ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nước chăn nuôi thủy cầm đứng vị trí thứ 2 thế giới về số lượng và có tốc độ tăng trưởng bình quân trong nhiều năm qua là 8%. Để góp phần phát triển hơn nữa chăn nuôi vịt, đã có nhiều nghiên cứu theo ba hướng nghiên cứu chủ yếu sau đây: - Bảo tồn và khai thác các giống vịt nội địa; - Nhập nội, nuôi thích nghi và phát triển một số giống vịt có năng suất như CV. - Lai giữa các dòng, giống vịt nhập nội với các giống vịt nội địa, giữa các giống vịt nhập nội với nhau và lai giữa vịt với ngan. Vịt chuyên thịt CV.
Super M của hãng Cherry Valley Vương quốc Anh, là một giống vịt chuyên thịt, có năng suất thịt và năng suất trứng cao, hiện được nuôi rộng rãi ở nhiều nước. Super M ông bà được nhập vào Việt Nam từ năm 1990 - 1991, được nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên và Trại vịt giống Vigova. Nhiều công trình nghiên cứu về sức sản xuất các dòng trống và dòng mái, khả năng phát triển trong điều kiện chăn nuôi ở đồng bằng Bắc Bộ, chọn tạo được các dòng trống và dòng mái mới, hoặc chọn lọc nâng cao năng suất của các dòng vịt CV. Super hiện có (Nguyễn Đức Trọng và cs., 1995; Lương Tất Nhợ, 1994; Hoàng Thị Lan và cs., 2005; Nguyễn Ngọc Dụng và Phùng Đức Tiến, 2008).
Dương Xuân Tuyển và cs. (2008) đã khảo sát phương thức nuôi có nước bơi lội và hoàn toàn không có nước bơi lội của vịt CV. Oudomxay (2015) đã thực hiện thử nghiệm đầu tiên đánh giá khả năng sản xuất của các dòng vịt CV. ông bà nuôi theo phương thức nuôi khô không có nước bơi lội tại Trung tâm Giống vật nuôi chất lượng cao, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Nghiên cứu này tiếp tục đánh giá nhằm khẳng định khả năng sinh trưởng, sản xuất trứng của các dòng vịt ông bà SM3 (SM3) được nuôi theo phương thức không có nước bơi lội tại Trung tâm Giống lợn chất lượng cao (nay là Trung tâm Giống vật nuôi chất lượng cao), Học viện Nông nghiệp Việt Nam. MỤC ĐÍCH Đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh sản của các dòng vịt SM3 ông bà 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhập nội nuôi theo phương thức không có nước bơi lội tại Trung tâm Giống vật nuôi chất lượng cao, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng và sinh sản của giống, từ dó góp phần đánh giá khả năng phát triển của dòng vịt này trong sản xuất. - Kết quả của đề tài làm tài liệu tham khảo có giá trị cho học tập, nghiên cứu và sản xuất chăn nuôi.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học về sinh trưởng của vịt 2.
Khái niệm về sinh trưởng Có thể hiểu sinh trưởng là một quá trình sinh học rất phức tạp bao gồm các quá trình như sự phân chia tế bào, tăng thể tích, khối lượng và các chất giữa tế bào của các bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể. Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tích lũy nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Tuy nhiên có khi tăng khối lượng mà không phải là tăng trưởng chẳng hạn như béo phù là sự tích nước chứ không phải là sự tăng các mô cơ. Như vậy sinh trưởng sẽ thông qua ba quá trình: phân chia tế bào để tăng số lượng, tăng thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào.
Tất cả các đặc tính của gia súc gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều không phải đã sẵn có trong tế bào. Trong phôi cũng không phải đã có đầy đủ khi mới hình thành và phải hoàn chỉnh suốt quá trình sinh trưởng của con vật. Tuy khối lượng cơ thể là một sự thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trường. Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), quá trình sinh trưởng là quá trình phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống.
Tính giai đoạn của sinh trưởng biểu hiện ở nhiều hình thức khác nhau. Thời gian của các giai đoạn dài ngắn khác nhau, số lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau. Giai đoạn này nối tiếp giai đoạn khác, đi ngược trở lại, không bỏ qua thời kỳ nào, ở mỗi giai đoạn, thời kỳ đều có đặc điểm riêng. Sinh trưởng của con vật được tính từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đã trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn, đối với gia cầm là giai đoạn trong trứng và giai đọan sau khi nở.
