Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thương mại điện tử (TMĐT) xuyên biên giới đã trở thành phương tiện hỗ trợ các doanh nghiệp gia tăng giao thương và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Đặc biệt, giai đoạn đại dịch Covid-19 năm 2021 đã tạo ra nhiều khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam khi các ngành kinh doanh truyền thống suy giảm rõ rệt: ngành bán buôn, bán lẻ giảm 0,2%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 20,8%; ngành vận tải kho bãi giảm 4%. Trước bối cảnh đó, việc chuyển hướng sang giao dịch trên nền tảng số đã giúp lĩnh vực TMĐT duy trì tốc độ tăng trưởng trên 20% và đạt quy mô trên 16 tỷ USD vào năm 2021. Khóa luận tốt nghiệp ngành Thương mại Quốc tế của tác giả Trần Ngọc Bảo Thy (Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn, năm 2022) tập trung nghiên cứu đề tài "Hoạt động xuất nhập khẩu trên nền tảng thương mại điện tử" nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy kênh giao thương này.

Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả xác định 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Làm rõ thực trạng cũng như lợi ích của công cụ thương mại điện tử trong hoạt động xuất nhập khẩu.
  2. Tổng hợp ý kiến đề xuất phát triển từ các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động xuất nhập khẩu.
  3. Xác định những vấn đề khó khăn còn tồn tại trong quá trình ứng dụng thương mại điện tử trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian gần đây.
  4. Đề xuất một số biện pháp tăng cường ứng dụng và phát triển thương mại điện tử cho các doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế và xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển TMĐT trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, cùng các định hướng và giải pháp phát triển trong thời gian tới. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào các doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia hoạt động mua bán quốc tế tại Việt Nam, trọng tâm là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát số liệu từ giai đoạn dịch bệnh Covid-19 (2019–2021) đến thời điểm hoàn thành đề tài vào tháng 7 năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa TMĐT theo hai hướng tiếp cận:

  • Theo nghĩa hẹp: Dẫn chiếu định nghĩa của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán, thanh toán qua Internet; và định nghĩa của Ủy ban Thương mại điện tử thuộc Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) về công việc kinh doanh qua truyền thông số liệu.
  • Theo nghĩa rộng: Dẫn chiếu Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL) mở rộng khái niệm thương mại cho mọi giao dịch phát sinh từ quan hệ thương mại (hợp đồng, phân phối, đại lý, vận tải, đầu tư, cấp vốn). Đồng thời, tác giả viện dẫn mô hình 4 thành tố MSDP gồm: Marketing (xúc tiến thương mại qua Internet), Sales (chức năng hỗ trợ giao dịch, ký kết hợp đồng), Distribution (phân phối sản phẩm số hóa trên mạng) và Payment (thanh toán điện tử).

Về mô hình ứng dụng, nghiên cứu phân loại theo các tiêu chí: mô hình doanh thu (quảng cáo, thuê bao, phí giao dịch, bán hàng, liên kết); phương thức kết nối (truyền hình, Internet, điện thoại di động M-commerce); và đối tượng tham gia. Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), mô hình B2B chiếm tỷ trọng lớn trong TMĐT (khoảng 90%), trong khi mô hình B2C chiếm khoảng 10%.

Chủ thể Chính phủ (G) Doanh nghiệp (B) Người tiêu dùng (C)
Chính phủ (G) G2G G2B (Hải quan điện tử, ELVIS) G2C (Dịch vụ công TNCNonline.vn)
Doanh nghiệp (B) B2G (Đấu thầu công) B2B (Alibaba.com) B2C
Người tiêu dùng (C) C2G C2B C2C (Ato.vn)

Khung văn bản pháp lý được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích bao gồm: Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị về ứng dụng CNTT; Quyết định số 73/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT; Nghị định số 124/2015/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính; Quyết định số 645/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn 2021-2025; Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và Nghị định số 134/2016/NĐ-CP (từ Điều 5 đến Điều 29 về miễn thuế XNK); cùng các đạo luật chuyên ngành (Bộ luật Dân sự, Luật Công nghệ thông tin, Luật An toàn thông tin mạng, Luật An ninh mạng, Luật Hải quan).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm ba phương pháp chính:

  1. Phương pháp phân tích: Phân tích tính ứng dụng và sự biến đổi của hoạt động xuất nhập khẩu khi đưa TMĐT vào kinh doanh quốc tế.
  2. Phương pháp thống kê mô tả: Tóm tắt và mô tả tập hợp dữ liệu thu thập được từ các báo cáo chuyên ngành dưới dạng số liệu và bảng biểu; đây là một trong hai phương pháp chủ đạo của luận văn.
  3. Phương pháp tổng hợp, so sánh số liệu: Tổng hợp các dữ liệu thứ cấp qua nhiều năm và giữa các địa phương để đối chiếu, dự báo xu hướng vận động của hoạt động xuất nhập khẩu trực tuyến.

