MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Được giáo dục là một trong những quyền cơ bản nhất của trẻ em. Điều này được thể hiện trong các văn bản luật về trẻ em. Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990.
Điều này có nghĩa là đã thừa nhận, xem việc chăm sóc và giáo dục trẻ em như là một nhiệm vụ phải thực hiện về mặt nhân quyền, đồng thời, trẻ em cũng được xác định là thế hệ kế cận của đất nước cần được chăm lo giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Trong hệ thống các văn bản pháp luật của mình, Việt Nam đã xây dựng Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em. Luật này được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, trong đó cũng đã thể hiện đầy đủ các quyền được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục của trẻ em Việt nam. Đây là những văn bản có tính pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động liên quan đến trẻ em trong gia đình, nhà trường và toàn xã hội.
Bên cạnh việc thực hiện quyền được giáo dục cho trẻ em, các nghiên cứu tâm lý - giáo dục, xã hội học, kinh tế học giáo dục đã chỉ ra rằng, giáo dục tiểu học có vai trò giúp trẻ em học được những kỹ năng cơ bản về ngôn ngữ, khả năng tính toán để có thể thành công hơn trong các trình độ giáo dục về sau. Học sinh tiểu học cũng có được những kiến thức nền tảng về khoa học, xã hội, nghệ thuật, âm nhạc, vật lý, kỹ thuật và các ngôn ngữ. Để có thể thành công trong các bậc học cao hơn phải có những trải nghiệm tốt trong giáo dục tiểu học. Đây là cách thức duy nhất để cha mẹ thực hiện vai trò giúp các em thành công hơn với sự hỗ trợ về nguồn lực và cách thức học tập tại trường [35, pg.
Hơn nữa, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, giá trị và vai trò của tri thức có thể khác nhau ở các nền văn hóa, nhưng một nền giáo dục cơ bản tốt thì có tầm quan trọng đặc biệt ở mọi nền văn hóa và các cấp độ giáo dục. Đầu tư cho giáo dục cơ bản (bậc tiểu học) là đầu tư cho sự tăng trưởng của quốc gia [42]. Như vậy, vai trò của giáo -7- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dục tiểu học là rất quan trọng. Vậy trong thực tế, việc tiếp cận với hệ thống giáo dục cơ bản này của trẻ em như thế nào là một vấn đề đang đặt ra với nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt khi những điều kiện kinh tế - xã hội còn chưa đảm bảo nhu cầu cơ bản của người dân.
Việt Nam có khoảng 15000 trường tiểu học với trên 10 triệu học sinh, trong đó học sinh lớp 5 khoảng 1. Tỷ lệ học sinh tiểu học nhập học đúng độ tuổi đã tăng từ 90% trong thập niên 1990 lên gần 98% trong năm học 2004 - 2005. Nếu như năm học 1997-1998, tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc tiểu học đạt 68% thì đến năm học 2004-2005, tỷ lệ này đã đạt từ 99%. Việt Nam được đánh giá là có tiến bộ nhanh hơn so với phần lớn các nước có thu nhập thấp khác trên thế giới trong việc khắc phục những sự chênh lệch về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi và có khả năng hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ về phổ cập giáo dục tiểu học trước năm 2015.
Một trong những nguyên nhân của những thành công đó là việc Ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục và đào tạo tăng lên đáng kể. Cụ thể đã tăng từ 15% năm 2000 lên 18% năm 2005 với cơ cấu tăng chi cho những nhiệm vụ trọng tâm của ngành như đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên, tăng cường giáo dục miền núi. Các dự án ODA trong giáo dục đào tạo cũng đã dành phần lớn ngân sách cho giáo dục cơ bản và đang được triển khai với tổng vốn vay hàng trăm triệu USD. Mặc dù theo các số liệu thống kê tỷ lệ trẻ học tiểu học trên toàn quốc cao, trong khi đó tỷ lệ trẻ em lên lớp 5 là chỉ còn 87%.
Điều này có nghĩa là một bộ phận trẻ em không học hết cấp 1, tức là bỏ học hoặc lưu ban ở các lớp dưới. Tỷ lệ này ở khu vực nông thôn trẻ em được đến trường thấp hơn so với thành thị (nông thôn: 92. Tỷ lệ nhập học và thực trạng đi học bị ảnh hưởng bởi vị trí địa lý, chi phí và thời gian học. Trong khi hầu hết các xã trong cả nước có trường tiểu học thì với vùng sâu, vùng xa để đạt được mục tiêu này đây là điều khó khăn.
Học sinh bỏ học ở bậc tiểu học trong những năm qua vẫn còn tồn tại, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi và các vùng khó khăn. 1 Số liệu này được tính vào năm 2000, báo cáo nghiên cứu dự án “Những cuộc đời trẻ thơ – Dự án nghiên cứu trẻ em nghèo quốc tế” tại Việt Nam, năm 2003. -8- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, rõ ràng có sự khác biệt giữa các vùng miền về tiếp cận giáo dục của học sinh tiểu học. Việt Nam đã thực hiện Luật phổ cập giáo dục tiểu học từ năm 1991 và xem việc học tập là một trong những quyền cơ bản của trẻ em.
