Luận văn Thạc sĩ Nguyễn Thanh Mai: Kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 Định luật bảo toàn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong Vật lí 10, phát triển tư duy học sinh với chương Định luật bảo toàn.

Chuyên ngành

Lí luận và phƣơng pháp dạy học bộ môn Vật lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2015

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học

1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.6. Phƣơng pháp nghiên cứu

1.7. Đóng góp của luận văn

1.8. Bố cục của luận văn

1. CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Kĩ thuật dạy học tích cực

1.2.1. Khái niệm về kĩ thuật dạy học tích cực

1.2.2. Một số kĩ thuật dạy học tích cực

1.3. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.3.1. Bản chất của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.3.2. Tình huống có vấn đề

1.3.3. Tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

1.4. Tính tích cực

1.4.1. Những biểu hiện của tính tích cực trong học tập

1.4.2. Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS

1.5. Điều tra thực trạng việc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chƣơng „„Các định luật bảo toàn‟‟ (Vật lí 10), tại một số trƣờng THPT ở thành phố Hạ Long - Quảng Ninh

1.6. Nguyên nhân của thực trạng. Đề xuất biện pháp khắc phục

1.7. Kết luận chƣơng 1

2. CHƢƠNG 2: VẬN DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC PHÁT HIỆN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƢƠNG "CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN"

2.1. Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

2.1.1. Giai đoạn 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

2.1.2. Giai đoạn 2: Giải quyết vấn đề

2.1.3. Giai đoạn 3: Kiểm tra, vận dụng kết quả

2.2. Chuẩn kiến thức, kĩ năng và xây dựng sơ đồ cấu trúc nội dung của chƣơng "Các định luật bảo toàn" (Vật lí 10)

2.2.1. Chuẩn kiến thức kĩ năng của chƣơng

2.2.2. Xây dựng sơ đồ cấu trúc nội dung của chƣơng

2.3. Vận dụng một số KT dạy học tích cực trong thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chƣơng "Các định luật bảo toàn" (Vật lí 10)

2.4. Kết luận chƣơng 2

3. CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sƣ phạm

3.1.1. Mục đích thực nghiệm sƣ phạm

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sƣ phạm

3.2. Đối tƣợng và nội dung thực nghiệm sƣ phạm

3.2.1. Đối tƣợng thực nghiệm sƣ phạm

3.2.2. Nội dung thực nghiệm sƣ phạm

3.3. Tiến trình thực nghiệm sƣ phạm

3.3.1. Công tác chuẩn bị thực nghiệm sƣ phạm

3.3.2. Lập kế hoạch thực nghiệm sƣ phạm

3.3.3. Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm theo kế hoạch

3.3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm sƣ phạm

3.4. Kết luận chƣơng 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 Nền tảng phát huy tư duy học sinh

Giáo dục hiện đại đang chuyển mình mạnh mẽ, đặt trọng tâm vào việc phát triển toàn diện người học, đặc biệt là phát huy tư duy học sinh. Trong bối cảnh đó, kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 nổi lên như một giải pháp thiết yếu, định hình lại cách thức học sinh tiếp cận kiến thức khoa học. Mục tiêu không chỉ là truyền thụ thông tin, mà còn là trang bị cho học sinh khả năng tự mình khám phá, phân tích và giải quyết vấn đề. Sự thay đổi này xuất phát từ nhận thức rằng, học sinh không phải là thụ thể tiếp nhận kiến thức một chiều, mà là chủ thể năng động trong quá trình kiến tạo tri thức Vật lí của chính mình (Nguyễn Thanh Mai, 2015).

Phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10 khuyến khích sự tương tác đa chiều giữa giáo viên, học sinh và nội dung bài học. Điều này đòi hỏi giáo viên phải đổi mới vai trò, từ người truyền đạt sang người tổ chức, định hướng và hỗ trợ. Học sinh được đặt vào các tình huống có vấn đề, yêu cầu họ vận dụng kiến thức sẵn có và tìm kiếm giải pháp mới, từ đó hình thành năng lực giải quyết vấn đề Vật lí một cách chủ động. Đây là nền tảng để học sinh không chỉ ghi nhớ công thức, định luật, mà còn hiểu sâu sắc bản chất các hiện tượng vật lí, liên hệ chúng với thực tiễn đời sống.

Việc áp dụng các kĩ thuật dạy học Vật lí lớp 10 tích cực góp phần quan trọng vào việc hình thành ở học sinh tư duy sáng tạo học sinh Vật líphát triển tư duy phản biện Vật lí 10. Khi được tham gia vào các hoạt động thảo luận nhóm, thực hành thí nghiệm hay dự án học tập, học sinh có cơ hội thể hiện ý kiến cá nhân, lắng nghe và phản biện ý kiến của bạn bè. Quá trình này không chỉ củng cố kiến thức mà còn rèn luyện các kỹ năng mềm thiết yếu cho thế kỷ 21 như làm việc nhóm, giao tiếp và tự đánh giá. Như luận văn của Nguyễn Thanh Mai (2015) đã chỉ rõ, các kĩ thuật dạy học tích cực có ý nghĩa đặc biệt trong việc kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc nhóm của học sinh. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu giáo dục Vật lí 10 theo định hướng phát triển năng lực.

Việc khai thác hiệu quả kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 cũng mở ra không gian cho đổi mới phương pháp dạy học Vật lí tổng thể, đặc biệt là trong bối cảnh Chương trình GDPT 2018 Vật lí đang chú trọng vào việc phát triển phẩm chất và năng lực người học. Các hoạt động học tập Vật lí tích cực được thiết kế khoa học sẽ biến những giờ học lí thuyết khô khan thành những trải nghiệm khám phá thú vị, giúp học sinh chủ động hơn trong việc tìm hiểu, làm chủ kiến thức. Điều này đặc biệt quan trọng với môn Vật lí, một môn học đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về các khái niệm trừu tượng và khả năng ứng dụng vào thực tế.

