Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM) ven biển đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phòng hộ đê điều, hạn chế xâm nhập mặn, cố định bãi bồi, làm sạch môi trường nước và bảo vệ nguồn lợi thủy sản sinh vật biển. Tuy nhiên, theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, diện tích RNM của Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng từ hơn 408.500 ha vào năm 1943 xuống còn khoảng 155.000 ha vào năm 2006 (giảm hơn 2/3 diện tích ban đầu). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế nhanh chóng, công tác quản lý chưa chặt chẽ, tình trạng phá rừng để chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản không kiểm soát và các đợt thiên tai bão lũ.
Nhằm đảo ngược xu hướng suy thoái, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đặt mục tiêu phục hồi diện tích RNM đạt 80% so với mức năm 1990. Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành Đề án "Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển, giai đoạn 2008 - 2015". Tại tỉnh Nam Định, huyện Nghĩa Hưng có bờ biển dài 15 km nằm giữa hai cửa sông lớn (sông Đáy và sông Ninh Cơ) với diện tích vùng bãi bồi rộng lớn. Mặc dù địa phương đã tiếp nhận các chương trình trồng rừng phòng hộ (dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng, chương trình do Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch tài trợ), nhưng rừng ngập mặn tại đây đối mặt với nhiều nguy cơ suy thoái do điều kiện bão gió khốc liệt (điển hình là bão số 7 năm 2005), hiện tượng hà bám phá hoại và các hoạt động khai thác thủy sản tự do của người dân. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thị Hiền (Trường Đại học Lâm nghiệp, 2011) được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng cấu trúc rừng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp cho địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản gồm:
- Mục tiêu chung: Thông qua việc đánh giá hiện trạng rừng ngập mặn tại huyện Nghĩa Hưng nhằm xác định nguyên nhân làm suy giảm diện tích rừng, làm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp khôi phục và phát triển rừng ngập mặn trên địa bàn huyện.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được hiện trạng cấu trúc, mật độ, khả năng sinh trưởng và tái sinh của rừng ngập mặn tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Đề xuất được giải pháp kỹ thuật (lựa chọn loài cây trồng, phương thức trồng) và giải pháp quản lý - chính sách phù hợp với điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ sinh thái rừng ngập mặn trồng và đất ngập mặn bãi bồi phía ngoài đê biển tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Phạm vi không gian: Khu vực bãi bồi trước tuyến đê biển Quai, giới hạn từ vị trí cách cống Thủy sản 2 (TS2) khoảng 750 m đến cống Cồn Mờ 1 (CM1), tiếp giáp địa giới hành chính của hai xã Nghĩa Phúc và Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định (chiều dài bờ đê khảo sát gần 1,5 km).
- Phạm vi thời gian: Số liệu ngoại nghiệp được thu thập tập trung vào các đợt triều cạn trong tháng 3 và tháng 4 năm 2011; số liệu thứ cấp kế thừa giai đoạn 1990 - 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa và áp dụng các cơ sở lý thuyết, phân vùng sinh thái và khung quy chuẩn kỹ thuật lâm nghiệp ngập mặn:
- Khung phân vùng địa lý RNM Việt Nam của Phan Nguyên Hồng (1970, 1993), xếp khu vực nghiên cứu vào Khu vực II (Ven biển đồng bằng Bắc Bộ từ Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường).
- Tiêu chuẩn phân chia đơn giản các dạng lập địa trồng rừng ở vùng ngập nước triều của Nguyễn Ngọc Bình (1996) để đánh giá độ thành thục của đất bãi bồi.
- Khung phân loại mức độ thích hợp của đất đối với cây ngập mặn của Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bích (1995); các kết quả nghiên cứu về tương quan nền đất, thủy triều và sinh khối của Barry Clough (1996), Đỗ Đình Quế (2000), Vũ Đoàn Thái (2005).
