CHƯƠNG I: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Nêu lên tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu; mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, cách thức thực hiện đề tài và đối tượng, phạm vi nghiên cứu. CHƯƠNG II: Cơ sở lý luận và thực trạng của HTTT quản lý bán hàng trong công ty. Trong phần này là những vấn đề làm cơ sở lý luận cho việc thực hiện đề tài. Giới thiệu sơ lược về Công ty Cổ phần HC – Phát triển Công nghệ Smart Parking và tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, thực trạng hoạt động quản lý bán hàng tại công ty.
CHƯƠNG III: Phân tích, thiết kế HTTT quản lý bán hàng nhằm cho khách hàng cá nhân của Công ty Cổ phần HC – Smart Parking. Trên cơ sở của chương II tiến hành nghiên cứu sâu hơn để phân tích, thiết kế và xây dựng HTTT quản lý bán hàng cho khách hàng cá nhân tại công ty cổ phần HC – Phát triển công nghệ Smart Parking. Nguyễn Thị Thu Thủy 4 SVTH: Nguyễn Tuấn Anh Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Hệ thống thong tin kinh tế CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA HTTT QUẢN LÝ BÁN HÀNG TRONG CÔNG TY 2. Một số khái niệm cơ bản.
Hệ thống thông tin và hệ thống thông tin quản lý. Hệ thống thông tin HTTT là một tập hợp và kết hợp của các phần cứng, phần mềm và các hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tạo, tái tạo, phân phối và chia sẻ các dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức. Đặc trưng của HTTT. - Phải được thiết kế, tổ chức phục vụ nhiều lĩnh vực hoặc nhiệm vụ tổng thể của một tổ chức - Đạt mục tiêu là hỗ trợ ra các quyết định - Dựa trên kỹ thuật tiên tiến về xử lý thông tin - Có kết cấu mềm dẻo, phát triển được Cấu thành HTTT.
Mọi hệ thống thông tin có 4 bộ phận: bộ phận đưa dữ liệu vào, bộ phận xử lý, kho dữ liệu và bộ phận đưa dữ liệu ra, được mô hình hóa như sau: Nguồn Đích Thu thập Xử lý – lưu trữ Phân phát Kho dữ liệu Sơ đồ 2. Sơ đồ mô hình hóa các bộ phận cấu thành HTTT. Nguyễn Thị Thu Thủy 5 SVTH: Nguyễn Tuấn Anh Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Hệ thống thong tin kinh tế - Hệ thống thông tin kế toán (Accounting Information Systems - AIS) Phân loại theo hệ thống doanh nghiệp Hệ thống doanh nghiệp hỗ trợ cho các quy trình nghiệp vụ của một tổ chức với các chức năng như sản xuất, phân phối, bán hàng, kế toán, tài chính và nhân sự. Có ba hệ thống chính trong hệ thống doanh nghiệp: - Hệ thống quản lý nguồn lực doanh nghiệp (ERP) - Hệ thống quản trị quan hệ khách hàng, nhà cung cấp (CRM / SRM) - Hệ thống quản trị chuỗi cung ứng (SCM) Vai trò của HTTT đối với doanh nghiệp - HTTT nằm ở trung tâm của hệ thống tổ chức là phần tử kích hoạt các quyết định (mệnh lệnh, chỉ thị, thông báo, chế độ tác nghiệp, .) - Hệ thống thông tin đóng vai trò trung gian giữa doanh nghiệp và môi trường đảm bảo và duy trì mối quan hệ, tương tác giữa các thành phần trong doanh nghiệp với các thực thể bên ngoài.
- Hệ thống thông tin có vai trò đối ngoại: Thu thập thông tin từ môi trường ngoài,đưa thông tin ra môi trường ngoài. Ví dụ như thông tin về giá cả, thị trường, sức lao động, nhu cầu hàng hóa - Hệ thống thông tin có vai trò đối nội: Làm cầu nối liên lạc giữa các bộ phận của tổ chức, cung cấp và truyền thông tin cho hệ tác nghiệp, hệ quyết định trong doanh nghiệp. Ví dụ như thông tin phản ánh tình trạng nội bộ, hoạt động kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp - Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp là hệ thống thu thập, xử lý và cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, kiểm soát. Cung cấp cho hệ quyết định tất cả thông tin cần thiết trong quá trình ra quyết.
- Hệ thống thông tin có vai trò chuyển các thông tin từ hệ quyết định cho hệ tác nghiệp và môi trường bên ngoài. Hoạt động hệ tổ chức được đánh giá tốt hay xấu tùy thuộc vào chất lượng của việc xử lý, sự phù hợp của hệ thông tin. Hệ thống thông tin quản lý. HTTT quản lý là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản lý của tổ chức.
Hệ thống bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho những người soạn thảo các quyết định trong tổ chức. Nguyễn Thị Thu Thủy 6 SVTH: Nguyễn Tuấn Anh Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Hệ thống thong tin kinh tế Thành phần của HTTT quản lý. - Các phần cứng (các máy móc và phương tiện) - Phần mềm (các chương trình và thủ tục) - Mạng (phương thức truyền thông và hỗ trợ mạng) - Dữ liệu (dữ liệu và cơ sở kiến thức) - Con người (người sử dụng và chuyên gia HTTT) Cấu trúc hệ thống thông tin quản lý. Một hệ thống thông tin quản lý được thiết kế cấu trúc tốt gồm bốn hệ thống con, đó là các hệ thống ghi chép nội bộ, hệ thống tình báo, hệ thống nghiên cứu và hệ thống hỗ trợ quyết định.