1.1. Bản chất phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10 Hướng đến học tập chủ động

Phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10 không chỉ là một tập hợp các kỹ thuật, mà là một triết lý giáo dục đặt người học vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học. Bản chất của phương pháp này nằm ở việc chuyển đổi từ vai trò thụ động tiếp nhận kiến thức sang vai trò chủ động kiến tạo tri thức Vật lí. Học sinh không chỉ lắng nghe và ghi nhớ mà còn tham gia vào các hoạt động thực tiễn, thí nghiệm, thảo luận, và giải quyết vấn đề. Mục tiêu chính là khơi gợi hứng thú, kích thích tò mò khoa học, và phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu ở học sinh. Các kĩ thuật dạy học Vật lí lớp 10 được thiết kế để tạo ra môi trường học tập tương tác, nơi học sinh được khuyến khích đặt câu hỏi, đưa ra giả thuyết và tự tìm kiếm câu trả lời. Điều này thúc đẩy học tập chủ động Vật lí, giúp học sinh hình thành tư duy độc lập và trách nhiệm đối với việc học của mình. Theo Thái Duy Tuyên (2006), tính tích cực nhận thức bao gồm sự lựa chọn đối tượng nhận thức và đề ra mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết nhằm cải tạo nó, thể hiện qua sự tập trung chú ý, tưởng tượng mạnh mẽ, phân tích và tổng hợp sâu sắc.

1.2. Mục tiêu giáo dục Vật lí 10 theo Chương trình GDPT 2018 Phát triển năng lực toàn diện

Chương trình GDPT 2018 Vật lí đặt ra những mục tiêu giáo dục Vật lí 10 cao hơn so với chương trình cũ, không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. Cụ thể, môn Vật lí 10 được kỳ vọng sẽ giúp học sinh hình thành và phát triển tư duy phản biện Vật lí 10, tư duy sáng tạo học sinh Vật lí, cùng với năng lực giải quyết vấn đề Vật lí. Chương trình nhấn mạnh việc trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, đồng thời rèn luyện kỹ năng làm việc khoa học, góp phần hình thành năng lực nhận thức và năng lực hành động. Các kĩ thuật dạy học tích cực đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa các mục tiêu này, biến quá trình học thành cơ hội để học sinh khám phá tiềm năng của bản thân. Việc tích hợp Giáo dục STEM Vật lí 10 cũng là một phần của định hướng này, khuyến khích học sinh ứng dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn, từ đó nâng cao hứng thú và sự yêu thích khoa học tự nhiên. Mục tiêu này được thể hiện rõ trong Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, nhấn mạnh việc giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động sáng tạo.

II. Thách thức trong việc phát huy tư duy học sinh Vật lí 10 Thực trạng và nguyên nhân

Mặc dù tầm quan trọng của kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 đã được khẳng định trong các văn bản chỉ đạo và nghiên cứu giáo dục, việc triển khai thực tế vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Phát huy tư duy học sinh trong môn Vật lí 10 đòi hỏi sự thay đổi sâu sắc từ cả phía giáo viên và học sinh, nhưng thực trạng cho thấy sự chuyển biến chưa đồng đều và toàn diện. Một trong những rào cản lớn nhất là thói quen dạy học truyền thống, nơi giáo viên đóng vai trò trung tâm và học sinh thụ động tiếp nhận kiến thức. Điều này làm giảm cơ hội cho học sinh rèn luyện tư duy sáng tạo học sinh Vật lí và khả năng giải quyết vấn đề Vật lí.

Kết quả điều tra thực trạng tại một số trường THPT ở Hạ Long – Quảng Ninh của luận văn Nguyễn Thanh Mai (2015) đã phản ánh rõ nét những hạn chế này. Hầu hết giáo viên dù đã biết đến kĩ thuật dạy học tích cực, nhưng rất ít vận dụng trong các tiết học hàng ngày. Nếu có, họ chỉ tập trung vào một số kỹ thuật cơ bản như sơ đồ tư duy, động não, khăn phủ bàn và thường chỉ áp dụng trong các tiết thao giảng hoặc có đoàn kiểm tra. Việc này khiến hoạt động học tập Vật lí tích cực của học sinh chưa được duy trì thường xuyên, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Giáo viên thường vẫn ưu tiên thuyết trình khi giảng dạy chương "Các định luật bảo toàn", khiến tiết học trầm lắng và học sinh ít hăng hái. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lí một cách mạnh mẽ và kiên định hơn.

Năng lực giải quyết vấn đề Vật lí của học sinh cũng bị ảnh hưởng khi họ không thường xuyên được đặt vào các tình huống có vấn đề để tự tìm tòi và khám phá. Thay vào đó, việc học tập chủ yếu xoay quanh việc ghi nhớ công thức và làm bài tập theo mẫu có sẵn, bỏ qua cơ hội phát triển tư duy phản biện Vật lí 10. Sự thiếu hụt các tài liệu dạy học Vật lí 10giáo án Vật lí 10 đổi mới phù hợp với định hướng tích cực cũng là một trở ngại đáng kể. Nhiều giáo viên vẫn còn nặng về truyền tải nội dung kiến thức, cứng nhắc trong việc đảm bảo khung phân phối chương trình, thiếu đi sự linh hoạt để khơi gợi sự tò mò và hứng thú của học sinh.

Thách thức không chỉ đến từ phía giáo viên mà còn từ học sinh. Các em quen với phương pháp học thụ động, ít có thói quen tìm tòi, khám phá và học tập chủ động Vật lí. Khi được yêu cầu tham gia vào các hoạt động tích cực, một số em còn lúng túng, chưa thích ứng kịp. Ngoài ra, áp lực thi cử cũng là một yếu tố khiến việc dạy và học ít chú trọng đến việc rèn luyện tư duy và phát huy tính tích cực nhận thức trong học tập. Việc này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tháo gỡ các rào cản, tạo điều kiện thuận lợi hơn để kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 thực sự đi vào chiều sâu và mang lại hiệu quả bền vững.

