ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc ta là một trong số ít nƣớc trên thế giới có hệ sinh thái RNM ven biển rất độc đáo của vùng đất ngập nƣớc. Hệ sinh thái rừng ngập mặn có vai trò to lớn đối với môi trƣờng và cuộc sống cộng đồng. Đây là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao, vừa đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, vừa phòng chống thiên tai cho cộng đồng ven biển và đặc biệt có giá trị làm sạch môi trƣờng, có ý nghĩa sinh thái trong việc duy trì sự quần tụ của các loài sinh vật biển, mở rộng diện tích đất bồi và hạn chế xâm nhập mặn, ngăn biển lấn. Vai trò và ý nghĩa kinh tế, xã hội, môi trƣờng của RNM đã đƣợc khẳng định trong nghiên cứu và thực tiễn không chỉ ở nƣớc ta mà còn ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Dải RNM không những thể hiện chức năng là lá phổi xanh nhƣ thảm thực vật rừng nói chung mà còn là tấm lá chắn xanh trƣớc tai biến của thiên nhiên nhƣ sóng thần, bão lũ… bảo vệ bờ biển, đê điều không bị xói lở, giữ đất và các công trình cơ sở hạ tầng. Rừng ngập mặn đã đóng góp đáng kể vào đời sống kinh tế xã hội của ngƣời dân ven biển ở Việt Nam. Tài nguyên hệ sinh thái rừng ngập mặn đã đƣợc khai thác từ lâu đời làm vật liệu xây dựng, hầm than, củi đun, lấy ta nin, thức ăn, mật ong, thảo dƣợc,. RNM còn là nơi “ƣơng ấp” những cơ thể non của nhiều loài sinh vật biển đồng thời cung cấp nguồn dinh dƣỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật này.
Đỉều này cho thấy RNM là nơi duy trì nguồn lợi thủy sản đa dạng cho vùng. Tuy đƣợc coi là nguồn tài nguyên ven biển vô cùng hữu ích đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống con ngƣời nhƣng hiện nay RNM đang đƣợc đánh giá là một trong những hệ sinh thái đang bị suy thoái nghiêm trọng ở Việt Nam. Diện tích rừng ngày càng thu hẹp, môi trƣờng rừng bị đe dọa. Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, năm 1943 Việt Nam có hơn 408.500ha, tính đến năm 2006, diện tích RNM cả nƣớc chỉ còn hơn 155.000ha, phần lớn là rừng mới trồng, những khu RNM tự nhiên, nguyên 1 sinh còn ít.
Nhƣ vậy, sau hơn 60 năm RNM ven biển đã giảm hơn 2/3 diện tích. Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm này là do áp lực dân số và kinh tế, sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong thời kỳ mở cửa cùng với việc quản lý lỏng lẻo hoặc chƣa quan tâm bảo vệ đúng mức đến loại tài nguyên này, đặc biệt là tình trạng phá rừng ngập mặn canh tác nuôi trồng thủy sản, khai thác lâm sản và sử dụng đất vào mục đích khác một cách ồ ạt không kiểm soát đƣợc. Hậu quả của nó đã đƣợc trả giá: tôm chết, hiện tƣợng phèn hóa và xâm nhập mặn gay gắt, rừng mất kéo theo những thiệt hại nặng nề về ngƣời và của khi thiên tai mà đến nay cũng chƣa thể khắc phục đƣợc. Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn, nhiều chiến lƣợc, chính sách cũng đã đề cập đến nội dung này.
Chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng quốc gia đến năm 2010 và định hƣớng đến năm 2020 của Việt Nam đƣa ra các mục tiêu cụ thể nhƣ “Phục hồi diện tích rừng ngập mặn lên bằng 80% mức năm 1990”. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tƣớng thƣờng trực Nguyễn Sinh Hùng (2007), Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có Đề án “Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển, giai đoạn 2008 -2015”. Việc xây dựng đề án này là rất cần thiết và kịp thời. Đề án này đang đƣợc triển khai ở các tỉnh trong cả nƣớc.