Nguồn dữ liệu của đề tài được trích xuất từ các công bố chính thức: Sách Trắng Thương mại điện tử Việt Nam (Bộ Công Thương), báo cáo chỉ số TMĐT (EBI) của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), báo cáo e-Conomy SEA của Google, Temasek và Bain & Company (năm 2019), khảo sát nhân lực của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, số liệu an ninh mạng của Kaspersky, cùng báo cáo hoạt động từ Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn và các nền tảng quốc tế (Alibaba.com, Amazon).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về thương mại điện tử

Chương này tập trung làm rõ các khái niệm, mô hình và đặc điểm bản chất của TMĐT. Tác giả phân tích 5 đặc điểm cốt lõi gồm: tính cá nhân hóa; khả năng đáp ứng tức thời mọi lúc mọi nơi qua thiết bị kết nối Internet; tính minh bạch về giá cả; khả năng tiết kiệm chi phí giao dịch; và sự hỗ trợ của các phần mềm thông minh ("điệp viên thông minh") vận hành 24/7 thay thế các thao tác thủ công của con người.

Về mặt lợi ích, tác giả phân chia cụ thể theo 3 nhóm đối tượng:

  • Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Mở rộng thị trường không biên giới; cắt giảm chi phí bán hàng, marketing, văn phòng, in ấn; giảm mức tồn kho thông qua việc kết nối thông tin trực tiếp giữa các khâu sản xuất - thu mua - phân phối; quản lý thanh toán chính xác và phục vụ khách hàng tự động 24/7.
  • Đối với đối tác: Tiếp cận thông tin đa phương tiện liên tục 24/24; đối chiếu giá cả toàn cầu để chọn mức giá cạnh tranh cho các đơn hàng lớn; trao đổi thông tin ngang hàng (P2P).
  • Đối với xã hội: Đóng vai trò xúc tác chuyển đổi sang nền kinh tế số; hỗ trợ phát triển Chính phủ điện tử trong quản lý hành chính công minh bạch; duy trì dòng chảy lưu thông hàng hóa trong điều kiện giãn cách do dịch bệnh.

Bên cạnh đó, chương 1 đối chiếu các hạn chế của TMĐT trên hai phương diện:

Tiêu chí Hạn chế về mặt kỹ thuật Hạn chế về mặt thương mại
Độ tin cậy & Chuẩn mực Chưa có tiêu chuẩn quốc tế đồng nhất về chất lượng, an toàn và độ tin cậy. Các bên chưa tin cậy hoàn toàn vào giao dịch không giấy tờ, thiếu tiếp xúc trực tiếp.
Hạ tầng & Công nghệ Tốc độ truyền tải Internet còn hạn chế đối với thiết bị di động; công cụ phần mềm vẫn trong giai đoạn hoàn thiện. An ninh và bảo mật thông tin cá nhân là rào cản tâm lý lớn cho người dùng.
Chi phí & Nguồn lực Chi phí đầu tư CNTT cao trong khi công nghệ biến đổi nhanh; đòi hỏi kho bãi tự động lớn cho đơn hàng B2C. Khung pháp lý chưa hoàn thiện; người dùng cần thời gian chuyển đổi thói quen từ thực sang ảo và phải liên tục học hỏi.

