CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT. Một số khái niệm cơ bản. Khái niệm về hộ sản xuất. Theo nghị định của Chính phủ số 14/CP ngày 02/03/1993 thì “Hộ sản xuất trong quy định này bao gồm các hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, công ty cổ phần, các tổ chức hợp tác và các doanh nghiệp Nhà nước, thành viên của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trong các ngành nông- lâm-ngư-diêm nghiệp và tiểu, thủ công nghiệp ở nông thôn.” [5,trang 1] Để phù hợp với chế độ sở hữu khác nhau giữa các thành phần kinh tế và khả năng phát triển kinh tế từng vùng, theo phụ lục của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo quyết định 499A TDNT ngày 02/9/1993 thì khái niệm hộ sản xuất được thống nhất như sau : "Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình”.
Khái niệm về hoạt động cho vay. Hiểu một cách khái quát nhất thì cho vay là một quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể kinh tế với nhau, trong đó chủ thể này chuyển sang cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị ( Có thể dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ) trong một thời gian nhất định, sau thời gian này chủ thể đi vay phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu bao gồm cả gốc và lãi cho bên cho vay. Theo Quyết định 1627/2001 và 127/2005/QĐ- NHNN thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một một mục đích và một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi.”[7,trang 1] Theo Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín: “Cho vay sản xuất kinh doanh là sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong nước.” SVTH: Hoàng Thị Thảo Lớp: K46H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 5 Khoa: Tài chính – Ngân hàng 1. Nội dung lý thuyết liên quan tới hoạt động cho vay hộ sản xuất.
Đặc điểm, phân loại hộ sản xuất. - Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế cá thể mang tính tự cấp, tự túc và phát triển hơn là sản xuất hàng hóa nhỏ. Là đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng, quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất của các hộ biểu hiện trình độ phát triển của hộ, từ cơ chế khép kín tự cung tự cấp đến sản xuất hàng hóa. - Về ngành nghề: Hộ sản xuất tiến hành sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau bao gồm: Nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, thậm chí nhiều hộ sản xuất còn tham gia cả lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ bản.
Nhưng hiện nay hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là chủ yếu. - Về quy mô sản xuất: Hộ sản xuất thường hoạt động với quy mô nhỏ chủ yếu là quy mô gia đình và trang trại. Do điều kiện về nguồn vốn, khả năng quản lý, sức cạnh tranh trên thị trường…. còn nhiều yếu kém nên hộ sản xuất gặp khó khăn khi mở rộng quy mô.
- Về nhân lực: Hộ sản xuất sử dụng nguồn lao động tự có trong gia đình là chủ yếu. Tuy nhiên do quy mô sản xuất ngày càng lớn, khi cần hộ sản xuất thuê thêm lao động có thể thường xuyên hoặc thời vụ. - Về khả năng quản lý: Khả năng quản lý của hộ sản xuất còn rất nhiều hạn chế, do không được đào tạo bài bản mà chủ yếu dựa vào tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống. - Nguồn vốn kinh doanh: Vốn để sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất chủ yếu được hình thành từ các nguồn: Nguồn vốn tự có, vốn tín dụng theo quan hệ truyền thống trong dân cư, vốn hỗ trợ của Nhà Nước và các tổ chức phi chính phủ, vốn tín dụng ngân hàng và nguồn vốn khác (của doanh nghiệp…).
Trong đó vốn tín dụng ngân hàng là quan trọng nhất đối với hộ sản xuất, hoạt động sản xuất của hộ càng phát triển, quy mô càng lớn, trình độ càng nâng lên thì nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng càng thường xuyên và càng lớn hơn. SVTH: Hoàng Thị Thảo Lớp: K46H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 6 Khoa: Tài chính – Ngân hàng 1. Phân loại hộ sản xuất. Hộ sản xuất rất đa dạng, gồm nhiều hình thức tổ chức khác nhau, thành phần trong hộ cũng đa dạng.
Cũng theo quyết định số 499A/TDNT ngày 02/ 09/ 1993 của NHNo&PTNT Việt Nam thì hộ sản xuất được chia thành các loại sau: Hộ loại I: Bao gồm: - Hộ chuyên sản xuất Nông, Lâm, Ngư, Diêm nghiệp có tính chất tự sản xuất, tự tiêu thụ sản phẩm và do cá nhân làm chủ hộ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả kinh doanh. Hộ cá thể, tư nhân làm kinh tế gia đình theo nghị định ngày 29/3/1998. - Hộ là những thành viên nhận khoán các tổ chức kinh tế hợp tác, các doanh nghiệp Nhà Nước. Hộ loại II: Bao gồm các hộ sản xuất, kinh doanh theo luật định.
Hộ loại II có những đặc trưng sau: - Được cấp giấy phép kinh doanh hoặc giấy phép thành lập do cơ quan có thẩm quyền Nhà nước cấp. - Có giấy phép kinh doanh do Trọng tài kinh tế Nhà nước cấp. - Có vốn điều lệ (Nếu là công ty), vốn đầu tư ban đầu( Nếu là doanh nghiệp tư nhân) cao hơn vốn pháp định. Trường hợp vốn kinh doanh thấp hơn vốn pháp định nhưng được cấp giấy phép kinh doanh để thực hiện theo nghị định số 66/HĐBT ngày 02/03/1992.
Hộ loại II bao gồm: - Hộ tư nhân: Là một nhóm thực hiện sản xuất kinh doanh theo nghị định số 66/HĐBT ngày 02/03/1992 - Hộ là tổ hợp tác xã tổ chức theo điều lệ hợp tác xã do Nhà nước quy định. - Công ty cổ phần, công ty TNHH được tổ chức theo luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty ngày 21/12/1990. Như vậy, các hộ trên đều hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong các ngành Nông, Lâm, Ngư, Diêm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp ở nông thôn, thị trấn, thị xã và các vùng ven đô đều được vay vốn tại NHNo&PTNT Việt Nam. SVTH: Hoàng Thị Thảo Lớp: K46H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 7 Khoa: Tài chính – Ngân hàng 1.
Đặc trưng của hoạt động cho vay của NHTM đối với hộ sản xuất. Theo Trần Văn Dự, “ Hộ sản xuất trong quan hệ tín dụng với NHTM”– Tạp chí Ngân hàng số 4 năm 2005 thì hộ sản xuất có một số đặc trưng sau: Các quan hệ giao dịch của hộ sản xuất với ngân hàng thương mại không thường xuyên và quy mô không lớn. Thường là họ không mở tài khoản tại ngân hàng, khi nào có thu nhập, có khoản để dành, tiết kiệm thì đến gửi tiền vào ngân hàng. Khi nào có nhu cầu vay vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thậm chí là nhu cầu cho đời sống thì họ đến vay.
Nhu cầu thanh toán chuyển tiền cũng vậy, thường là họ thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt hoặc thanh toán chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, nhưng quy mô giao dịch không lớn và cũng không thường xuyên. Người vay thường là không thể xây dựng phương án, đề án vay vốn như ngân hàng thương mại yêu cầu đối với doanh nghiệp, mà thường là sử dụng đơn xin vay. Cũng do trình độ mọi mặt của người vay hạn chế, nên cán bộ ngân hàng thường xuyên phải giám sát sử dụng vốn vay, đôn đốc trả nợ, trả lãi. Vốn vay thường được sử dụng tổng hợp và nguồn trả nợ cũng tổng hợp từ nhiều khoản, nhiều nguồn thu nhập khác nhau.
Do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong gia đình, họ vay vốn ngân hàng có mục đích cụ thể, nhưng thường là không phải lúc nào cũng sử dụng vốn vay cho một mục đích đó mà có khi sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu là cho sản xuất, có khi cho cả mục đích sinh hoạt, tiêu dùng. Nguồn trả nợ cũng vậy, thường là từ nhiều hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, làm dịch vụ, từ tiền lương, tiền công, tiền đền bù, trợ cấp, thu nhập khác… của nhiều thành viên trong gia đình. Trình độ sản xuất, trình độ văn hóa và ý thức pháp luật hạn chế. Phần đông hộ sản xuất mang tính truyền thống, thủ công canh tác theo tập quán, có áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhưng mức độ hạn chế so với doanh nghiệp.
Tương tự trình độ văn hóa, nhận thức pháp luật, hiểu biết pháp luật… cũng hạn chế. Ở một số vùng xa thành phố, xa đô thị, chủ yếu là đồng bào dân tộc, nhiều chủ gia đình còn không biết chữ. SVTH: Hoàng Thị Thảo Lớp: K46H3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp 8 Khoa: Tài chính – Ngân hàng Tài sản của hộ sản xuất có giá trị thấp và khó phát mại. Giá trị tài sản của các hộ sản xuất ở các thành phố, đô thị thì thường có giá trị khá, phát mại thuận lợi hơn.
Nhưng phần đông các hộ sản xuất ở nông thôn, tài sản của họ là nhà ở, đất ở, đất canh tác, cây trồng, vật nuôi, công cụ sản xuất, phương tiện. nhưng nhìn chung là có giá trị không cao và rất khó phát mại, khó bán trong trường hợp hộ sản xuất không có khả năng trả nợ cho ngân hàng.Quy trình cho vay của Ngân hàng Thương mại đối với hộ gia đình, cá nhân. Bước 1: Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ xin vay. Khách hàng có nhu cầu vay vốn đến Phòng tín dụng Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp nơi cư trú mang theo các loại giấy tờ sau : - Giấy chứng minh nhân dân.
- Các giấy tờ chứng minh nơi cư trú ( hộ khẩu, giấy đăng ký tạm trú ) - Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; các Giấy đăng ký thay đổi (nếu có). - Giấy tờ về tài sản của hộ gia đình, cá nhân. Bước 2: Thẩm định hồ sơ xin vay. Cán bộ tín dụng sẽ đến nơi ở, nơi sản xuất, kinh doanh của khách hàng để thẩm định dự án SXKD, tài sản thế chấp.
Đây là bước quan trọng nhất quyết định chất lượng của phân tích tín dụng.