2.1. Thực trạng kỹ thuật dạy học Vật lí lớp 10 Hạn chế và tiềm năng

Thực trạng kỹ thuật dạy học Vật lí lớp 10 hiện nay cho thấy sự tồn tại song song giữa những nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học Vật lí và những thói quen cũ. Mặc dù nhiều giáo viên đã tiếp cận với các kĩ thuật dạy học tích cực thông qua các khóa bồi dưỡng, việc vận dụng chúng vào thực tiễn còn hạn chế. Theo điều tra của luận văn (Nguyễn Thanh Mai, 2015), 100% giáo viên biết đến phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, nhưng rất ít vận dụng thường xuyên. Điều này dẫn đến việc hoạt động học tập Vật lí tích cực của học sinh chưa được khai thác triệt để, đặc biệt là trong các chương khó như "Các định luật bảo toàn". Học sinh có tâm lý sẵn sàng đón nhận các kỹ thuật dạy học mới và tỏ ra hào hứng hơn trong các giờ học có yếu tố tích cực. Đây là một tiềm năng lớn cần được khai thác. Tuy nhiên, việc thiếu cơ hội trải nghiệm thường xuyên khiến các em vẫn còn thụ động, chưa phát triển được tư duy sáng tạo học sinh Vật línăng lực giải quyết vấn đề Vật lí một cách toàn diện. Cần có sự đầu tư hơn vào việc chuẩn bị giáo án Vật lí 10 đổi mớitài liệu dạy học Vật lí 10 để hỗ trợ giáo viên.

2.2. Nguyên nhân cản trở hoạt động học tập Vật lí tích cực Từ giáo viên đến học sinh

Nguyên nhân cản trở hoạt động học tập Vật lí tích cực rất đa dạng. Về phía giáo viên, một số chậm đổi mới, ngại áp dụng phương pháp mới do lo ngại tốn thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ chương trình. Một số khác chưa hiểu sâu sắc về các kĩ thuật dạy học tích cựcphương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề. Mặc dù có quan tâm đến phát huy tính tích cực học sinh, nhưng số lượng giáo viên thường xuyên áp dụng các biện pháp này còn thấp, và ít tìm hiểu nguyên nhân sâu xa khi học sinh chưa tích cực (Nguyễn Thanh Mai, 2015). Về phía học sinh, do quen với phương pháp dạy học truyền thống, các em thiếu thói quen tự tìm tòi, khám phá và học tập chủ động Vật lí. Một bộ phận học sinh bị phân tán tư tưởng do các yếu tố bên ngoài, chưa xác định rõ động cơ học tập môn Vật lí. Áp lực thi cử cũng là một yếu tố khiến việc dạy và học nặng về kiến thức, ít chú trọng đến rèn luyện phát triển tư duy phản biện Vật lí 10 và các kỹ năng khác. Việc khắc phục những nguyên nhân này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ nhiều phía: nhà trường, giáo viên, học sinh và gia đình, nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho đổi mới phương pháp dạy học Vật lí.

III. Bí quyết kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 Vận dụng Phát hiện Giải quyết vấn đề

Để thực sự phát huy tư duy học sinh trong môn Vật lí 10, việc vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 cần được gắn kết chặt chẽ với các phương pháp sư phạm hiện đại. Trong số đó, Dạy học Phát hiện và Giải quyết Vấn đề (DHP&GQVĐ) nổi bật như một "bí quyết" quan trọng. Phương pháp này đặt học sinh vào vai trò của nhà khoa học, khuyến khích họ tự mình khám phá, phân tích và tìm ra lời giải cho các vấn đề khoa học. Điều này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề Vật líphát triển tư duy phản biện Vật lí 10 một cách hiệu quả.

Theo Nguyễn Văn Khải (2015), DHP&GQVĐ là một quá trình dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh. Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức [19]. Đây là một cách tiếp cận toàn diện, không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn hướng đến việc trang bị cho học sinh "cần câu" để tự mình câu cá. Các hoạt động học tập Vật lí tích cực trong DHP&GQVĐ thường bắt đầu bằng việc tạo ra một tình huống có vấn đề, gây tò mò, mâu thuẫn nhận thức, khiến học sinh phải suy nghĩ và tìm kiếm câu trả lời. Điều này khơi gợi sự hứng thú, biến quá trình học thành một cuộc phiêu lưu trí tuệ.

Việc triển khai DHP&GQVĐ đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung bài học, thiết kế các tình huống có vấn đề phù hợp với trình độ và kinh nghiệm của học sinh. Đồng thời, giáo viên cần linh hoạt trong việc sử dụng các kĩ thuật dạy học Vật lí lớp 10 khác nhau để hỗ trợ học sinh trong từng giai đoạn của quá trình giải quyết vấn đề. Từ việc gợi mở ý tưởng bằng kĩ thuật động não, đến việc tổ chức thảo luận và tổng hợp kiến thức bằng kĩ thuật khăn phủ bàn hoặc sơ đồ tư duy, mỗi kỹ thuật đều góp phần tạo nên một môi trường học tập năng động và hiệu quả.

Thêm vào đó, DHP&GQVĐ còn là nền tảng để học sinh hình thành tư duy sáng tạo học sinh Vật lí. Khi được tự do đề xuất giả thuyết và phương án giải quyết, học sinh không bị bó buộc bởi những khuôn mẫu có sẵn, mà được khuyến khích suy nghĩ độc đáo, vượt ra ngoài những gì đã biết. Đây là một yếu tố quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học Vật lí và đáp ứng yêu cầu của Chương trình GDPT 2018 Vật lí, hướng đến việc đào tạo những thế hệ học sinh có khả năng thích ứng và sáng tạo trong một thế giới thay đổi không ngừng. Sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa kiến thức và kỹ năng trong DHP&GQVĐ chính là chìa khóa để đạt được các mục tiêu giáo dục Vật lí 10 một cách toàn diện.

3.1. Bản chất dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Kiến tạo tri thức Vật lí

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề mang bản chất của một phương pháp giáo dục hiện đại, nơi học sinh là người kiến tạo tri thức Vật lí thông qua hoạt động giải quyết các nhiệm vụ nhận thức. Thay vì nhận kiến thức một cách thụ động, học sinh được đặt vào các "tình huống có vấn đề" chứa đựng mâu thuẫn về nhận thức, kích thích tư duy và thúc đẩy sự hoạt động tìm kiếm giải pháp. Theo Đỗ Hương Trà (trích dẫn theo [15]), đây là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt động đặt và giải quyết các vấn đề, từ đó thu được kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ tích cực. Quá trình này giúp học sinh hình thành năng lực giải quyết vấn đề Vật líphát triển tư duy phản biện Vật lí 10 một cách tự nhiên. DHP&GQVĐ phù hợp với tinh thần học tập chủ động Vật lí, khuyến khích học sinh tự lực nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo. Điều này biến kiến thức không chỉ thành niềm tin mà còn phù hợp với đặc điểm của khoa học Vật lí.

