Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM 1. Vị trí, vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân 1. Khái niệm ngành xây dựng và các ngành trực tiếp có liên quan Ngành xây dựng là một ngành cơ bản trong nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia. Ngành xây dựng còn được gọi là lĩnh vực đầu tư và xây dựng.
Theo nghĩa này thì ngành xây dựng được hiểu là toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc đầu tư và xây dựng các công trình như tư vấn đầu tư và xây dựng (lập dự án, khảo sát, thiết kế, quản lý thực hiện dự án…), cung ứng vật tư, thiết bị xây dựng; thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị vào công trình, các tổ chức tài chính ngân hàng phục vụ xây dựng, các tổ chức nghiên cứu và đào tạo phục vụ xây dựng, các cơ quan Nhà nước trực tiếp liên quan đến hoạt động xây dựng và các tổ chức dịch vụ khác phục vụ xây dựng… [52, tr. Lĩnh vực đầu tư mà ngành xây dựng quan tâm là lĩnh vực đầu tư được thực hiện thông qua việc xây dựng công trình để vận hành, sinh lợi và không bao gồm các lĩnh vực đầu tư khác như đầu tư tài chính, đầu tư không kèm theo các giải pháp xây dựng công trình. Trong nền kinh tế quốc dân, bên cạnh ngành xây dựng thì còn một số ngành nghề khác trực tiếp có liên quan và đóng một số vai trò nhất định đối với ngành xây dựng như ngành công nghiệp xây dựng, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành cơ khí xây dựng. Ngành công nghiệp xây dựng được hiểu là ngành thực hiện các hoạt động thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị thuộc công trình.
Ngành công nghiệp xây dựng đóng vai trò là ngành kết thúc giai đoạn cuối cùng tạo thành công trình xây dựng. Ngành công nghiệp xây dựng hiện nay bao gồm tất cả các doanh nghiệp xây dựng và lắp máy thuộc quyền quản lý của nhiều ngành, bộ, địa phương [50, tr. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngành công nghiệp vật liệu xây dựng là ngành sản xuất các vật liệu xây dựng và cấu kiện xây dựng. Về bản chất, đây là ngành công nghiệp sản xuất vật chất độc lập.
Thông thường trong các doanh nghiệp xây dựng vẫn có các hoạt động sản xuất kinh doạnh vật liệu xây dựng. Ngành cơ khí xây dựng là ngành sản xuất các máy móc, thiết bị xây dựng để cung cấp cho ngành công nghiệp xây dựng. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng và các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành công trình xây dựng Ngành xây dựng tạo ra sản phẩm cuối cùng được gọi là sản phẩm xây dựng và sản phẩm xây dựng có những đặc điểm riêng, khác với sản phẩm của các ngành nghề khác trong nền kinh tế quốc dân. Khái niệm về sản phẩm xây dựng Theo nghĩa rộng, sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn chỉnh là tổng hợp và kết tinh sản phẩm của nhiều ngành sản xuất khác như các ngành chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành năng lượng, hóa chất, luyện kim… và cuối cùng là của ngành xây dựng đóng vai trò tổ chức cấu tạo công trình ở khâu cuối cùng để đưa vào hoạt động.
Sản phẩm trực tiếp của ngành công nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến tạo các kết cấu xây dựng làm chức năng nâng đỡ, bao che và phần lắp đặt các thiết bị máy móc cần thiết vào công trình cât dựng để đưa chúng vào hoạt động. Các sản phẩm xây dựng thường rất lớn và phải xây dựng trong thời gian dài nên để phù hợp với công việc thanh quyết toán cần phân biệt sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng của xây dựng. Sản phẩm trung gian có thể là công việc xây dựng, các giai đoạn, các đợt xây dựng đã hoàn thành và bàn giao. Sản phẩm cuối cùng là các công trình hay hạng mục công trình xây dựng đã hoàn chỉnh và có thể bàn giao đưa vào sử dụng.
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng có rất nhiều đặc điểm riêng biệt khác với các sản phẩm của ngành sản xuất khác. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sản phẩm xây dựng bao gồm các đặc điểm: Thứ nhất, sản phẩm xây dựng có tính lưu động và thiếu ổn định. Điều này có thể được lý giải bởi sản phẩm xây dựng là công trình, nhà cửa được xây dựng và sử dụng tại chỗ nhưng lại phân bố tản mạn khắp các vùng lãnh thổ. Thứ hai, sản phẩm xây dựng có kích thước lớn, thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài; trong quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng đòi hỏi nhu cầu về vốn, lao động, vật tư, máy móc, thiết bị thi công rất lớn.