Chương 2: Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại TPHCM

Chương 2 phân tích chi tiết thực tiễn ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp và sự quản lý của cơ quan nhà nước qua 6 nhóm nghiệp vụ:

  1. Ứng dụng trong tiếp thị (E-marketing) và nhận diện thương hiệu: Doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng quảng cáo trực tuyến, email marketing, tiếp thị liên kết và mạng xã hội. Theo số liệu báo cáo được tác giả trích dẫn, ngành Bán lẻ/Thương mại điện tử chiếm tỷ trọng chi tiêu tiếp thị trực tuyến cao nhất thị trường với 23,9%, xếp trên ngành hàng Tiêu dùng nhanh (FMCG). Các nền tảng quốc tế như Amazon minh họa cho việc tối ưu hóa quy trình đưa sản phẩm từ email vào giỏ hàng chỉ qua một thao tác nhấp chuột.
  2. Ứng dụng tìm kiếm nguồn khách hàng quốc tế: Doanh nghiệp sử dụng các sàn B2B như Alibaba.com (qua tài khoản miễn phí hoặc tài khoản Gold Supplier có thu phí để khai thác yêu cầu báo giá - Inquiry) và các cổng thông tin nhà cung cấp toàn cầu (Global suppliers), ví dụ như việc tìm kiếm dữ liệu đối tác nhập khẩu gỗ ghép thanh tại thị trường Australia.
  3. Ứng dụng trong bán và trao đổi hàng hóa xuất nhập khẩu: Vận hành giao dịch 24/24 không phụ thuộc vào ranh giới địa lý, tối ưu chi phí thuê mặt bằng trưng bày hay nhân sự chào hàng trực tiếp.
  4. Ứng dụng trong dịch vụ logistics (E-logistics): Dẫn số liệu từ Bộ Công Thương, cả nước có hơn 30.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động logistics, trong đó 89% là doanh nghiệp trong nước. Các công nghệ mới được đưa vào ứng dụng thực tiễn gồm: Công ty Cổ phần Abivin Việt Nam ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) giúp tăng 30% khả năng giao hàng và hiện hoạt động tại 4 quốc gia; Tập đoàn T&T Group hợp tác cùng Tập đoàn YCH (Singapore) từ cuối năm 2019 phát triển trung tâm logistics và cảng cạn quốc tế ứng dụng thiết bị bay không người lái (drone) kiểm đếm hàng và xe tự hành AGV trong kho; Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn triển khai hệ thống cảng điện tử e-Port từ năm 2016, áp dụng lệnh giao hàng điện tử (eDO) và kết nối thanh toán qua cổng Napas 24/7.
  5. Dịch vụ công trực tuyến của Nhà nước: Cơ quan Hải quan triển khai hệ thống khai báo hải quan điện tử ECUS, hệ thống cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử Ecosys và hệ thống quản lý giám sát hải quan tự động VASSCM tại cảng, sân bay, kho bãi.
  6. Giao dịch và thanh toán quốc tế: Ứng dụng hóa đơn điện tử và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ điện tử (L/C điện tử) giúp giảm thiểu rủi ro chứng từ giấy và tăng cường tính minh bạch.

Đồng thời, tác giả chỉ ra các rào cản thực tế: nhận thức của các DNNVV ở khu vực có nguồn hàng dồi dào còn thấp do thói quen giao thương truyền thống; khung pháp lý chuyên biệt cho hàng hóa xuất nhập khẩu qua TMĐT và dịch vụ e-logistics chưa hoàn thiện; tình trạng tội phạm mạng gia tăng với số liệu từ Kaspersky ghi nhận hình thức tấn công lừa đảo (phishing) tại Việt Nam tăng 36% trong nửa đầu năm 2020; hạ tầng đường truyền Internet chưa tối ưu; và sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Khảo sát của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số cho thấy:

Chỉ số đào tạo nguồn nhân lực TMĐT Tỷ lệ phần trăm
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành TMĐT có việc làm tại một số trường Trên 90%
Hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng 37%
Hình thức đào tạo ngắn hạn tập trung 33%
Hình thức đào tạo trực tuyến 9%
Hình thức đào tạo chính quy dài hạn 6%
Nhân lực tại các công ty giải pháp có bằng cấp TMĐT chính quy Dưới 30%
Nhân lực được đào tạo từ các ngành kinh doanh, thương mại, CNTT 50%

Chương 3: Một số biện pháp đề xuất nhằm tăng cường phát triển thương mại điện tử đối với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp

Từ danh mục nội dung của khóa luận, chương 3 thiết lập hệ thống tiêu chí đánh giá (nhận thức doanh nghiệp, hành lang pháp lý, hạ tầng công nghệ, hạ tầng nhân lực, vấn đề bảo mật an toàn thông tin) và phân tích bối cảnh hội nhập cùng các cơ hội, thách thức. Tác giả xây dựng quan điểm, mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và định hình 8 nhóm giải pháp:

  1. Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin.
  2. Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về TMĐT nhằm phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu tại các khu vực có nguồn hàng hóa dồi dào.
  3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghiệp vụ TMĐT.
  4. Phát triển các sản phẩm và giải pháp công nghệ TMĐT.
  5. Tư vấn xây dựng kế hoạch ứng dụng TMĐT cho doanh nghiệp.
  6. Đẩy mạnh việc tham gia các cam kết hội nhập quốc tế về thương mại điện tử.
  7. Nâng cao năng lực quản lý và tổ chức hoạt động phát triển TMĐT trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
  8. Tạo lập cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển TMĐT trong hoạt động xuất nhập khẩu.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh các dữ kiện thực tế về thị trường TMĐT Việt Nam:

  • Ghi nhận tốc độ tăng trưởng của TMĐT Việt Nam năm 2021 đạt trên 20%, đạt quy mô trên 16 tỷ USD. Dẫn báo cáo năm 2019 của Google, Temasek và Bain & Company, thị trường TMĐT Việt Nam năm 2019 đạt doanh thu 2,7 tỷ USD với 35,4 triệu người dùng; dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2015-2025 là 29% và dự kiến quy mô sẽ đứng thứ 3 trong khối ASEAN vào năm 2025.
  • Cung cấp số liệu cụ thể về cơ cấu chi phí quảng cáo trực tuyến (ngành Bán lẻ/TMĐT chiếm tỷ trọng dẫn đầu 23,9%) và cơ cấu doanh nghiệp logistics (với 89% là doanh nghiệp nội địa trong tổng số hơn 30.000 doanh nghiệp hoạt động).
  • Phản ánh thực trạng nguồn nhân lực qua điều tra của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số: sinh viên ngành TMĐT có tỷ lệ việc làm trên 90%, tuy nhiên đào tạo chính quy dài hạn chỉ chiếm 6%, dẫn đến thực tế dưới 30% nhân sự tại các công ty giải pháp TMĐT có chuyên môn chính quy đúng chuyên ngành.
  • Ghi nhận các trường hợp ứng dụng công nghệ điển hình: phần mềm tối ưu lộ trình của Abivin giúp cải thiện 30% khả năng giao hàng; hệ thống e-Port của Tân Cảng Sài Gòn điện tử hóa chứng từ eDO và kết nối cổng Napas; dự án trung tâm logistics cạn của T&T Group và YCH đưa robot AGV và thiết bị bay không người lái vào vận hành chuỗi cung ứng.
  • Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc hệ thống hóa toàn diện các mắt xích công nghệ phục vụ ngoại thương (marketing, sàn B2B, e-logistics, hải quan số ECUS/VASSCM, thanh toán L/C điện tử) và đề xuất 8 nhóm giải pháp gắn liền với thực tiễn chuyển đổi số của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, tác giả tự nhận định do kinh nghiệm thực tế và trình độ nghiên cứu còn có điểm bỡ ngỡ nên bài làm khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Xét theo nội dung văn bản, nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo ngành và khảo sát có sẵn của cơ quan quản lý (Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Hiệp hội VECOM, Kaspersky), chưa tự thực hiện điều tra chọn mẫu sơ cấp diện rộng trên địa bàn TP.HCM. Phạm vi khảo cứu cũng tập trung chủ yếu vào đối tượng DNNVV.

Về hướng nghiên cứu mở rộng, tài liệu gợi mở các hướng đi tiếp theo bao gồm:

  • Khảo sát thực nghiệm độc lập về mức độ sẵn sàng ứng dụng TMĐT tại các nhóm ngành hàng xuất khẩu cụ thể (như nông sản, đồ gỗ, dệt may).
  • Nghiên cứu chuyên sâu việc hoàn thiện hành lang pháp lý đối với hàng hóa xuất nhập khẩu giao dịch qua sàn TMĐT (đặc biệt là cơ chế quản lý hải quan chuyên biệt và chính sách quản lý thuế đối với các sàn quốc tế).
  • Đánh giá tác động định lượng của các công nghệ logistics 4.0 (AI, robot AGV, phương tiện tự hành) tới chi phí thông quan và thời gian giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, giảng viên và học viên thuộc các chuyên ngành Thương mại quốc tế, Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng, cũng như Thương mại điện tử.

Nội dung đề tài cung cấp giá trị tham khảo cụ thể ở các phần:

  • Phần tổng quan lý thuyết về các mô hình giao dịch B2B, B2C, B2G và khung thành tố MSDP áp dụng cho ngoại thương.
  • Phần thực tiễn tại Chương 2 với hệ thống tư liệu chi tiết về việc kết nối dịch vụ công trực tuyến (hải quan thông minh, hệ thống ECUS, VASSCM, cấp C/O điện tử Ecosys) và các giải pháp chuyển đổi số cảng biển (e-Port, eDO).
  • Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô vừa và nhỏ có thể tham khảo quy trình tìm kiếm đối tác qua sàn B2B (Alibaba.com, Global suppliers) và các cảnh báo về an toàn thông tin khi thực hiện thanh toán trực tuyến.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo văn bản, các tổ chức quốc tế định nghĩa thương mại điện tử theo những cách tiếp cận nào?
Tác giả dẫn chiếu hai cách tiếp cận: Theo nghĩa hẹp, WTO định nghĩa TMĐT gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán, thanh toán trên mạng Internet; APEC định nghĩa đây là công việc kinh doanh qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học. Theo nghĩa rộng, UNCITRAL quy định thuật ngữ thương mại bao quát mọi quan hệ thương mại có hoặc không có hợp đồng (giao dịch, phân phối, ủy thác, vận tải, đầu tư, cấp vốn).

2. Tình hình tăng trưởng của thương mại điện tử Việt Nam trong giai đoạn dịch Covid-19 năm 2021 được ghi nhận ra sao?
Năm 2021, dù các ngành kinh tế truyền thống bị suy giảm (bán buôn, bán lẻ giảm 0,2%; lưu trú và ăn uống giảm 20,8%; vận tải kho bãi giảm 4%), lĩnh vực TMĐT vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng trên 20% và đạt quy mô trên 16 tỷ USD nhờ các giải pháp thúc đẩy trao đổi kinh tế trực tuyến của Chính phủ.

3. Cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực TMĐT tại Việt Nam được phản ánh qua những con số nào?
Số liệu từ Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số ghi nhận: sinh viên ngành TMĐT ra trường có việc làm đạt trên 90%. Về hình thức đào tạo: đào tạo theo đơn đặt hàng chiếm 37%, đào tạo ngắn hạn tập trung chiếm 33%, đào tạo trực tuyến chiếm 9%, trong khi đào tạo chính quy dài hạn chỉ chiếm 6%. Tại các công ty cung cấp giải pháp TMĐT, nhân lực có bằng cấp TMĐT chính quy dưới 30%, 50% đến từ các ngành kinh doanh, thương mại, CNTT.

4. Khóa luận nêu những ví dụ thực tiễn nào về việc ứng dụng công nghệ 4.0 trong hoạt động e-logistics tại Việt Nam?
Văn bản nêu các trường hợp cụ thể: Công ty Cổ phần Abivin Việt Nam ứng dụng AI và Big Data giúp tăng 30% khả năng giao hàng (hoạt động tại 4 quốc gia); Tập đoàn T&T Group hợp tác cùng YCH triển khai trung tâm logistics ứng dụng thiết bị bay không người lái và xe tự hành AGV trong kho; Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn triển khai hệ thống cảng điện tử e-Port từ năm 2016 giúp áp dụng lệnh giao hàng điện tử eDO và thanh toán Napas 24/7.

5. Những rủi ro an ninh mạng và gian lận nào được tác giả cảnh báo đối với doanh nghiệp khi thanh toán quốc tế qua TMĐT?
Tác giả dẫn số liệu của Công ty Kaspersky cho thấy trong nửa đầu năm 2020, Việt Nam ghi nhận sự gia tăng 36% về các hình thức tấn công lừa đảo (phishing). Các rủi ro bao gồm việc kẻ xấu lập hàng trăm website giả mạo mỗi năm để đánh cắp thông tin cá nhân, chiếm đoạt tài sản, gian lận thanh toán thẻ tín dụng, hoặc tạo gian hàng ảo bán hàng giả, hàng nhái cho các nhà nhập khẩu thiếu kinh nghiệm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Ngọc Bảo Thy đã làm rõ vai trò của thương mại điện tử như một công cụ hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là nhóm DNNVV tại Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình tổng hợp các cơ sở lý luận, hệ thống hóa văn bản chính sách và phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ trong nghiệp vụ marketing, tìm kiếm khách hàng quốc tế, e-logistics và dịch vụ công hải quan điện tử. Những dữ liệu và 8 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật và hoạt động chuyển đổi số trong lĩnh vực ngoại thương.