3.2. Tiến trình 3 giai đoạn của Dạy học qua vấn đề Vật lí 10 Đặt Giải quyết Vận dụng

Dạy học qua vấn đề Vật lí 10 theo DHP&GQVĐ thường bao gồm ba giai đoạn chính, mỗi giai đoạn có vai trò riêng biệt trong việc phát huy tư duy học sinh.

  1. Giai đoạn 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức. Giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề Vật lí 10 (bằng thí nghiệm, câu chuyện khoa học, bài toán thực tiễn) để làm xuất hiện mâu thuẫn nhận thức, kích thích hứng thú và đặt ra nhiệm vụ cho học sinh.
  2. Giai đoạn 2: Nghiên cứu giải quyết vấn đề. Học sinh đề xuất các giả thuyết, lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề (thường là qua thí nghiệm). Giáo viên hướng dẫn để học sinh khai thác tri thức một cách tự lực và làm quen với phương pháp khoa học.
  3. Giai đoạn 3: Kiểm tra, vận dụng kết quả. Học sinh thảo luận kết quả, đánh giá sự phù hợp của giả thuyết với thực nghiệm, rút ra kết luận và vận dụng kiến thức mới để giải quyết các tình huống khác. Tiến trình này giúp học sinh rèn luyện tính logic, phát triển tư duy phản biện Vật lí 10tư duy sáng tạo học sinh Vật lí, đồng thời củng cố khả năng năng lực giải quyết vấn đề Vật lí (Nguyễn Thanh Mai, 2015, tr. 16-19).

3.3. Xây dựng tình huống có vấn đề Vật lí 10 Kích thích tư duy phản biện

Việc xây dựng tình huống có vấn đề Vật lí 10 là yếu tố then chốt để kích thích phát triển tư duy phản biện Vật lí 10 và khơi gợi hứng thú học tập. Một tình huống có vấn đề hiệu quả phải chứa đựng mâu thuẫn, đòi hỏi học sinh không thể giải quyết bằng kiến thức sẵn có mà phải suy nghĩ độc lập, sáng tạo. Có nhiều cách để tạo tình huống: kể chuyện khoa học, sử dụng thí nghiệm định tính, các bài toán vật lí có tính nghịch lý, hoặc các mẩu chuyện lịch sử (Nguyễn Thanh Mai, 2015, tr. 17). Các kiểu tình huống có thể là đột biến, bất ngờ, không phù hợp (ví dụ: “Nghịch lí thủy tĩnh học"), xung đột (ví dụ: bản chất ánh sáng là hạt hay sóng), bác bỏ (ví dụ: quan niệm của Aristotle về vật rơi) hoặc lựa chọn. Mỗi kiểu tình huống đòi hỏi học sinh phải phân tích, phê phán và tìm ra chân lý khoa học. Qua đó, học sinh không chỉ thu nhận kiến thức mà còn rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề Vật lí, phát triển khả năng tư duy logic và kỹ năng lập luận. Việc thiết kế các tình huống phù hợp là yếu tố quyết định sự thành công của phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10.

IV. Kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 Công cụ phát triển tư duy sáng tạo

Để đạt được hiệu quả tối đa trong việc phát huy tư duy học sinh, việc tích hợp các kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 đa dạng là điều kiện tiên quyết. Các kỹ thuật này không chỉ làm cho giờ giảng sinh động hơn mà còn tạo bầu không khí hứng thú trong lớp học, kích thích tư duy sáng tạo học sinh Vật lí và rèn luyện hàng loạt kỹ năng mềm cần thiết. Luận văn của Nguyễn Thanh Mai (2015) đã liệt kê một số kỹ thuật tiêu biểu như Động não, Sơ đồ tư duy, Khăn phủ bàn, KWL, Bể cá, Mảnh ghép, v.v., nhấn mạnh vai trò của chúng trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh [trích dẫn theo 15],[19].

Mỗi kỹ thuật dạy học Vật lí lớp 10 mang một đặc điểm riêng, phù hợp với từng mục tiêu và giai đoạn của bài học. Ví dụ, kĩ thuật động não (Brainstorming) thường được dùng trong giai đoạn nhập đề để huy động tối đa ý tưởng ban đầu của học sinh về một chủ đề, tạo ra "cơn lốc" ý tưởng mà không bị đánh giá hay phê phán. Điều này khích lệ sự tưởng tượng và liên tưởng, là bước khởi đầu quan trọng để phát triển tư duy phản biện Vật lí 10. Khi học sinh được tự do bày tỏ quan điểm, họ sẽ cảm thấy tự tin hơn để tham gia vào các hoạt động học tập Vật lí tích cực.

Sự kết hợp linh hoạt các kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 cũng giúp giáo viên dễ dàng cá nhân hóa quá trình học tập, đáp ứng nhu cầu đa dạng của học sinh. Chẳng hạn, kĩ thuật KWL (Know, Want to know, Learned) giúp học sinh tự xác định những gì mình đã biết, muốn biết và đã học được, từ đó tăng cường tính độc lập và ý thức học tập chủ động Vật lí. Kĩ thuật này không chỉ là một công cụ để học sinh tự đánh giá mà còn cung cấp thông tin quý giá cho giáo viên để điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp, hướng đến mục tiêu đánh giá năng lực học sinh Vật lí một cách toàn diện.

Việc vận dụng các kỹ thuật này không chỉ giới hạn trong môi trường lớp học. Giáo dục STEM Vật lí 10 là một ví dụ điển hình về việc tích hợp nhiều kỹ thuật để tạo ra các dạy học dự án Vật lí 10 hoặc thí nghiệm Vật lí phát huy tư duy. Khi học sinh tham gia vào các dự án STEM, họ không chỉ áp dụng kiến thức Vật lí mà còn rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, và tư duy liên môn. Đây là một cách hiệu quả để kiến tạo tri thức Vật lí một cách thực tiễn và sâu sắc. Việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lí thông qua các kỹ thuật này là chìa khóa để chuẩn bị cho học sinh năng lực cần thiết trong tương lai.