- Định hướng bảo tồn theo Công ước quốc tế RAMSAR (1971) về vùng đất ngập nước và các quy hoạch phát triển lâm nghiệp tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 - 2020.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát ngoại nghiệp thực tế và xử lý số liệu nội nghiệp:
[Khảo sát sơ bộ & Bản đồ Mapinfo]
[Thiết lập ô tiêu chuẩn (OTC) theo tuyến triều cạn]
[Thu thập chỉ tiêu lâm học & môi trường lập địa]
- Phương pháp điều tra tầng cây cao và cây tái sinh: Căn cứ bản đồ hiện trạng, định vị vị trí các ô tiêu chuẩn (OTC) bằng máy định vị GPS. Tại mỗi trạng thái rừng Trang lập 3 OTC điển hình: diện tích mỗi OTC là 25 m² (5 m x 5 m) đối với trạng thái Trang dày và Trang trung bình; lập 3 OTC diện tích 50 m² (10 m x 5 m) đối với trạng thái Trang thưa do mật độ cá thể thưa hơn. Đo đường kính gốc ($D$) bằng thước kẹp kính chính xác đến milimet ở vị trí trên bạnh vè; đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và đường kính tán ($D_t$) bằng sào thẳng chia vạch chuyên dụng chính xác đến 5 cm; đo độ tàn che ($TC%$) bằng phương pháp ngắm cho điểm; đếm toàn bộ số cây tái sinh ($N_{ts}$) trong OTC.
- Phương pháp xác định độ thành thục của đất: Đo độ lún phù sa bằng người có trọng lượng chuẩn khoảng 60 kg đứng thẳng để lún hết cỡ, đo độ sâu vết bùn trên chân và phân loại thành 5 cấp lập địa: bùn loãng (> 30 cm), bùn chặt (20 - 30 cm), sét mềm (10 - 20 cm), sét chặt (< 10 cm), sét rắn chắc (chỉ ướt bề mặt, không lún).
- Phương pháp xác định độ cao thể nền và chế độ ngập triều: Cắm cọc tre khô dài 3 m tại 7 vị trí trên 3 tuyến song song với bờ biển từ chân đê ra ngoài khơi lúc triều kiệt; ghi nhận mực nước ngập cao nhất trên cọc sau khi triều rút. Tính toán: $\text{Độ cao thể nền} = \text{Mực nước triều cao nhất trong ngày} - \text{Mực nước đo được trên cọc}$.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp qua đo đếm thực địa tháng 3 - 4/2011; dữ liệu thứ cấp từ Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Nghĩa Hưng, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, Sở Nông nghiệp & PTNT tỉnh Nam Định (bản đồ số MapInfo), tài liệu nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản (2005) và các niên giám thống kê huyện.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Đặt vấn đề
Phần này trình bày tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn đối với chức năng phòng hộ bờ biển, chống bão lũ, bảo vệ đê điều và cung cấp sinh kế thủy sản cho cư dân ven biển. Tác giả nêu rõ thực trạng suy giảm hơn 2/3 diện tích rừng ngập mặn Việt Nam từ năm 1943 đến 2006, đồng thời tổng hợp các chủ trương, quyết định của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp & PTNT về đề án phục hồi rừng ngập mặn giai đoạn 2008 - 2015, từ đó làm rõ tính cấp thiết của đề tài tại huyện Nghĩa Hưng, Nam Định.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Tổng quan hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về ba nhóm nội dung chính:
- Nghiên cứu về phân bố, cấu trúc và động thái rừng: Các nghiên cứu của Ding Haw, Wash, Clough, Boto, Phan Nguyên Hồng, Thái Văn Trừng, Viên Ngọc Nam.
- Nghiên cứu về thể nền và điều kiện lập địa dưới rừng ngập mặn: Các kết luận về độ mặn, chế độ ngập triều, hàm lượng chất hữu cơ và đặc tính thổ nhưỡng của UNESCO, FAO, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Đình Quế.
