát hiện ra bằng chứng nào của đường cong J. Lal và Lowinger (2002) sử dụng kỹ thuật đồng liên kết Johansen và hàm phản ứng đẩy (impulse response function), và tìm thấy bằng chứng không mạnh của đường cong J. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kết quả hỗn hợp này là hiện tượng sai lệch LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tập hợp (aggregation bias). Điều này dẫn đến phân tích thực nghiệm đã phát triển từ việc sử dụng dữ liệu tổng hợp sang dữ liệu thương mại song phương (bilateral trade data). Một trong những nghiên cứu sử dụng dữ liệu song phương nhằm kiểm chứng sự hiện diện đường cong J tại Philippines là Harvey (2013). Sử dụng mô hình ARDL tuyến tính, một lần nữa, nghiên cứu chỉ nhận thấy hệ số ngắn hạn của tỷ giá hối đoái thực có ý nghĩa trong mô hình chứa dữ liệu Trung Quốc, đối tác duy nhất có ý nghĩa trong dài hạn. Cũng sử dụng phương pháp đồng liên kết ARDL, Lee (2018) không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào về sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J tại Việt Nam ngay cả khi sử dụng dữ liệu thương mại tổng hợp hay song phương. Động cơ nghiên cứu Nhìn chung, những nghiên cứu vừa đề cập có một đặc điểm chung, đó là dự đoán sự thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động đối xứng lên cán cân thương mại, ngụ ý rằng việc định giá thấp của nội tệ sẽ cải thiện cán cân thương mại trong khi định giá cao sẽ dẫn đến kết quả ngược lại, với mức độ tương đương. Tuy nhiên, Bussiere (2013) khám phá rằng giá xuất khẩu và nhập khẩu phản ứng bất đối xứng với sự thay đổi tỷ giá; nói cách khác, giá cả hàng hóa giao dịch phản ứng bất đối xứng với độ lệch tỷ giá hối đoái. Với sự phát triển của phương pháp kinh tế lượng, các nghiên cứu điều tra về hiệu ứng đường cong J đang dần chuyển đổi từ cách tiếp cận tuyến tính sang cách tiếp cận phi tuyến. Gần đây, Bahmani-Oskooee và Fariditavana (2015; 2016) kiểm chứng đường cong J bằng dữ liệu song phương thông qua cách tiếp cận tuyến tính. Các tác giả còn sử dụng cách tiếp cận phi tuyến tính để xác định xem tỷ giá hối đoái thực tác động ngắn hạn và dài hạn lên cán cân thương mại là đối xứng hay không đối xứng. Một trong những kết luận quan trọng của nghiên cứu trên là chỉ ra rằng, bằng cách áp dụng cách tiếp cận phi tuyến, nghiên cứu bổ sung được kết quả quan trọng sau: hiện tượng đường cong J phi tuyến có tồn tại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại trở thành chủ đề nghiên cứu quan trọng đối với các nhà kinh tế và hoạch định chính sách. Theo ước tính, Việt Nam có quan hệ thương mại song phương đáng kể với các đối tác lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, chiếm tỷ trọng lần lượt 22,7%, 12,8%, 8,1% và 14% trong tổng kim ngạch thương mại năm 2018. Hiện tượng đường cong J, được khởi xướng bởi Magee (1973), mô tả sự biến động của cán cân thương mại sau khi phá giá tiền tệ: cán cân thương mại xấu đi trong ngắn hạn trước khi cải thiện trong dài hạn. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam và các quốc gia khác cho kết quả hỗn hợp về sự tồn tại của hiệu ứng này, đặc biệt khi xét đến tính bất đối xứng trong tác động của tỷ giá.
Mục tiêu nghiên cứu là kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng đường cong J trong mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và bốn đối tác chính trong giai đoạn 2000Q1–2019Q1, sử dụng phương pháp ARDL tuyến tính và NARDL phi tuyến nhằm phát hiện các tác động bất đối xứng. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam nhằm điều chỉnh chính sách tỷ giá và thương mại phù hợp, góp phần cải thiện cán cân thương mại và ổn định kinh tế vĩ mô.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên ba lý thuyết kinh tế chính liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại:
-
Điều kiện Marshall-Lerner (ML): Cán cân thương mại sẽ cải thiện sau khi phá giá tiền tệ nếu tổng độ co giãn cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn một. Đây là điều kiện cần thiết để phá giá có tác động tích cực đến cán cân thương mại trong dài hạn.
-
Hiệu ứng đường cong J: Mô tả sự biến động của cán cân thương mại sau khi phá giá tiền tệ, với giai đoạn đầu là xấu đi do các hợp đồng thương mại đã ký trước đó, sau đó cải thiện khi các tác nhân kinh tế điều chỉnh theo giá mới.