4.1. Động não và Sơ đồ tư duy Khơi nguồn ý tưởng trong Vật lí 10

Kĩ thuật động não (Brainstorming) là công cụ hữu hiệu để khơi nguồn ý tưởng và kích thích tư duy sáng tạo học sinh Vật lí trong môn Vật lí 10. Khi giáo viên đưa ra một vấn đề, học sinh được khuyến khích đưa ra mọi ý tưởng mà không bị đánh giá, tạo điều kiện cho "cơn lốc ý tưởng" hình thành. Kỹ thuật này thường dùng trong giai đoạn nhập đề hoặc tìm phương án giải quyết vấn đề, giúp huy động trí tuệ tập thể và tạo cơ hội cho mọi thành viên tham gia (Nguyễn Thanh Mai, 2015, tr. 9). Song song đó, Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một phương pháp trực quan hóa kiến thức, giúp học sinh tóm tắt nội dung, ôn tập hoặc trình bày tổng quan một chủ đề. Việc vẽ sơ đồ tư duy giúp học sinh sắp xếp các ý tưởng một cách logic, làm rõ mối quan hệ giữa các khái niệm và dễ dàng bổ sung, phát triển kiến thức. Cả hai kỹ thuật này đều hỗ trợ phát triển tư duy phản biện Vật lí 10 bằng cách khuyến khích học sinh suy nghĩ đa chiều và sắp xếp thông tin một cách có hệ thống.

4.2. Kĩ thuật Khăn phủ bàn và KWL Tăng cường tương tác học sinh Vật lí 10

Kĩ thuật khăn phủ bàn là một kỹ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác, kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm. Mỗi học sinh làm việc độc lập ghi ý kiến vào phần riêng của mình, sau đó thảo luận nhóm để thống nhất ý kiến chung vào phần trung tâm (Nguyễn Thanh Mai, 2015, tr. 10). Kỹ thuật này khắc phục hạn chế của học nhóm truyền thống, đảm bảo mọi thành viên đều tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập và trách nhiệm cá nhân. Kĩ thuật KWL (Know, Want to know, Learned) lại là một sơ đồ giúp học sinh liên hệ kiến thức đã biết, muốn biết và đã học được. KWL tăng cường tính độc lập và tương tác học sinh Vật lí 10 bằng cách giúp các em tự xác định nhiệm vụ học tập, tự đánh giá quá trình và kết quả. Cả hai kỹ thuật này đều thúc đẩy hoạt động học tập Vật lí tích cực, nâng cao hiệu quả học tập và rèn luyện kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm cho học sinh.

4.3. Thí nghiệm Vật lí phát huy tư duy và Giáo dục STEM Vật lí 10 Ứng dụng thực tiễn

Việc tổ chức thí nghiệm Vật lí phát huy tư duy đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10. Thí nghiệm không chỉ giúp minh họa lý thuyết mà còn là cơ hội để học sinh tự mình khám phá, kiểm chứng giả thuyết và rút ra kết luận. Thông qua thí nghiệm, học sinh trực tiếp trải nghiệm các hiện tượng vật lí, từ đó hình thành phát triển tư duy phản biện Vật lí 10năng lực giải quyết vấn đề Vật lí một cách trực quan. Giáo viên có thể thiết kế các thí nghiệm mở, yêu cầu học sinh dự đoán, thiết kế phương án thực hiện và phân tích kết quả, từ đó kích thích tư duy sáng tạo học sinh Vật lí. Hơn nữa, việc tích hợp Giáo dục STEM Vật lí 10 thông qua các dạy học dự án Vật lí 10 liên quan đến thực tiễn giúp học sinh ứng dụng kiến thức vào việc tạo ra sản phẩm cụ thể, như chế tạo mô hình, thiết bị đơn giản. Điều này không chỉ củng cố kiến thức mà còn phát triển kỹ năng liên môn, thúc đẩy học tập chủ động Vật lí và trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho kỷ nguyên công nghệ.

V. Kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 Minh chứng hiệu quả tại Các Định luật Bảo toàn

Để đánh giá hiệu quả của việc triển khai kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10, luận văn của Nguyễn Thanh Mai (2015) đã tập trung vào việc vận dụng các kỹ thuật này trong chương "Các Định luật Bảo toàn" của môn Vật lí 10. Đây là một chương quan trọng nhưng thường gây khó khăn cho học sinh bởi nhiều khái niệm và định luật tổng quát. Việc thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề kết hợp với phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10 đã được đề xuất nhằm phát huy tính tích cực của người học, đặc biệt là tính tích cực nhận thức.

Quá trình vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 trong chương này được cấu trúc thành ba giai đoạn chính của DHP&GQVĐ: Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề và Kiểm tra, vận dụng kết quả. Trong mỗi giai đoạn, các kỹ thuật dạy học Vật lí lớp 10 như Động não, Sơ đồ tư duy, Khăn phủ bàn, và KWL được tích hợp một cách có chủ đích để tối ưu hóa sự tham gia của học sinh. Ví dụ, ở giai đoạn Đặt vấn đề, giáo viên sử dụng kĩ thuật động não hoặc sơ đồ tư duy để khơi gợi kiến thức sẵn có của học sinh và tạo ra mâu thuẫn nhận thức thông qua các thí nghiệm Vật lí phát huy tư duy hoặc câu chuyện khoa học. Điều này kích thích học sinh phát triển tư duy phản biện Vật lí 10 ngay từ những phút đầu tiên của bài học.

Giai đoạn Giải quyết vấn đề đặc biệt chú trọng vào hoạt động học tập Vật lí tích cực thông qua thảo luận nhóm, xây dựng giả thuyết và thiết kế thí nghiệm kiểm chứng. Giáo viên định hướng tư duy học sinh bằng sơ đồ tư duy hoặc kĩ thuật khăn phủ bàn, khuyến khích các em tư duy sáng tạo học sinh Vật lí để đề xuất các phương án kiểm tra giả thuyết. Việc tổ chức thí nghiệm Vật lí phát huy tư duy không chỉ giúp học sinh kiểm chứng lý thuyết mà còn rèn luyện kỹ năng thực hành và làm việc nhóm hiệu quả. Đây là minh chứng rõ nét cho việc kiến tạo tri thức Vật lí một cách chủ động, thay vì tiếp nhận thụ động.