- Hệ thống ghi chép nội bộ: Đảm bảo cung cấp những số liệu hiện thời, nhiều tổ chức đã phát triển những hệ thống ghi chép nội bộ tiên tiến có sử dụng máy tính để có thể cung cấp thông tin nhanh và đầy đủ hơn. - Hệ thống tình báo: Cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin hàng ngày, tình hình đang diễn ra về những diễn biến của môi trường bên ngoài. - Hệ thống nghiên cứu thông tin: Thu thập những thông tin liên quan đến một vấn đề cụ thể đặt ra trước tổ chức, đặc điểm của việc nghiên cứu thông tin tốt là có phương pháp khoa học, sử dụng nhiều phương pháp, xây dựng mô hình, lượng định tỷ lệ chi phí/lợi ích của giá trị của thông tin. - Hệ thống hỗ trợ quyết định: Gồm các phương pháp thống kê và các mô hình quyết định để hỗ trợ các nhà quản lý ban hành các quyết định đúng đắn hơn.
Phân loại hệ thống thông tin quản lý Phân loại theo cấp ứng dụng: - Hệ thống thông tin cấp tác nghiệp: trợ giúp các cấp quản lý thấp như trưởng nhóm, quản đốc… trong việc theo dõi các hoạt động và giao dịch cơ bản của doanh nghiệp. - Hệ thống thông tin cấp chuyên gia: cung cấp kiến thức và dữ liệu cho những người nghiên cứu trong một tổ chức. Mục đích của hệ thống này là giúp đỡ các doanh nghiệp phát triển các kiến thức mới, thiết kế sản phẩm, phân phối thông tin, xử lý các công việc hàng ngày trong doanh nghiệp. - Hệ thống thông tin cấp chiến thuật: được thiết kế nhằm hỗ trợ điều khiển quản lý, tạo quyết định và tiến hành các hoạt động của các nhà quản lý cấp trung gian GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thu Thủy 7 SVTH: Nguyễn Tuấn Anh Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Hệ thống thong tin kinh tế - Hệ thống thông tin cấp chiến lược: giúp các nhà quản lý cấp cao xử lý và đưa ra các hướng chiến lược cũng như các xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Hệ thống giúp doanh nghiệp thích ứng tốt nhất với những thay đổi trong môi trường. Phân loại theo mục đích phục vụ của thông tin đầu ra: - Hệ thống thông tin xử lý giao dịch (TPS): là hệ thống thông tin giúp thi hành và lưu lại những giao dịch thông thường hàng ngày cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. - Hệ thống thông tin phục vụ quản lý (MIS): phục vụ các hoạt động quản lý của tổ chức.
Các hoạt động này nằm ở mức điều khiển tác nghiệp, điều khiển quản lý hoặc lập kế hoạch chiến lược. MIS thường phục vụ các nhà quản lý quan tâm tới những kết quả hàng tuần, hàng tháng và hàng năm chứ không phải các hoạt động hàng ngày. - Hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định(DSS): là hệ thống hỗ trợ giúp các hoạt động ra quyết định. Hệ thống phải cung cấp thông tin cho người ra quyết định xác định rõ tình hình mà một quyết định cần phải đưa ra.
- Hệ thống thông tin hỗ trợ điều hành (ESS): hệ thống giúp tạo ra một môi trường khai thác thông tin chung chứ không cung cấp bất cứ ứng dụng hay chức năng nào cụ thể - Hệ thống chuyên gia (ES): là những hệ thống cơ sở trí tuệ nhân tạo, có nguồn gốc từ nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo, trong đó có sự biểu diễn bằng các công cụ tin học những tri thức của một chuyên gia về một lĩnh vực nào đó. Mối quan hệ giữa các hệ thống. Hệ thống hỗ trợ điều hành (ESS) Hệ thống phục Hệ thống hỗ trợ vụ quản lý (MIS) ra quyết định (DSS) Hệ thống chuyên Hệ thống xử lý gia (ES) giao dịch (TPS) Sơ đồ 2. Mối quan hệ của các hệ thống.
Nguyễn Thị Thu Thủy 8 SVTH: Nguyễn Tuấn Anh Luan van Trường Đại học Thương Mại Khoa: Hệ thống thong tin kinh tế Vai trò. - Hệ thống thông tin là nơi thu nhận thông tin, xử lý và cung cấp cho người sử dụng khi có nhu cầu. Ta có thể sơ đồ hoá toàn bộ quá trình diễn ra trong hệ thông tin quản lý như sau: Sơ đồ 2. Toàn bộ quá trình diễn ra trong hệ thông tin quản lý.
Quản lý bán hàng có thể được định nghĩa là hoạt động quản trị của những người hoặc những nhóm người thực sự thuộc lực lượng bán hàng hoặc gồm những người liên quan đến hoạt động liên quan như giao hàng, dịch vụ khách hàng, giám sát bán hàng… hoặc những người hỗ trợ trực tiếp cho lực lượng bán hàng nhắm triển khai việc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh, nguồn lực của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh có liên quan. Những công việc của quản lý bán hàng bao gồm: - Thiết lập chiến lược phân phối - Thiết lập tổ chức lực lượng bán hàng - Thiết lập chính sách bán hàng, Tuyển dụng - Lập kế hoạch bán hàng - Triển khai GVHD: TS.