Do đó, các chủ thể tham gia vào quá trình tạo nên sản phẩm phải tránh những sai sót, giảm thiểu lãng phí. Thứ ba, sản phẩm xây dựng đa dạng, phức tạp, có tính cá biệt cao về công dụng, về chế tạo. Thứ tư, sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lực lượng khác nhau cùng hợp thành. Vì vậy, việc quản lý đầu tư xây dựng rất phức tạp.
Thứ năm, sản phẩm xây dựng ảnh hưởng và tác động lớn đến kiến trúc cảnh quan, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và do đó liên quan rất nhiều đến lợi ích của công đồng dân cư địa phương nơi xây dựng công trình. Ví dụ, khi xây dựng một nhà máy thủy điện tại một địa phương, việc xây dựng, vận hành nhà máy thủy điện sẽ có tác động tới nguồn lợi đất và hệ sinh thái trên đất; tác động đến thế giới động vật do hồ chứa nước của các công trình thủy điện chiếm dịch tích lớn mất đi hệ quần thể thực vật vốn là thức ăn nuôi sống động vật; tác động đến người dân sinh sống từ trước ở khu vực hồ nước như phải di chuyển nơi sinh sống đến khu tái định cư mới… Thứ sáu, sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật và quốc phòng. Vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân Nhìn chung, mỗi ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân đều có một sứ mệnh cụ thể và đóng góp lợi ích nhất định trong việc hình thành, duy trì và 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong đó, ngành xây dựng được coi là một ngành có vai trò đặc biệt quan trọng, điều này được thể hiện ở một số điểm sau đây: Thứ nhất, ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn (ngành cấp 1) của nền kinh tế, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng tạo nên cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài sản cố định cho mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội dưới mọi hình thức.
Nhìn vào diện mạo đô thị Việt Nam ngày nay thì có thể thấy phần nào vị trí quan trọng và sức lớn mạnh của ngành xây dựng để khẳng định vị trí của một ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Theo sự đánh giá của các chuyên gia kinh tế thì ngành xây dựng ở nước ta là một ngành có khả năng dẫn dắt nền kinh tế và đem lại nguồn thu nhập quốc dân rất lớn. Ngoài ra, với sự phát triển của ngành xây dựng thì mạng lưới đô thị quốc gia được sắp xếp lại, mở rộng và phát triển trên cả nước, góp phần quan trọng tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn và đô thị. Ngành xây dựng cũng huy động mọi nguồn vốn đầu tư, phát triển để xây dựng nhà ở… đáp ứng nhu cầu của xã hội.10] Thứ hai, ngành xây dựng trực tiếp góp phần thay đổi các mối quan hệ phát triển giữa các ngành kinh tế như: quan hệ giữa phát triển công nghiệp với nông nghiệp, quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa giáo dục và các mối quan hệ khác.
Về mặt kinh tế các công trình được xây dựng lên là thể hiện cụ thể đường lối phát triển kinh tế của nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước, làm thay đổi cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, đẩy mạnh tốc độ và nhịp điệu tăng năng xuất lao động xã hội và phát triển của nền kinh tế quốc dân. Về mặt chính trị và xã hội các công trình được xây dựng lên sẽ góp phần mở rộng các vùng công nghiệp và các khu đô thị mới. Về mặt văn hóa và nghệ thuật các công trình được xây dựng lên ngoài việc góp phần mở mang đời sống cho nhân dân, đồng thời còn làm phong phú thêm cho nền nghệ thuật của đất nước. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khái niệm và cấu trúc của khung pháp luật về Xây dựng cơ bản 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động đầu tư xây dựng - đối tượng điều chỉnh của pháp luật về xây dựng cơ bản a) Khái niệm đầu tư xây dựng Xét về nghĩa chung nhất, đầu tư được hiểu là sự sử dụng các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai. Nguồn lực được sử dụng có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ và thu được các kết quả có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực. Căn cứ vào bản chất và phạm vi lợi ích do đầu tư đem lại, đầu tư được phân biệt thành các loại như sau: Thứ nhất, đầu tư tài chính.
Đây là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Thứ hai, đầu tư thương mại. Đây là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và bán.