Ở vịt, căn cứ vào sự sinh trưởng của các cá thể ta có thể phân biệt được các giai đoạn phát triển của phôi trong trứng trước khi đẻ, giai đoạn phát triển 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của phôi trong trứng sau khi đẻ, giai đoạn trứng nở thành con (sơ sinh) đến khi thành thục sinh dục, giai đoạn sinh sản. Mỗi giai đoạn đều có đặc điểm hình thái, sinh lý đặc trưng. Đối với gia cầm, sinh trưởng là sự biến đổi, tổng hợp của sự tăng lên về cả số lượng, kích thước của tế bào và thể dịch trong mô bào ở giai đoạn phát triển của phôi. Trong giai đoạn sau khi nở, sinh trưởng là do sự lớn lên của các mô.
Trong một số mô, sinh trưởng là do sự tăng lên về kích thước của các tế bào. Giai đoạn này sinh trưởng được chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ gia cầm con và thời kỳ gia cầm trưởng thành. Thời kỳ gia cầm con: thời kỳ này lượng tế bào tăng nhanh nên quá trình sinh trưởng diễn ra rất nhanh, một số cơ quan bộ phận phát triển hoàn chỉnh, các men tiêu hóa chưa đầy đủ, khả năng điều tiết thân nhiệt kém, gia cầm con dễ bị ảnh hưởng bởi thức ăn và nuôi dưỡng. Vì vậy, thức ăn và nuôi dưỡng trong thời kỳ này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm.
Thời kỳ này còn diễn ra quá trình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, nó làm tăng trao đổi chất. Cho nên cần chú ý vấn đề nuôi dưỡng, đặc biệt là các chất dinh dưỡng có trong thức ăn, trong đó quan trọng nhất là các axit amin hạn chế như lysine, methionine, trytophane. Thời kỳ gia cầm trưởng thành: thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể cũng gần như đã phát triển hoàn thiện. Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát dục.
Quá trình tích lũy chất dinh dưỡng của gia cầm một phần là để duy trì sự sống, một phần để tích lũy mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kỳ gia cầm con. Vì vậy giai đoạn này cần xác định tuổi giết mổ thích hợp để cho hiệu quả kinh tế cao. Trong các tổ chức cấu tạo cơ thể gia cầm, khối lượng cơ chiếm nhiều nhất (42 - 45% khối lượng cơ thể). Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng cơ con mái (phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm).
Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con. Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng. Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trưởng một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được sự khác nhau về tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần trong khoảng thời gian của các độ tuổi. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng Có rất nhiều yếu tố về di truyền và ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm như: dòng, giống, tính biệt, tốc độ mọc lông, ngoại hình, chế độ dinh dưỡng và điều kiện chăn nuôi. Ảnh hưởng của dòng, giống, lứa tuổi và giới tính Dòng, giống Mỗi dòng hay giống, loài gia cầm đều có một kiểu di truyền khác nhau nên chúng sẽ khác nhau về ngoại hình, tầm vóc, sức sản xuất. từ đó mà chúng ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể, giữa dòng, giống có sự sai khác.
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs. (1994), sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn. Thủy cầm có tốc độ sinh trưởng cao trong những tuần đầu tiên, ở tuổi giết thịt 7 - 8 tuần tuổi đối với vịt nhà, 9 tuần tuổi đối với ngỗng, 10 - 11 tuần tuổi đối với ngan, chúng có thể đạt 70 - 80% khối lượng trưởng thành, trong khi đó gà chỉ đạt 40%. Jaap and Morris (1973) đã phát hiện những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi của gà con ở các bố mẹ khác nhau.
Theo Chambers có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển cơ thể (Nguyễn Chí Bảo, 1976). Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ. Những nghiên cứu trước đây dự báo có hai hoặc bốn gen chính ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng. Sau này, nhiều tác giả cho rằng có ít nhất 15 cặp gen quy định tính trạng số lượng này.
Ảnh hưởng của giống dòng, đến tốc độ sinh trưởng, thể hiện qua sự di truyền các đặc điểm của chúng qua đời sau, được đặc trưng bởi hệ số di truyền. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể. Theo Chambers (dẫn theo Nguyễn Chí Bảo, 1976) hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng từ 0,4 đến 0,6. Ngoài ra, ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính (Phùng Đức Tiến, 2007).
Kết quả nghiên cứu trên vịt Super M2 nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên lúc 8 tuần tuổi cho thấy: vịt dòng trống có khối lượng 2380 g đối với con trống, con mái có khối lượng 2662 g; vịt dòng mái con trống có khối lượng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2662 g, con mái có khối lượng 1964 g (Nguyễn Đức Trọng, 2007).