- Nghiên cứu về tác dụng phòng hộ và chắn sóng: Các công trình của Yoshihiro Mazda (1997) chứng minh dải RNM 6 năm tuổi rộng 1,5 km làm giảm chiều cao sóng từ 1 m xuống 0,05 m; nghiên cứu của Vũ Đoàn Thái (2005) tại Hải Phòng chỉ ra dải rừng Trang rộng 650 m làm giảm 77 - 88% độ cao sóng bão; các nghiên cứu bước đầu tại Vườn Quốc gia Xuân Thủy (Nam Định).
Phần 3: Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Trình bày các đặc điểm địa lý, khí hậu, tài nguyên và dân sinh huyện Nghĩa Hưng:
- Vị trí: 19°55' đến 20°19'20" vĩ Bắc, 106°04' đến 106°11' kinh Đông, nằm kẹp giữa sông Đào, sông Đáy và sông Ninh Cơ; bờ biển dài 15 km, mỗi năm bãi bồi lùi ra khơi khoảng 100 m.
- Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°C; độ ẩm 85 - 90%; lượng mưa 1.700 - 1.900 mm/năm; chịu ảnh hưởng trực tiếp của 4 - 6 cơn bão/năm (bão tháng 9/1962 gió 120 km/h; bão số 5 năm 1998 gió trên cấp 12; bão số 7 năm 2005 vùi lấp diện tích lớn rừng Phi lao và rừng Trang).
- Thổ nhưỡng và tài nguyên: Đất phù sa trẻ, đất bãi triều ven biển 4.908 ha; khu hệ chim phong phú với hơn 50 loài; 107 loài cá, 73 loài giáp xác, 133 loài thân mềm hai mảnh vỏ.
- Dân sinh - kinh tế: Dân số 205.680 người (năm 2008), mật độ 808 người/km²; nông nghiệp - dịch vụ chiếm 84,5%; diện tích nuôi trồng thủy sản quy hoạch năm 2011 là 3.010 ha (mặn lợ 1.970 ha). Tổng diện tích rừng trồng toàn huyện đã đạt 1.358 ha (Trang, Bần 1.098 ha; Phi lao 260 ha).
Phần 4: Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp nghiên cứu
Xác định hệ thống mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu ngoài đê biển đoạn cống TS2 - CM1 (dài gần 1,5 km tiếp giáp xã Nghĩa Phúc và Nam Điền). Trình bày quy trình thiết kế các mẫu biểu điều tra tầng cây cao (Mẫu biểu 01), cây tái sinh (Mẫu biểu 02), mực nước ngập trên cọc tre (Mẫu biểu 03), phương pháp đo đếm lâm học và kỹ thuật đánh giá lập địa.
Phần 5: Kết quả và thảo luận
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các số liệu điều tra:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất khu bãi bồi (tổng diện tích 5.286 ha: RNM 1.390 ha, Phi lao 194 ha, nuôi thủy sản 1.970 ha, đất trống 2.000 ha chiếm 37,6%).
- Thống kê chi tiết diện tích 8 lô trong khu vực khảo sát (33,25 ha rừng Trang và 37,11 ha đất trống bãi bồi mới).
- Xác định thành phần loài thực vật gồm 20 loài thuộc 15 họ; phân tích 7 nhóm công dụng tài nguyên thực vật.
- Phân tích sự biến động mật độ, cấu trúc tầng thứ, các chỉ tiêu sinh trưởng ($D, H_{vn}, D_t, TC%$) và số lượng cây tái sinh triển vọng trên 3 trạng thái rừng Trang dày, trung bình, thưa.
- Phân tích các yếu tố sinh thái lập địa (độ lún phù sa, độ mặn nước biển dao động 2 - 3%, phân vùng ngập triều theo 3 tuyến đo cọc).
- Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh, bảo vệ và cơ chế chính sách.