Trên tinh thần đó tôi đã tiến hành đề tài "Nghiên cứu hiện trạng rừng ngập mặn và giải pháp khôi phục, phát triển rừng ở huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định”. Đề tài đánh giá hiện trạng rừng trên một khu vực của huyện và bƣớc đầu đề xuất giải pháp nhằm góp phần khôi phục và phát triển RNM tại địa phƣơng. 2 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2.
Nghiên cứu về cấu trúc, động thái rừng và phân bố RNM Từ thế kỷ 17 đến nay trên thế giới đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về RNM. Để duy trì và phát triển những dải RNM này các nghiên cứu tập trung nhiều vào: phân loại thực vật; sinh lý, sinh thái thực vật ngập mặn; sinh trƣởng của RNM, cấu trúc RNM…ở các nơi trên thế giới. Những nghiên cứu đó đã chỉ ra RNM phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu, một số loài có thể mở rộng khu phân bố lên phía Bắc tới Bermunda (32 022’ độ vĩ Bắc) nhƣ Trang (Candenlia candel), Vẹt dù (Bruguiera gymnorhiza), Đâng (Rhizophora stylosa), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa)… Giới hạn phía nam của cây ngập mặn là New Zealand (38003’ độ vĩ Nam) và phía Nam Australia (38043’ độ vĩ Nam). Ở những vùng này có khí hậu mùa đông lạnh thƣờng chỉ còn loài Mắm biển (Avicennia marina).
Trên phạm vi toàn cầu, Wash (1974) cho rằng sự phân bố địa lý của RNM trên thế giới làm 2 khu vực chính là: - Khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dƣơng bao gồm Nam Nhật Bản, Philippin, Đông Nam Á, Ấn Độ, bờ biển Đông Hải, Đông Úc, New Zealand, các đảo phía Nam Thái Bình Dƣơng kéo dài tới quần đảo Xamoa. - Khu vực Tây Phi - châu Mỹ bao gồm bờ biển châu Phi ở Đại Tây Dƣơng, quần đảo Galapagos và châu Mỹ. Khi nghiên cứu về phân bố của cây rừng ngập mặn trên thế giới, Ding Haw cho rằng: khu vực giữa Malaysia và Bắc Úc là trung tâm tiến hóa của RNM (Ding Haw, 1958). Tuy nhiên trên cơ sở phân tích một số hóa thạch thì một số tác giả lại cho rằng trung tâm này nằm ở Tây Nam và Bắc Úc tới Papua New Guinea, có khoảng 30 loài cây gỗ và cây bụi thuộc 14 họ thực vật có hoa trong khu hệ thực vật RNM.
Ngoài ra, trong RNM còn có 10 loài thuộc 8 họ dây leo hoặc dƣới tán và khoảng 10-15 loài phát triển tốt ở những 3 vùng trên cạn đôi khi lại gặp trong các quần xã RNM. Một số lớn các loài thực vật khác nhƣ Tảo, Cỏ biển, Nấm, Địa y cũng thấy trong các quần xã RNM nhƣng hầu hết các loài này không phải chỉ trong RNM mới có.Odum phát hiện ra tác dụng to lớn của bùn bã loài Đƣớc đỏ trong chuỗi thức ăn cửa sông ven biển Florida thì hệ sinh thái RNM trở thành đối tƣợng đƣợc nhiều tổ chức thế giới và các nhà khoa học ở nhiều nƣớc quan tâm nghiên cứu, cụ thể là: + Ở Australia: T. Clough nghiên cứu “Các quá trình sinh lý, sinh thái cây ngập mặn ở North Queensland”, J. Boto (1978 – nay) công bố nhiều công trình nghiên cứu về thực vật ngập mặn, thảm thực vật, địa lý thực vật, lƣợng rơi rụng, các nhân tố môi trƣờng…P.
