CHƯƠNG I TONG QUAN CUA VAN DE NGHIEN CUU 1. Trên thế giới 1. Phân bỗ rừng ngập mặn trên thế giới Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bên bán cầu. Tuy nhiên, có một số loài mở rộng khu phân bố lên phía Bắc tới 32°22' độ vĩ Bắc (Bermuda) như Đâng (Rhizophora stylosa), Trang (Kandelia candel).
Giới hạn phía Nam của cây ngập mặn là New Zealanđ (38°03' vĩ độ Nam) và phía Nam Australia (3843' vĩ độ Nam). Ở những vùng này mùa đông lạnh nên chỉ có Măm Biên(4vicennia marina).1: Bản đồ rừng ngập mặn trên thể giới (Nguôn: wikimedia.org) The iá của Hutchings và seanger, 1987 (Nguyễn Hoàng Trí, 1999) [14] thì diện gt gập. mặn trên thế giới là 15.000ha nề tro vùng Châu Á nhiệt đới và Châu Đại Dương, & 5.000ha na ving Châu Mỹ nhiệt đới và 3.000ha thuộc Châu Phi. Theo Wash (1974) [14] sự phân bố của cây ngập mặn trên toàn cầu được chia làm 2 khu vực chính.
Khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương: Bao gồm Nam Nhật Bản, Đông Nam Á, Ấn Độ, bờ biển Hồng Hải, Đông phi, Úc, New Zealand, các đảo phía Nam Thái Bình Dương kéo dài tới quần đảo Xamoa. Khu vực Tây Phi và Châu Mỹ: Bao gồm bờ biển châu Phi ở Đại tây Dương, quần đảo Galapagos va châu Mỹ. | Theo một số tác giả thì sự phân bố của rừng ngập mặn ngày nay cho thấy khu vực giữa Malaysia và Bắc Úc là trung tâm biến hóa của của khu hệ thực vật ngập mặn (Ding Hou 1958). Tuy nhiên, trên cơ sở phân tích hóa thạch một số tác giả cho rằng trung tâm này nằm ở Tây Nam và Bắc Úc tới Papua New Guinea chứ không phải là Malaysia.
Ở Úc và Papua New Guinea có khoảng 30 loài cây gỗ và cây bụi thuộc 14 họ thực vật, ngoài ra trong rừng ngập mặn còn có 10 loài thuộc 8 họ dây leo, một số lớn các loài thực vật khác như tảo, Muống Biển, nắm, địa y cũng thấy trong quan xã rừng ngập mặn, nhưng hầu hết các loài này không chỉ trong rừng ngập mặn mới có.2 Một số công trình nghiên cứu về cấu trúc và tải sinh rừng ngập mặn trên thế giới Trên thế giới những nghiên cứu về rừñg ngập mặn có rất nhiều. Nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh cla quần xã thực vật rừng ngập mặn được sự chú ý, đặc biệt là các nhà khoa học người Ấn Độ và Thái Lan. Người có nhiều nghiên cứu ở các vùng Nam Mỹ, Trung Phi và Đông Nam Á là P.Richard với công trình nghiên cứu “Rừng mưa nhiệt đới” [9]. Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã nghiên cứu về địa mạo, cấu trúc, thành phan và điều kiện tự nhiên (Thổ nhưỡng, khí hậu.) của những kiểu rừng mưa nhiét 46i trong đó éó.rừng ngập mặn.
Các nhà khoa học về sáu cũng đã áp dụng phương pháp nghiên cứu của tác giả này để lên cú nề cấu trúc và thành phần phức tạp của rừng mưa V —— SEF ~ ˆ À nhiệt đới như: aWer (1952) (Dân theo Phan Nguyên Hông, 1999) [2]. Trong đó rừng ngập nian phân bố ở Xích Đạo về hai phía bán cầu cũng là đối tượng nghiên cứu của tác giả này. Seanger nghiên cứu về cấu trúc của các quần xã cây ngập mặn ở bờ biển miền trung Queensland. Hogg cũng có nghiên cứu về cau trúc quần xã rừng ngập mặn.