Phần 6: Kết luận – Tồn tại – Khuyến nghị
Tóm tắt các kết quả đạt được về diện tích, sinh trưởng, nguyên nhân suy giảm diện tích rừng Trang; nêu rõ tồn tại về mặt thời gian và hạn chế số lượng ô tiêu chuẩn điều tra; đưa ra các khuyến nghị về việc quy hoạch đai rừng phòng hộ kết hợp nuôi trồng thủy sản bền vững.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu định lượng chi tiết về hiện trạng rừng và điều kiện lập địa tại khu vực nghiên cứu:
| Số hiệu lô |
Trạng thái rừng / Loại đất |
Diện tích (ha) |
Đặc điểm cấu trúc / Lập địa |
| Lô 01 |
Trang dày |
10,87 |
Cây mọc dày, cạnh tranh ánh sáng mạnh, vươn cao |
| Lô 02 |
Trang thưa |
3,68 |
Mật độ giảm mạnh, phân cành thấp, tán xòe |
| Lô 03 |
Trang trung bình |
2,02 |
Sinh trưởng ổn định, có Đước tái sinh dưới tán |
| Lô 04 |
Trang dày |
3,95 |
Độ tàn che cao, cành nhánh phát triển vươn thẳng |
| Lô 05 |
Trang trung bình |
5,57 |
Tán hình mũ, sinh trưởng đường kính và chiều cao đều |
| Lô 06 |
Trang thưa |
5,81 |
Gốc có bạnh vè lớn, mô xốp chứa khí phát triển |
| Lô 07 |
Trang trung bình |
1,35 |
Xuất hiện cây tái sinh tự nhiên rải rác |
| Lô 08 |
Đất trống |
37,11 |
Bãi bồi mới, nền bùn loãng đang tiếp tục lắng đọng phù sa |
| Tổng cộng |
|
70,36 |
Rừng Trang: 33,25 ha; Đất trống: 37,11 ha |
Chỉ tiêu sinh trưởng lâm học của rừng trồng Trang (tuổi 8, trồng năm 2003 từ dự án Chữ thập đỏ Đan Mạch với mật độ ban đầu 20.400 cây/ha) tại các trạng thái:
| Trạng thái rừng |
Mật độ hiện tại (cây/ha) |
Đường kính gốc $D$ (cm) |
Chiều cao vút ngọn $H_{vn}$ (m) |
Đường kính tán $D_t$ (m) |
Độ tàn che $TC$ (%) |
| Trang dày |
25.600 |
3,5 |
2,04 |
0,91 |
96% |
| Trang trung bình |
18.000 |
5,7 |
1,63 |
1,13 |
89% |
| Trang thưa |
7.500 |
5,5 |
1,36 |
0,92 |
80% |
Ghi chú: Tại trạng thái Trang dày, mật độ tính theo thân cây tăng lên 25.600 cây/ha do mỗi gốc Trang phân từ 2 - 3 nhánh độc lập từ vị trí cách mặt đất dưới 30 cm; trạng thái Trang thưa có mật độ giảm 63% so với mật độ thiết kế ban đầu.
Thành phần thực vật và phân bố sinh thái:
- Ghi nhận 20 loài thực vật thuộc 15 họ (so sánh với khu vực Giao Lạc - Giao Thủy có 42 loài thuộc 22 họ).
- Cây gỗ ngập mặn thực thụ gồm 3 loài: Trang (Kandelia obovata) là loài trồng chính; Đước vòi (Rhizophora stylosa) và Bần chua (Sonneratia caseolaris) xuất hiện dưới dạng tái sinh tự nhiên từ nguồn giống lân cận.
- Thực vật bãi cạn và chân đê gồm 17 loài: Muống biển, Sài hồ, Na biển, Rau sam biển, Cỏ gà, Cỏ chông, Đậu cộ biển, Dứa dại biển, Vọng đắng, Cỏ xước, Cỏ gấu biển...