Cuối cùng, ở giai đoạn Kiểm tra, vận dụng kết quả, học sinh thảo luận để đánh giá sự phù hợp của giả thuyết với kết quả thực nghiệm, từ đó rút ra kiến thức mới. Giáo viên đưa ra các bài toán thực tiễn để học sinh vận dụng kiến thức sáng tạo, củng cố năng lực giải quyết vấn đề Vật lí. Thông qua quá trình này, học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn hình thành thói quen học tập chủ động Vật lí và tự tin trong việc giải quyết các tình huống mới. Việc ứng dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong chương "Các Định luật Bảo toàn" đã cho thấy tiềm năng lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Vật lí 10.

5.1. Quy trình thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Vật lí 10

Quy trình thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Vật lí 10 dựa trên nền tảng ba giai đoạn chính: Đặt vấn đề, Giải quyết vấn đề và Kiểm tra – Vận dụng kết quả. Trong giai đoạn Đặt vấn đề, giáo viên tập trung vào việc xây dựng tình huống có vấn đề Vật lí 10 thông qua mẩu chuyện khoa học, bài toán vật lí hoặc thí nghiệm, sử dụng kĩ thuật động não hoặc sơ đồ tư duy để khơi gợi sự tò mò và xác định nhiệm vụ nhận thức. Giai đoạn Giải quyết vấn đề đòi hỏi học sinh đề xuất giả thuyết, lập kế hoạch và thực hiện kiểm chứng, thường được hỗ trợ bởi kĩ thuật khăn phủ bàn hoặc sơ đồ tư duy để tổ chức thảo luận nhóm. Cuối cùng, giai đoạn Kiểm tra, vận dụng kết quả giúp học sinh đánh giá, khẳng định kiến thức và vận dụng vào các tình huống mới, có thể sử dụng lại kĩ thuật động não hoặc khăn phủ bàn để tổng kết. Quy trình này được thiết kế để phát huy tư duy học sinhnăng lực giải quyết vấn đề Vật lí một cách có hệ thống (Nguyễn Thanh Mai, 2015, tr. 29).

5.2. Đánh giá năng lực học sinh Vật lí qua thực nghiệm sư phạm

Đánh giá năng lực học sinh Vật lí là một phần không thể thiếu trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học Vật lí. Luận văn đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT để đo lường hiệu quả của việc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10. Mục đích là xác định mức độ phát huy tính tích cực nhận thức của người học và khả năng phát triển tư duy phản biện Vật lí 10 cũng như tư duy sáng tạo học sinh Vật lí. Các tiêu chí đánh giá bao gồm sự hứng thú, chủ động trong học tập, khả năng đặt câu hỏi, tham gia thảo luận, hoàn thành nhiệm vụ, và kết quả các bài kiểm tra. Thông qua quan sát, điều tra phiếu hỏi và phân tích kết quả học tập, các nhà nghiên cứu có thể thu thập dữ liệu định lượng và định tính. Việc so sánh giữa nhóm thực nghiệm (áp dụng kỹ thuật tích cực) và nhóm đối chứng (dạy học truyền thống) giúp minh chứng rõ ràng hơn về tác động của hoạt động học tập Vật lí tích cực đối với sự tiến bộ của học sinh.

5.3. Bài học rút ra và đề xuất đổi mới phương pháp dạy học Vật lí

Từ kết quả thực nghiệm và phân tích thực trạng, nhiều bài học quý giá đã được rút ra, đồng thời đưa ra các đề xuất cụ thể cho việc đổi mới phương pháp dạy học Vật lí. Bài học chính là sự cần thiết phải tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về các kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 và DHP&GQVĐ, giúp họ hiểu sâu sắc và tự tin vận dụng. Không chỉ dừng lại ở các tiết thao giảng, mà cần áp dụng thường xuyên trong các tiết học hàng ngày để học sinh hình thành thói quen học tập chủ động Vật lí. Các đề xuất cũng bao gồm việc chú trọng phát triển năng lực giải quyết vấn đề Vật lítư duy sáng tạo học sinh Vật lí, không nặng về thi cử. Cần xây dựng và phổ biến tài liệu dạy học Vật lí 10 cùng giáo án Vật lí 10 đổi mới linh hoạt, tích hợp công nghệ dạy học Vật lí để tạo môi trường học tập hấp dẫn hơn. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho tương tác học sinh Vật lí 10 thông qua các hoạt động nhóm, thí nghiệm thực hành.

VI. Tổng kết và định hướng phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10 trong tương lai

Nhìn lại hành trình triển khai và nghiên cứu kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10, có thể khẳng định rằng đây là một hướng đi đúng đắn và cần thiết để phát huy tư duy học sinh trong thời đại giáo dục hiện đại. Các phân tích từ luận văn và thực tiễn đã chỉ ra rằng, việc chuyển đổi từ mô hình dạy học truyền thống sang mô hình lấy người học làm trung tâm không chỉ là một xu thế mà còn là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục. Sự kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10 như DHP&GQVĐ và các kỹ thuật dạy học Vật lí lớp 10 cụ thể đã mang lại những kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào việc hình thành ở học sinh phát triển tư duy phản biện Vật lí 10tư duy sáng tạo học sinh Vật lí.

Trong tương lai, việc tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học Vật lí cần được đẩy mạnh, không ngừng tìm kiếm và áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực mới, phù hợp với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu xã hội. Giáo dục STEM Vật lí 10 sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc tích hợp kiến thức liên môn, tạo cơ hội cho học sinh ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực giải quyết vấn đề Vật lí. Việc đầu tư vào công nghệ dạy học Vật lí cũng là một hướng đi chiến lược, giúp giáo viên thiết kế các bài giảng sinh động, hấp dẫn hơn, đồng thời hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học và khám phá.

Một yếu tố then chốt khác cho tương lai là việc xây dựng một hệ sinh thái học tập toàn diện, nơi giáo viên được bồi dưỡng liên tục, có sẵn tài liệu dạy học Vật lí 10giáo án Vật lí 10 đổi mới chất lượng cao, linh hoạt. Học sinh được khuyến khích học tập chủ động Vật lí, có nhiều cơ hội tham gia vào các hoạt động học tập Vật lí tích cựctương tác học sinh Vật lí 10 một cách hiệu quả. Điều này sẽ giúp các em không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng mềm, phẩm chất cần thiết để trở thành những công dân toàn cầu có năng lực và trách nhiệm.

Tóm lại, kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10 không chỉ là một phương tiện mà còn là mục tiêu của quá trình giáo dục, hướng tới việc đào tạo thế hệ học sinh có khả năng kiến tạo tri thức Vật lí, tự tin đối mặt và giải quyết các thách thức trong cuộc sống. Việc liên tục đánh giá, điều chỉnh và cải tiến các phương pháp dạy học sẽ đảm bảo rằng mục tiêu giáo dục Vật lí 10 theo Chương trình GDPT 2018 Vật lí được hiện thực hóa một cách bền vững, góp phần vào sự phát triển chung của nền giáo dục nước nhà.

6.1. Tầm quan trọng của tài liệu dạy học Vật lí 10 và giáo án Vật lí 10 đổi mới

Để thành công trong việc áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10, việc có sẵn các tài liệu dạy học Vật lí 10 chất lượng và giáo án Vật lí 10 đổi mới là cực kỳ quan trọng. Các tài liệu này cần được thiết kế theo hướng phát huy tư duy sáng tạo học sinh Vật lí, tích hợp các kỹ thuật dạy học Vật lí lớp 10 hiện đại, và cung cấp các ví dụ minh họa thực tiễn. Giáo án Vật lí 10 đổi mới không chỉ là khung sườn bài giảng mà còn là kim chỉ nam giúp giáo viên tổ chức các hoạt động học tập Vật lí tích cực, tạo ra các tình huống có vấn đề Vật lí 10 và định hướng học tập chủ động Vật lí cho học sinh. Chúng cần linh hoạt, dễ điều chỉnh để phù hợp với từng đối tượng học sinh và điều kiện thực tế của từng địa phương. Việc chia sẻ và cập nhật thường xuyên các tài liệu này sẽ góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên, đồng thời đảm bảo chất lượng giảng dạy đồng bộ trên toàn quốc.

6.2. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề Vật lí và học tập chủ động Vật lí

Mục tiêu cuối cùng của kĩ thuật dạy học tích cực Vật lí 10phát triển năng lực giải quyết vấn đề Vật líhọc tập chủ động Vật lí ở học sinh. Năng lực giải quyết vấn đề không chỉ bao gồm khả năng tìm ra đáp án đúng mà còn là quá trình phân tích, đề xuất giải pháp, kiểm chứng và đánh giá. Các phương pháp dạy học tích cực Vật lí 10, đặc biệt là DHP&GQVĐ, đặt học sinh vào những thử thách đòi hỏi sự tư duy liên tục, từ đó rèn luyện kỹ năng này. Học tập chủ động Vật lí khuyến khích học sinh tự chịu trách nhiệm về việc học của mình, tự đặt mục tiêu, lập kế hoạch và tự đánh giá. Điều này tạo nền tảng cho việc kiến tạo tri thức Vật lí bền vững, giúp học sinh phát triển tư duy phản biện Vật lí 10 và sẵn sàng đối mặt với những vấn đề phức tạp trong tương lai. Sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa kiến thức và kỹ năng trong hoạt động học tập Vật lí tích cực là chìa khóa để đạt được những mục tiêu quan trọng này.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chương các định luật bảo toàn vật lí 10

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và đề nghị, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề chƣơng „„Các định luật bảo toàn‟‟ Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, quá trình dạy học cũng đã có những bƣớc tiến mới theo hƣớng ngày càng tích cực hóa hoạt động của ngƣời học, chuyển từ dạy học mà ngƣời thầy là chủ đạo sang dạy học lấy “học sinh làm trung tâm”. Dạy học hiện nay không ngừng tìm kiếm những hình thức, phƣơng pháp, phƣơng tiện, kĩ thuật mới hiệu quả đảm bảo sao cho trong quá trình dạy học năng lực tự lực của HS ngày càng đƣợc bộc lộ và phát triển.

Ở nƣớc ta nền giáo dục cũng không ngừng đổi mới nhằm đào tạo đƣợc nguồn nhân lực đáp ứng kịp thời với yêu cầu của thời đại. Trong đó định hƣớng đổi mới PPDH cũng đã đƣợc khẳng định trong nhiều văn kiện, nghị quyết. Xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học THPT ngày nay luôn chú trọng đến việc phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động của học sinh. Phát huy tính tích cực của HS là một trong những nội dung đƣợc nhiều tài liệu sách báo cũng nhƣ các công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến nhƣ: “Phát huy tính tích cực nhận thức của người học”, Thái Duy Tuyên (2006), Nxb Giáo dục.

“Dạy học vật lí ở trường phổ thông theo định hướng phát triển hoạt động học tích cực, tự chủ, sáng tạo và tư duy khoa học”, Phạm Hữu Tòng (2004), Nxb Đại học sƣ phạm. “Tổ chức hoạt động ngoại khóa các ứng dụng kĩ thuật của một số kiến thức chương "Các định luật bảo toàn" Vật lí 10 theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên”. Đặng Thị Hoa. Đại học Thái Nguyên (2014).

Trong công cuộc đổi mới PPDH dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong các phƣơng pháp chủ đạo đƣợc sử dụng trong các nhà trƣờng nói chung. Phƣơng pháp này đã đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu. Vào những năm 70 của thế kỉ XIX các nhà khoa học đã nêu lên phƣơng án tìm tòi, phát kiến trong dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức của HS bằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com cách đƣa HS vào hoạt động tìm kiếm tri thức, HS là chủ thể của hoạt động học. Đây có thể là một trong những cơ sở lý luận đầu tiên của phƣơng pháp dạy học PH&GQVĐ.

Phải đến những năm 50 của thế kỉ XX phƣơng pháp dạy học PH&GQVĐ mới chính thức ra đời và đƣợc áp dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Mỹ, Canada, Balan… Khi phƣơng pháp này đƣợc đƣa vào Việt Nam nó đã trở thành một trong những phƣơng pháp dạy học tích cực đƣợc áp dụng phổ biến trong các trƣờng phổ thông và đại học. Liên quan đến phƣơng pháp này có nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhƣ Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Kì…và nhiều tài liệu, công trình khoa học nghiên cứu nhƣ: “Dạy học nêu vấn đề”, I. LECNE, Phạm Tất Đắc (dịch 1977), Nxb Giáo dục.“Dạy- học giải quyết vấn đề: một hướng đổi mới trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện”, Vũ Văn Tảo, Trần Văn Hà (1996), Trƣờng cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo Hà Nội. “Tổ chức dạy học đặt và giải quyết vấn đề nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS khi dạy học chương "Khúc xạ ánh sáng" Vật lí 11 cơ bản THPT”.

Nguyễn Thị Oanh. Đại học Thái Nguyên (2014). Cùng với sự đổi mới của các PPDH thì KTDH tích cực cũng ngày càng đƣợc phát triển nhiều hơn. Chúng ta có thể sử dụng nhiều kỹ thuật dạy học tích cực nhƣ: động não, KWL, bản đồ tƣ duy, mảnh ghép, khăn phủ bàn.để phát huy tối đa hiệu quả của các phƣơng pháp giảng dạy tích cực.

Những KT này làm cho giờ giảng sinh động hơn, tạo bầu không khí hứng thú trong lớp học. Mặt khác, về phía HS những kỹ thuật này có tác dụng kích thích tƣ duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện hàng loạt kỹ năng nhƣ: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề.cho HS trƣớc những thay đổi xảy ra bất ngờ. Nghiên cứu về kĩ thuật dạy học tích cực có một số tài liệu và công trình nghiên cứu nhƣ: “Dạy và học tích cực- Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, Dự án Việt - Bỉ, Nxb Đại học sƣ phạm. “Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học một số kiến thức chương “Chất rắn và chất lỏng.

Sự chuyển thể” - Vật lí 10 cơ bản”. Phạm Thị Duyên. Đại học Thái Nguyên (2013). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Trong các nghiên cứu ở trên, các tác giả đã đi sâu vào từng khía cạnh của các vấn đề: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ thuật dạy học tích cực, tính tích cực của học sinh.

Tuy nhiên chƣa có tác giả nào nghiên cứu vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong thiết kế tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm phát huy tính tích cực của ngƣời học. Kĩ thuật dạy học tích cực 1. Khái niệm về kĩ thuật dạy học tích cực Sau khi nghiên cứu các tài liệu khác nhau chúng tôi thấy rằng mỗi tác giả có cách phát biểu khác nhau về KTDH tuy nhiên chúng đều có nội hàm và bản chất giống nhau. Trong luận văn này, chúng tôi xin đƣợc nêu khái niệm về KTDH theo tác giả Nguyễn Văn Khải.

“Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.” [19] Các KTDH là những thành phần của PPDH, đƣợc hiểu là đơn vị nhỏ nhất của phƣơng pháp dạy học. Sự phân biệt giữa kĩ thuật và phƣơng pháp dạy học nhiều khi không rõ ràng. Mối quan hệ giữa quan điểm dạy học, phƣơng pháp dạy học và kĩ thuật dạy học có thể đƣợc thể hiện ở sơ đồ 1.1 sau: Bình diện PP vĩ mô vĩ mô QĐ DH Bình diện Phƣơng pháp PP cụ thể trung gian dạy học Bình diện Kĩ thuật dạy học PP vi mô vi mô Sơ đồ 1. Ba bình diện của phương pháp dạy học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.

Một số kĩ thuật dạy học tích cực Theo Đỗ Hƣơng Trà, Nguyễn Văn Khải và một số các tác giả khác thì có thể kể ra một số KTDH tích cực nhƣ: Động não, sơ đồ tƣ duy, bể cá, mảnh ghép, khăn phủ bàn, KWL, ổ bi, XYZ, tia chớp, ba lần ba, lắng nghe và phản hồi tích cực…[trích dẫn theo 15],[19]. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi chỉ xin sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực nhất định. Sau đây chúng tôi xin trình bày cơ sở lý luận của các kĩ thuật dạy học tích cực sẽ đƣợc áp dụng trong luận văn. 1) Động não Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tƣ tƣởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận.

Các thành viên đƣợc cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tƣởng (nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tƣởng). * Quy tắc của động não - Không đánh giá, phê phán trong khi thu thập ý tƣởng của các thành viên. - Liên hệ với những ý tƣởng đã đƣợc trình bày. - Khuyến khích số lƣợng các ý tƣởng.

- Cho phép sự tƣởng tƣợng và liên tƣởng. * Cách tiến hành - Giáo viên chia nhóm học sinh (nhóm tự chọn nhóm trƣởng và thƣ ký), giao vấn đề cho nhóm. - Nhóm trƣởng điều hành hoạt động thảo luận chung, các thành viên đƣa ra ý kiến của mình về vấn đề đƣợc giao trong một thời gian quy định. Trong khi thu thập ý kiến không đánh giá, nhận xét, các ý kiến đều đƣợc thƣ ký ghi nhận khuyến khích thành viên đƣa càng nhiều ý kiến càng tốt.

- Cả nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ƣu, thu gọn các ý tƣởng trùng lặp, xóa những ý không phù hợp, sau cùng thƣ ký báo cáo kết quả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com * Tóm lại KT động não thƣờng dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề hoặc tìm các phƣơng án giải quyết vấn đề. KT này dễ thực hiện, không tốn kém lại sử dụng đƣợc hiệu ứng cộng hƣởng, huy động nhiều ý kiến phát huy tối đa trí tuệ của tập thể đồng thời tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia. Tuy nhiên khi sử dụng cần chú ý có thể đi lạc đề, tản mạn, mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp.

Có thể có một số HS “quá tích cực“, số khác thì thụ động. KT động não đƣợc áp dụng phổ biến và ngƣời ta xây dựng nhiều KT khác dựa trên KT này, có thể coi là các dạng khác nhau của KT động não. 2) Kĩ thuật khăn phủ bàn KT khăn phủ bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của HS, tăng cƣờng tính độc lập, trách nhi ệm của cá nhân HS, phát triển mô hình có sự tƣơng tác giữa ngƣời học với ngƣời học. * Cách tiến hành: - Chia học sinh thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0.

- Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanh. Phần xung quanh đƣợc chia theo số thành viên của nhóm. Mỗi ngƣời ngồi vào vị trí tƣơng ứng với từng phần xung quanh. - Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi, nhiệm vụ theo cách nghĩ cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy của mình trên tờ A0.

- Trên cơ sở ý kiến của mỗi cá nhân, học sinh thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “Khăn phủ bàn” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN10 http://www.vn download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