Mặc dù tỷ lệ trẻ em đến trường trong độ tuổi đi học là khá cao, song việc học tập của các em tại trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn, điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng phát triển trí tuệ mà còn ảnh hưởng đến cơ hội sống, hòa nhập xã hội của các em sau này. Chúng ta biết rằng, giáo dục là một trong những yếu tố thúc đẩy phân hóa xã hội rất lớn, do đó, việc đảm bảo cho trẻ em được tiếp cận giáo dục một cách thuận lợi nhất là mục tiêu của toàn xã hội. Vậy thực trạng tình hình và đâu là những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh cuối bậc tiểu học khu vực miền núi phía Bắc? Đây chính là vấn đề đặt ra cho đề tài làm rõ, và qua đó đề xuất những khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục của trẻ em ở khu vực này. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tiếp cận giáo dục là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đồng thời đây cũng là một trong ba tiêu chí trong chỉ số phát triển con người.
Vì vậy, trong các nghiên cứu xã hội đã có ít nhiều các công trình đề cập đến ở các cách tiếp cận khác nhau. a) Những nghiên cứu trong nước 1) Bài nghiên cứu “Một số vấn đề xã hội trong giáo dục phổ thông ở đô thị hiện nay – Qua khảo sát tại Nam Định, Hải Phòng và Đà Nẵng” của GS.TS Trịnh Duy Luân thực hiện năm 2005 đăng trên Tạp chí Xã hội học số 3 năm 2005 đã đề cập đến khả năng tiếp cận giáo dục phổ thông (cơ bản) ở một số đô thị Việt Nam qua các tiếp cận xã hội học. Những kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các nguyên nhân kinh tế, nghèo đói có tác động đến khả năng tiếp cận của trẻ em. Cụ thể, những trẻ em có điều kiện kinh tế nghèo ít có cơ hội hơn trong việc tiếp cận với giáo dục nhất là ở bậc học cao.
Bên cạnh -9- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó, tác giả đã chỉ ra một số khía cạnh liên quan đến tiếp cận giáo dục như các chính sách hỗ trợ học phí, vấn đề thủ tục đăng ký, các khoản chi phí, đóng góp, vấn đề học thêm. của các gia đình ở đô thị. Qua nghiên cứu này có thể thấy rằng, khả năng/cơ hội tiếp cận giáo dục là một vấn đề xã hội rất đáng quan tâm ở cả nông thôn, thành thị và miền núi bởi giáo dục có quan hệ mật thiết với vấn đề kinh tế, nghèo đói và các vấn đề xã hội khác. Mặc dù nghiên cứu của trên chỉ tập trung vào khu vực đô thị ở một số tỉnh và nội dung nghiên cứu khá rộng “một số vấn đề xã hội trong giáo dục” trong phạm vi một đề tài lớn liên quan đến nhiều dịch vụ xã hội ở đô thị khác như y tế, hành chính công, song những kết quả đạt được đã gợi ý cho đề tài một số nội dung và giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận của học sinh cuối tiểu học ở miền núi phía Bắc.
2) “Nghiên cứu về chuyển tiếp từ tiểu học lên trung học cơ sở của trẻ em gái người dân tộc thiểu số” do Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNESCO, UNICEF phối hợp thực hiện năm 2005. Đây là nghiên cứu được xem là có cách tiếp cận mới trong nghiên cứu về giáo dục có vận dụng quan điểm giới nhằm xem xét cơ hội tiếp cận giáo dục của trẻ em gái so với trẻ em trai của một số nhóm dân tộc thiểu số ở Việt nam. Dưới lăng kính giới, nghiên cứu đã xác định các rào cản cơ bản mà em gái dân tộc thiểu số vấp phải trong việc hoàn thành tiểu học và tiếp tục lên trung học cơ sở, các rào cản đó được hình thành tùy vào bối cảnh địa lý, kinh tế, và văn hóa xã hội của các nhóm dân tộc thiểu số. Nghiên cứu nhằm đưa ra lời giải đáp cho hai câu hỏi chính: 1) Lý do gì khiến cho tỷ lệ chuyển tiếp từ tiểu học lên trung học cơ sở của các em gái trong các nhóm dân tộc thiểu số lại thấp? Và 2) Các chiến lược hoặc các biện pháp ngắn hạn và dài hạn nào có thể giúp tạo điều kiện cho em gái của các nhóm dân tộc thiểu số hòan thành tiểu học và chuyển tiếp lên trung học cơ sở? Với các câu hỏi nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã chọn lựa phương pháp nghiên cứu định tính là chủ yếu, phương pháp định lượng chỉ có tính hỗ trợ trong việc sắp xếp vị trí các nhân tố rào cản.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra - 10 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rằng, rào cản kinh tế, tài chính – sự nghèo đói và tác động của nó chính là rào cản lớn nhất đối với trẻ em gái. Lao động trẻ em là loại rào cản thứ hai, tiếp đến là chất lượng dạy và học con thấp cũng là một rào cản đáng kể.