Seanger nghiên cứu về hệ sinh thái RNM ở các cửa sông với sự thay đổi khí hậu và một số nội dung khác nhƣ: chất lƣợng nƣớc, các quần thể cá trong vùng cửa sông RNM. + Ấn Độ: Chudhery đã nghiên cứu về “Hệ động vật và hệ thực vật, chức năng và năng lượng hệ sinh thái RNM ở vùng Sunderbans”; P. Subramariam nghiên cứu về “Sinh thái, phân bố và cấu trúc của quần xã RNM”. Chai nghiên cứu về “Sinh thái RNM và phân loại rừng ở Sarawak”; J.
Org nghiên cứu về “Sinh thái RNM vùng cửa sông và năng suất chu trình dinh dưỡng, mối quan hệ giữa hệ sinh thái RNM và vùng đầm tôm”. + Thái Lan: là nƣớc có nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau về hệ sinh thái RNM. Arrornkocie viết nhiều tƣ liệu về hệ sinh thái RNM Thái Lan, hƣớng chính là “Cấu trúc rừng, tái sinh rừng, năng suất và chu trình dinh dưỡng của RNM”; A. Charsang nghiên cứu “Cấu trúc của RNM và sự đóng góp vào chuỗi thức ăn, tác động của con người vào hệ sinh thái rừng”; S.
Kaitraneet nghiên cứu về “Sinh khối của các RNM, phân bố, sinh trưởng của cây ngập mặn, chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái 4 này”; N. Pahayassit nghiên cứu “Sinh thái RNM”; T. Tulyathenn “Giải phẫu hình thái một số loài cây gỗ ngập mặn”; S. Shokita “Cấu trúc RNM và chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái này”.
Những nghiên cứu về động thái của RNM nói chung của một số tác giả trên thế giới phần lớn thông qua việc nghiên cứu về sinh trƣởng và tái sinh của cây ngập mặn bằng cách tìm hiểu các phƣơng pháp đo tăng trƣởng đồng thời tiến hành theo dõi tốc độ tăng trƣởng của cây rừng dƣới tác động của các yếu tố môi trƣờng. Năm 1959, Steru và Voight đã tiến hành nghiên cứu ảnh hƣởng của độ mặn nƣớc biển đến sinh trƣởng của cây Đƣớc đỏ (Rhizophora mangle) và cho rằng cây sinh trƣởng tốt nhất ở độ mặn tƣơng đƣơng với độ mặn nƣớc biển. Từ năm 1962-1966, Scholander công bố nhiều công trình về sinh trƣởng của cây Đƣớc đỏ. Năm 1969 Conner tiến hành nghiên cứu sinh trƣởng của cây Mắm biển (Avicennia marina) trồng trong các dung dịch dinh dƣỡng có độ mặn khác nhau.
Francois Blasco (1983) khi nghiên cứu ảnh hƣởng của nhiệt độ đến phân bố và sinh trƣởng của các loài cây ngập mặn cho rằng: ở vùng xích đạo hoặc gần xích đạo, nơi có nhiệt độ không khí trung bình năm 26-270C trong năm không có tháng nào nhiệt độ của nƣớc biển ven bờ < 20 0C là những điều kiện thuận lợi cho sinh trƣởng của RNM. Nếu trong năm có nhiều tháng nhiệt độ của nƣớc biển <160C thì sẽ không xuất hiện RNM. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng và vai trò của rừng và đất rừng ngập mặn đối với cuộc sống, các nƣớc khu vực Đông Nam Á có rừng ngập mặn nhƣ: Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia, Philippin đã thành lập cơ quan chuyên trách RNM nhƣ Ủy ban ngập mặn quốc gia (NATMANCOM). Cơ quan này chủ yếu tập trung nghiên cứu về các chính sách quản lý rừng và đất RNM, chƣa đi sâu nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật.
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về RNM trên thế giới và đều thống nhất quan điểm cho rằng: diện tích RNM trên thế giới không thể thống kê đƣợc một cách chính xác do quá trình bồi tụ, xói lở tự nhiên của các vùng 5 đất ven biển diễn ra không ngừng cùng với sự thay đổi hoạt động sản xuất của con ngƣời ở đây đã tác động đáng kể đến sự biến đổi này.