Arrornkocie đã tiến hành nghiên cứu về “Cấu trúc, tái sinh, năng suất và chu trình đinh dưỡng của rừng ngập mặn”. Martodigdo có nghiên cứu về cấu trúc rừng ngập mặn ở vùng biển Tegal. Subramariam nghiên cứu về sinh thái, phân bố và cấu trúc eủa quần xã rừng ngập mặn [1]. Rabinowftz (1975) [5] sau hàng loạt thí nghiệm, quan sát về sự phát tán và khả năng tái sinh của một số loài cây ngập mặn ở Panama đã cho rằng: các loại cây ngập mặn ưu thế ở những vùng nước triều thấp có số lượng cây con lớn hơn trong khi những loài cây ngập mặn ưu thế ở những vùng đất cao hơn có số lượng cây con ít, cần có một thời gian nhất định cho phất tán và cố định cây.
Tác giả cũng cho rằng tỉ lệ chết của trụ mầm tương quan tỉ lệ nghịch với khối lượng của chúng. Kairo (2006) [15] đã công bố dự án về sự phát triển cấu trúc và sự sinh sản của rừng ngập mặn ở Kenya: Nghiên cứu cho thấy việc chặt hạ 50 cây có thể dùng cho tính sinh khối, phát triển cáế mô hình tương quan. Tại mỗi cây chặt thì đo đường kính tại điểm cất hai đầu D1 và D2. Thể tích gỗ được tính bằng công thức của Smallian (FAO, 1994): V =(D1+ D 2)/2 x n/4xL, trong dé V 1a thé tích, DI và D2 lần lượt là đường kính đáy và đỉnh của các đoạn; L là chiều dài mỗi đoạn và z = 3,14.
Tỷ trọng của-các thành phần cây khác nhau được xác định bằng cách nhấn chìm mẫu đã biết khối lượng vào trong nước. Sau đó, lấy khối lượng nước được thay thế chia cho khối lượng để có được tỷ trọng. Để ước tính khối lượng cấc nhánh và rễ không thể thương mại (Được sử dụng như củi tại địa phương), cắc gi#trj sinh Ì ối được nhân với trọng lượng riêng của chúng. (2007)/đã nghiên cứu về cấu trúc và thành phần cấu tạo, giá SE | trị quan trọng, Ộ đa dạng và mô hình phân tán của rừng ngập mặn tại | € 4 & Muara Gembong, Jakarta.
Phuong phap duge str dung để mô tả, kỹ thuật lấy | ̇ mẫu có mục đích và thảm thực vật rừng ngập mặn được nghiên cứu băng phương pháp ô mẫu. Khu vực lấy mẫu được chia thành 4 vị trí: Mỗi vị trí được chia thành 3 ô vuông kích thước 10 m x 10 m cho cây lớn; 3 ô kích thước 5 m x 5 m cho cây con và 15 ô kích thước 1 mx 1 m cho cây con từ hạt và cây bụi. Dữ - liệu thứ cấp được thu thập là điều kiện vật lí và hóa học: Nhiệt độ nước, không khí và đất, độ âm, độ mặn, pH đất, và kết cấu đất. Dựa trên thành phần rừng ngập mặn, khu vực Muara Gembong được phân chia như rừng ngập mặn trung gian, rừng ngập mặn lợ, nơi chiếm ưu thế của các họ Mắm và Bản.
Từ toàn bộ diện tích khu vực lấy mẫu, Mắm là loài chiếm ưu thế. Chỉ sé Shannon cho thay đa dạng của rừng ngập mặn Muara Gembong thấp, với chiều cao vút ngọn của cây từ hạt và cây bụi đạt 2,171. Chỉ số đa dạng thấp đã được báo cáo là do sự xáo trộn môi trường sống và kết cấu đất đồng nhất được cấu tạo bởi các hạt sét. Các khu rừng ngập mặn tại Muara Gembong cho thấy gần với mô hình đồng nhất của cây, cây con, cây từ hạt và cây bụi.