-
Hiệu ứng bất đối xứng (phi tuyến): Tác động của tăng giá và giảm giá tiền tệ lên cán cân thương mại không đồng đều về cường độ và thời gian phản ứng, do các yếu tố như kỳ vọng của nhà xuất nhập khẩu, độ trễ trong điều chỉnh sản lượng và giá cả.
Các khái niệm chính bao gồm: cán cân thương mại song phương, tỷ giá hối đoái thực song phương, thu nhập thực nội địa và nước ngoài, mô hình ARDL tuyến tính và NARDL phi tuyến.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu quý từ 2000Q1 đến 2019Q1 về cán cân thương mại song phương, tỷ giá hối đoái thực song phương và GDP thực của Việt Nam cùng bốn đối tác thương mại lớn (Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc). Dữ liệu được thu thập từ các nguồn uy tín như IMF, Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và các cơ quan thống kê quốc tế.
Phương pháp phân tích chính gồm:
-
Phương pháp ARDL (AutoRegressive Distributed Lag): Phân tích mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa các biến, cho phép xử lý dữ liệu hỗn hợp I(0) và I(1) mà không cần phân biệt trước.
-
Phương pháp NARDL (Nonlinear ARDL): Mở rộng mô hình ARDL để kiểm tra tác động bất đối xứng của tăng và giảm tỷ giá lên cán cân thương mại, phân tách biến tỷ giá thành các thành phần tăng và giảm.
Quy trình nghiên cứu gồm kiểm định tính dừng của các biến bằng ADF và PP, lựa chọn độ trễ tối ưu theo tiêu chuẩn AIC, kiểm định đồng liên kết dài hạn bằng kiểm định đường bao (bound test), và phân tích kết quả hồi quy ngắn hạn, dài hạn cùng các kiểm định chẩn đoán mô hình.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Kiểm định tính dừng: Hầu hết các biến số đều dừng tại sai phân bậc nhất I(1), không có biến nào dừng tại bậc hai, đảm bảo tính hợp lệ cho phân tích ARDL và NARDL.
-
Mô hình ARDL tuyến tính:
- Xác nhận quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa cán cân thương mại và các biến giải thích trong mối quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ.
- Không tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng đường cong J trong cả ngắn hạn và dài hạn với các đối tác này.
- Thu nhập thực nội địa và nước ngoài không có tác động rõ ràng đến cán cân thương mại trong mô hình tuyến tính, ngoại trừ trường hợp Hàn Quốc, thu nhập nội địa Việt Nam tăng làm xấu đi cán cân thương mại.
-
Mô hình NARDL phi tuyến:
- Xác nhận quan hệ đồng liên kết dài hạn bất đối xứng với Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ.
- Hiệu ứng đường cong J chỉ được phát hiện rõ ràng trong mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc, với tác động dài hạn tích cực của phá giá tiền tệ lên cán cân thương mại (hệ số dương và có ý nghĩa thống kê).
- Tác động của tăng giá tiền tệ lên cán cân thương mại không có ý nghĩa hoặc ngược chiều, chứng tỏ tính bất đối xứng trong quá trình điều chỉnh.
- Thu nhập thực nội địa Việt Nam có xu hướng làm xấu đi cán cân thương mại, trong khi thu nhập thực của Nhật Bản và Mỹ cải thiện cán cân thương mại với Việt Nam.
- Không tìm thấy quan hệ đồng liên kết hay hiệu ứng đường cong J trong mối quan hệ với Trung Quốc.
Thảo luận kết quả
Kết quả cho thấy việc sử dụng mô hình tuyến tính ARDL không đủ để phát hiện hiệu ứng đường cong J do giả định tác động đối xứng của tỷ giá lên cán cân thương mại. Việc áp dụng mô hình NARDL phi tuyến cho phép phát hiện tác động bất đối xứng, đặc biệt là trong mối quan hệ với Hàn Quốc, phù hợp với các nghiên cứu quốc tế cho thấy sự khác biệt trong phản ứng của cán cân thương mại đối với tăng và giảm tỷ giá.
Hiệu ứng đường cong J được xác nhận trong trường hợp Việt Nam – Hàn Quốc có thể do đặc điểm thương mại song phương, cấu trúc hợp đồng và mức độ điều chỉnh giá cả, sản lượng khác biệt giữa hai nền kinh tế. Tác động bất đối xứng cũng phản ánh kỳ vọng và hành vi của nhà xuất nhập khẩu trong việc điều chỉnh tồn kho, giá bán và sản lượng theo biến động tỷ giá.
Việc thu nhập thực nội địa làm xấu đi cán cân thương mại cho thấy nhu cầu nhập khẩu tăng khi thu nhập tăng, trong khi thu nhập của đối tác làm tăng xuất khẩu của Việt Nam, góp phần cải thiện cán cân thương mại. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế chính sách kinh tế vĩ mô và thương mại.