- Phân nhóm công dụng: Nhóm cây bảo vệ đê, chắn sóng, chống xói mòn (20 loài, chiếm 100%); Nhóm cây làm thuốc (11 loài, chiếm 55%, tiêu biểu là cây Sài hồ nam Pluchea pteropoda được người dân thu hái bán); Nhóm làm thức ăn gia súc (7 loài, 35%); Nhóm cho gỗ, củi (5 loài, 25%); Nhóm có công dụng khác như sợi, thủ công, nuôi ong (6 loài, 30%); Nhóm ăn được (3 loài, 15%); Nhóm làm cảnh (0 loài).
Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật:
- Cơ cấu loài cây: Chuyển đổi từ trồng thuần loài Trang sang trồng rừng hỗn giao nhiều tầng tán (kết hợp Trang với Đước vòi và Bần chua) nhằm nâng cao tính bền vững và khả năng chắn sóng.
- Trồng bổ sung cây ngập mặn trên diện tích 37,11 ha đất trống khi bãi bồi lắng đọng đạt độ thành thục (từ bùn chặt đến sét mềm).
- Biện pháp xử lý sinh vật hại: Vệ sinh bắt diệt hoặc cạo sạch loài Hà bám trên thân cây non trong 1 - 2 năm đầu sau khi trồng; chọn thời vụ trồng tránh mùa sinh sản cao điểm của Hà biển.
- Giải pháp quản lý và bảo vệ rừng:
- Thành lập các tổ đội bảo vệ rừng cấp xã (Nghĩa Phúc, Nam Điền), cắm mốc ranh giới rõ ràng.
- Quản lý, điều tiết hoạt động khai thác thủy sản tự nhiên (đào bới bắt ngao, vạng, móng tay) để tránh dẫm đạp, làm gãy mầm chồi non của rừng mới trồng.
- Giải pháp chính sách:
- Rà soát quy hoạch đất đai, phân định dứt khoát ranh giới giữa 1.970 ha đầm nuôi thủy sản và dải rừng phòng hộ ven đê.
- Thực hiện chính sách giao khoán bảo vệ rừng gắn với quyền lợi khai thác thủy sản dưới tán rừng bền vững; lồng ghép các nguồn vốn hỗ trợ từ chương trình phục hồi rừng ngập mặn của Chính phủ.
Đóng góp của khóa luận:
- Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm đo đếm chi tiết đầu tiên về cấu trúc mật độ, kích thước hình thái thân tán và khả năng tái sinh của rừng trồng Trang tại đoạn đê biển xung yếu huyện Nghĩa Hưng.
- Xác định rõ nguyên nhân cốt lõi làm suy thoái mật độ rừng trồng tại địa phương (kết hợp giữa tác hại của loài Hà bám, hoạt động cào bắt nhuyễn thể của người dân và thiên tai bão biển).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được tác giả nêu trong văn bản:
- Thời gian tiến hành nghiên cứu thực địa ngắn, tập trung chủ yếu vào đợt triều kiệt tháng 3 và tháng 4 năm 2011 nên chưa theo dõi được liên tục các biến động sinh trưởng qua các mùa trong năm.
- Số lượng ô tiêu chuẩn lập tại mỗi trạng thái còn ít (3 OTC/trạng thái) do điều kiện đi lại trên nền bùn lầy gặp nhiều trở ngại.
- Chưa tiến hành lấy mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu lý - hóa tính chuyên sâu trong phòng thí nghiệm mà chủ yếu đánh giá cảm quan lập địa qua độ lún cơ học của phù sa.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi động thái sinh trưởng, khả năng thích nghi và cấu trúc tầng thứ khi các loài cây tái sinh tự nhiên (Đước vòi, Bần chua) lớn lên trong lâm phần rừng Trang.
- Mở rộng phạm vi khảo sát trên toàn bộ 15 km dải bờ biển huyện Nghĩa Hưng nhằm xây dựng bản đồ lập địa chi tiết phục vụ công tác trồng rừng ngập mặn ven đê.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Lâm học, Sinh thái học ứng dụng: Tham khảo phương pháp điều tra lâm học vùng đất ngập nước, kỹ thuật thiết kế ô tiêu chuẩn theo chế độ thủy triều, phương pháp đo chiều cao bằng sào chia vạch và kỹ thuật đánh giá lập địa bãi bồi ven biển.
- Cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ và Phòng Nông nghiệp & PTNT các huyện ven biển: Tham khảo số liệu thực tế về mật độ sinh trưởng, quy luật phân cành của cây Trang và các bài học kinh nghiệm trong phòng trừ Hà biển, quản lý xung đột sinh kế nuôi bắt thủy sản để nâng cao tỷ lệ sống của rừng trồng mới.
Câu hỏi thường gặp
Rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu thuộc huyện Nghĩa Hưng được hình thành từ nguồn gốc nào và có mật độ ban đầu là bao nhiêu?
Rừng ngập mặn tại khu vực khảo sát là rừng thuần loài Trang (Kandelia obovata) được trồng từ năm 2003 dưới sự tài trợ của Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch, với mật độ thiết kế ban đầu là 0,7 m x 0,7 m (tương đương 20.400 cây/ha).
Vì sao mật độ tại lô Trang dày lại tăng lên 25.600 cây/ha trong khi tại lô Trang thưa mật độ lại giảm xuống còn 7.500 cây/ha?
Tại lô Trang dày, mật độ tính theo thân cây tăng lên do quy luật sinh trưởng mỗi gốc Trang phân nhánh mạnh từ sát gốc (dưới 30 cm) tạo thành 2 - 3 thân độc lập cùng phát triển. Ngược lại, ở lô Trang thưa, mật độ cá thể giảm tới 63% so với ban đầu do cây con trong 1 - 2 năm đầu bị sinh vật hại (loài Hà bám nghẹt đỉnh sinh trưởng làm chết trên 50%), bị người dân đào bới bắt ngao vạng làm gãy đổ và chịu tác động vùi lấp của cơn bão số 7 năm 2005.
Khu vực nghiên cứu ghi nhận bao nhiêu loài thực vật và những loài cây gỗ ngập mặn nào có khả năng tái sinh tự nhiên?
Khu vực nghiên cứu ghi nhận tổng cộng 20 loài thực vật thuộc 15 họ. Trong đó có 3 loài cây gỗ ngập mặn thực thụ gồm cây Trang (Kandelia obovata) là loài cây trồng, cùng hai loài cây gỗ tái sinh tự nhiên xuất hiện dưới tán là Đước vòi (Rhizophora stylosa) và Bần chua (Sonneratia caseolaris).
Tác giả đã sử dụng phương pháp nào để xác định độ thành thục của đất và phân vùng ngập triều tại thực địa?
Độ thành thục của đất được xác định thông qua độ lún phù sa khi người có trọng lượng 60 kg đứng thẳng trên bùn, phân chia theo tiêu chuẩn Nguyễn Ngọc Bình (1996). Phân vùng ngập triều và độ cao thể nền được xác định bằng cách cắm 7 cọc tre khô dài 3 m trên 3 tuyến song song với đê biển, đo ngấn nước để lại khi triều rút kết hợp tra cứu lịch thủy triều tại thời điểm đo.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thị Hiền đã đánh giá chi tiết hiện trạng cấu trúc, mật độ và khả năng sinh trưởng của 33,25 ha rừng trồng Trang cùng tiềm năng mở rộng trên 37,11 ha đất bãi bồi ven đê huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Công trình chỉ rõ nguyên nhân làm suy giảm mật độ rừng xuất phát từ tác hại của loài Hà bám, hoạt động cào bắt nhuyễn thể và ảnh hưởng của bão biển. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kỹ thuật lâm sinh hỗn giao, kiểm soát sinh vật hại và quy hoạch phân khu đệm bảo vệ rừng gắn với sinh kế nuôi trồng thủy sản bền vững.