Mô hình phân bố đồng nhất chịu ảnh hưởng bởi điều kiện hóa học và vật lí tương đối giống nhau trong khu vực lấy mẫu và giúp cho các khu rừng ngập mặn sinh trưởng và phát triển [15]. Kasawani và cộng sự (2007) đã nghiên cứu về cấu trúc rừng, chỉ số đa dạng và sinh khối tại khu rimg ngap man Tok Bali, Kelanta, Mã Lai. Các tác giả đã cố gắng tìm hiểu về cấu trúc của sự phân bố rừng ngập mặn ở đây dé bat đầu chương trìnhquản lí và phục hồi. Nghiên eứu được tiến hành từ tháng 7 - 11 năm 2006 để xác định thành phần löài, chỉ số đa dạng và sinh khối bề mặt trong 15,8 ha rừng 18ngập mặn hỗn giao.
Các tác giả đã công bố rằng loài Bần trắng chiếm ưu thế với hơn 73 cá thể trong mỗi tuyến (31 cây lớn, 42 cây con và cây từ hạt). Tương đó, hầu hết cây từ hạt trong các tuyến có chiều cao từ 10- 14 m. Suwa: sự eee) da a cứu cấu trúc một khu rừng ngập mặn Rừng ngập mặn bao i Vet dù (Bruguiera sommorhiza (L.) Sern va ‘Trang | eemadelica obovata (S. Các tác giả nhận thấy chiều cao cây cực đại (Hmax) được suy ra từ mối liên hệ giữa đường kính thân (Dạ,¡) và chiều cao cây (H) trong mỗi loài đã giảm ở hạ lưu.
Nghiên cứu cho thấy: Mặc dù sự giảm sinh khối và chiều cao cây không nhất thiết phản ánh sự chậm phát triển của cây rừng ngập mặn về chiều cao cây dọc theo các dải thủy triều và sự sinh trưởng chậm của cây trồng cùng với việc giảm khả năng quang hợp của lá [15]. Cho tới nay trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về sỉnh thái rừng ngập mặn nhưng những nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng ngập mặn là luôn cần thiết vì những đặc điểm này thay đổi theo thời gian-và không gian. Những nghiên cứu này là cơ sở cho những nhà hoạch định chính sách, đề ra các giải pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn và ứng phó với thay đổi khí hậu. Tình hình nghiên cứu rừng ngập mặn ở Việt Nam 1.
Phân bố rừng ngập mặn ở Việt Na Việt Nam là nước nằm trong vừng nhiệt đới tạo điều kiện thuận lợi cho rừng ngập mặn sinh trưởng và phát triển, nhất là vừng Nam Bộ. Trước năm 1943 nước ta có khoảng 400.000ha (Maurand, 1943) [5] nhưng đến năm 1975 diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 185. Do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chính là do chiến tranh hóa học, khai thác và quá trình tác động không hợp lý tới rừng ngập mặn.TS Phan Nguyên Hồng đã công bố thành phần loài cây trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Việt Naff gồm 77 loài cây ngập mặn thuộc 2 nhóm phân chia theo điều kiện môi trường và các dạng sống khác nhau. Nhóm 1 gồm có 35 loài cây ngập mặn thuộc 20 chi của 16 họ, nhóm này thường được gọi là ¡ nhóm ngập mặn “Thực thụ”.
Nhóm 2 gồm có 42 loài thuộc 36 chi của 16 họ, :i nhóm này ba gồ các loài cây “Gia nhập” rừng ngập mặn thường ở các rừng | || | | || | Hồn cũng là người đầu tiên đề cập đến sự phân bố địa lý Se sk tA z + z. ' và diễn thê các rừng ngập mặn trong nhiêu nghiên cứu của tác giả [2]. <> ¡ Trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở nước ta có tới 45 quần xã cây ngập ' mặn, 6 quan thể cây rừng ngập mặn và chúng được phân bỗ theo các vùng miền hay các khu vực phân bố khác nhau. Theo tác giả thì rừng ngập mặn Việt Nam được chia thành 4 khu vực và 12 tiểu khu.