Dữ liệu và kết quả có thể được trình bày qua các biểu đồ xu hướng cán cân thương mại, tỷ giá thực song phương và thu nhập thực, cùng bảng kết quả hồi quy ARDL và NARDL để minh họa rõ ràng các phát hiện.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt: Cơ quan quản lý nên xem xét áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt, đặc biệt trong mối quan hệ với các đối tác có hiệu ứng đường cong J rõ ràng như Hàn Quốc, nhằm tận dụng lợi thế phá giá tiền tệ để cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn.
-
Tăng cường theo dõi và phân tích bất đối xứng: Cần xây dựng hệ thống phân tích dữ liệu kinh tế vĩ mô theo hướng phi tuyến để phát hiện sớm các tác động bất đối xứng của tỷ giá, giúp điều chỉnh chính sách kịp thời và hiệu quả.
-
Khuyến khích phát triển sản xuất trong nước: Chính sách thúc đẩy sản xuất nội địa nhằm giảm nhập khẩu không cần thiết, đặc biệt khi thu nhập trong nước tăng, nhằm hạn chế tác động tiêu cực lên cán cân thương mại.
-
Đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm: Tăng cường các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu sang các đối tác như Nhật Bản và Mỹ, nơi thu nhập thực của đối tác có tác động tích cực đến cán cân thương mại, nhằm tận dụng cơ hội tăng trưởng xuất khẩu.
Các giải pháp nên được thực hiện trong vòng 1-3 năm, phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan để đảm bảo hiệu quả và đồng bộ.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại, giúp thiết kế chính sách tỷ giá và thương mại phù hợp.
-
Các nhà nghiên cứu kinh tế và tài chính: Luận văn sử dụng phương pháp ARDL và NARDL hiện đại, cung cấp cơ sở lý thuyết và thực nghiệm sâu sắc về hiệu ứng đường cong J và bất đối xứng trong kinh tế quốc tế.
-
Doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Hiểu rõ tác động của biến động tỷ giá đến cán cân thương mại giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh và quản lý rủi ro hiệu quả.
-
Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng: Tài liệu tham khảo quý giá về mô hình kinh tế lượng ứng dụng trong phân tích kinh tế vĩ mô và thương mại quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
-
Hiệu ứng đường cong J là gì?
Hiệu ứng đường cong J mô tả hiện tượng cán cân thương mại xấu đi trong ngắn hạn sau khi phá giá tiền tệ, sau đó cải thiện trong dài hạn do điều chỉnh giá cả và khối lượng giao dịch. -
Tại sao cần sử dụng mô hình NARDL thay vì ARDL?
Mô hình NARDL cho phép phân tích tác động bất đối xứng của tăng và giảm tỷ giá lên cán cân thương mại, trong khi ARDL giả định tác động đối xứng, có thể bỏ sót các hiệu ứng phi tuyến quan trọng. -
Tại sao hiệu ứng đường cong J chỉ được phát hiện với Hàn Quốc?
Do đặc điểm thương mại song phương, cấu trúc hợp đồng và phản ứng của thị trường giữa Việt Nam và Hàn Quốc khác biệt, tạo điều kiện cho hiệu ứng đường cong J xuất hiện rõ ràng hơn so với các đối tác khác. -
Thu nhập thực nội địa ảnh hưởng thế nào đến cán cân thương mại?
Tăng thu nhập thực nội địa thường làm tăng nhu cầu nhập khẩu, dẫn đến cán cân thương mại xấu đi, đặc biệt khi sản xuất trong nước chưa đủ thay thế hàng nhập khẩu. -
Luận văn có thể giúp gì cho nhà hoạch định chính sách?
Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động bất đối xứng của tỷ giá, giúp thiết kế chính sách tỷ giá linh hoạt và hiệu quả hơn nhằm cải thiện cán cân thương mại và ổn định kinh tế.
Kết luận
- Nghiên cứu xác nhận sự tồn tại của quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa cán cân thương mại và các biến tỷ giá, thu nhập trong mối quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ, nhưng không với Trung Quốc.
- Mô hình ARDL tuyến tính không phát hiện hiệu ứng đường cong J, trong khi mô hình NARDL phi tuyến cho thấy hiệu ứng này chỉ xuất hiện trong mối quan hệ với Hàn Quốc.
- Tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại mang tính bất đối xứng, với phá giá tiền tệ có tác động tích cực trong dài hạn, còn tăng giá tiền tệ không có hoặc tác động ngược chiều.
- Thu nhập thực nội địa Việt Nam có xu hướng làm xấu đi cán cân thương mại, trong khi thu nhập thực của đối tác thương mại có thể cải thiện cán cân thương mại.
- Các bước tiếp theo bao gồm mở rộng nghiên cứu với dữ liệu cập nhật, phân tích sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng khác và đề xuất chính sách cụ thể cho từng đối tác thương mại.
Hành động khuyến nghị: Các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu nên áp dụng mô hình phi tuyến trong phân tích kinh tế vĩ mô để có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại.