ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những nƣớc có tiềm năng đa dạng sinh học cao trên thế giới. Riêng về BS, số lƣợng các loài bò sát tăng nhanh trong những năm gần đây: Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc (1996) thống kê ở nƣớc ta có 258 loài bò sát, đến năm 2005 tổng số loài đã lên tới 296 loài bò sát (Nguyễn Văn Sáng và cs., 2005), và cuốn danh lục xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số 368 loài bò sát (Nguyen Van Sang và cs. Hiện nay đã ghi nhận 521 loài bò sát (Hội thảo quốc gia về lƣỡng cƣ và bò sát ở Việt Nam lần thứ tƣ tại Thanh Hóa). Với hàng loạt loài mới và ghi nhận mới đƣợc công bố trong những năm gần đây chứng tỏ khu hệ bò sát của Việt Nam rất đa dạng và cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu kỹ hơn.
Khu rừng và cảnh quan môi trƣờng xã Nhi Sơn – Mƣờng Lát đƣợc thành lập năm 2008 và tổng diện tích tự nhiên 3.7860 ha, rừng phòng hộ 656,28 ha và nằm trên địa bàn 6 bản xã Nhi Sơn huyện Mƣờng Lát là khu vực sinh sống của nhiều loài động thực vật đặc hữu và quý hiếm trong đó đang nằm trong danh sách đỏ Việt Nam, nhƣ: Bò sát. Là nơi phục hồi, lƣu trữ các nguồn gen phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trƣờng cho học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào về thành phần loài bò sát ở đây. Vì vậy, để góp phần đánh giá giá trị đa dạng sinh học làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển của xã Nhi Sơn, tôi đã chọn đề tài “Đa d ng th nh phần o i v đ điể ph n ố ủa o i s tt i Nhi Sơn, huyện Mƣờng L t, tỉnh Thanh Hóa”.
1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lị h sử nghiên ứu s t ở Việt Na Việt Nam đƣợc biết là một đất nƣớc có tiềm năng đa dạng sinh học cao và mang tính đặc hữu, đặc biệt là các loài BS. Từ thế kỷ XX đến nay, việc nghiên cứu các loài BS đã đƣợc thực hiện bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Theo thời gian, việc nghiên cứu ngày càng đƣợc quan tâm nhiều hơn và mở rộng ra nhiều hƣớng mới và ở nhiều vùng khác nhau (trích theo Nguyễn Văn Sáng và cs;2009).
Sự đa d ng ủa s t ở Việt Na qua thời kỳ Nă Số o i BS Ghi chú Số liệu năm 1982 theo Đào Văn 1982 276 Tiến 1996 258 Số liệu năm 1996, 2005, 2009 2005 296 theo Nguyễn Văn Sáng và cs. 2009 369 Số liệu năm 2016 về BS theo 2016 417 Frost, 2016 Theo tài liệu của Đình Cả (Võ Nhai, Thái Nguyên) của Đào Văn Tiến (1962); quá trình điều tra thu mẫu và xác định đƣợc 74 loài BS ở Bắc Thái cũ (nay gồm Thái Nguyên và Bắc Kạn). Theo Trần Kiên (1981): Ghi nhận loài Trăn đất (Python molurus) và Ba ba gai (Palea steindachneri). Ziegler và cs.
(2009) đã tổng kết 10 năm nghiên cứu đa dạng sinh học bò sát ở Vƣờn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng từ năm 2000 đến 2009 và thống kê đƣợc 93 loài bò sát, trong đó có 17 loài mới đƣợc phát hiện trong giai đoạn này. Cùng với việc phát hiện các loài mới và ghi nhận mới thành phần loài bò ở nhiều khu hệ cũng đƣợc nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ nhƣ: Hecht et al. (2013) 2 đã công bố danh sách khu hệ bò sát và của khu KBTTN Tây Yên Tử gồm 40 loài bò sát. Ziegler và cs.
(2014) đã công bố danh sách khu hệ bò sát của tỉnh Hà Giang ghi nhận 52 loài bò sát. Trong thời gian gần đây nhất vào tháng 2 năm 2020, Luu et al. (2020) đã ghi nhận tổng cộng có 50 loài BS thuộc 13 họ và 2 bộ tại VQG Ba Vì. Nhƣ vậy các nghiên cứu về BS chủ yếu là tập trung thống kê thành phần loài, mô tả loài mới, bổ sung vùng phân bố, ngoài ra có một số nghiên cứu về sinh thái học, sinh học phân tử, cũng nhƣ góp phần tu chỉnh phân loại học.
Một số nghiên ứu về s tt i Nhi Sơn – Mƣờng L t Từ kết quả khảo sát của Ban quản lý rừng và cảnh quan môi trƣờng xã Nhi Sơn Mƣờng Lát trong dự án quy hoạch khu rừng và cảnh quan Môi Trƣờng Nhi Sơn – Mƣờng Lát nhƣ chƣa có nghiên cứu nào về thành phần loài bò sát ở khu vực này. 3 CHƢƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Đ điể tự nhiên, hội khu vự Nhi Sơn 2. Vị trí địa lý Nhi Sơn là xã vùng cao biên giới của huyện Mƣờng Lát, có đƣờng biên giới dài 10,3 km về phía Tây Nam giáp với nƣớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
- Phía Đông giáp với xã Trung Lý; - Phía Tây giáp với xã Pù Nhi; - Phía Bắc giáp với Thị trấn Mƣờng Lát và xã Tam Chung; - Phía Nam giáp với Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. + Vĩ độ bắc: Từ 20039’ – 20028’ + Kinh độ đông: Từ 104036’ – 104030’ Địa hình của xã Nhi Sơn chủ yếu là đồi cao, vì vậy giao thông, thuỷ lợi rất khó khăn. Địa hình dốc theo hƣớng Đông Nam - Tây Bắc, điểm cao nhất gần 1.200 m so với mực nƣớc biển, điểm thấp nhất 200 m so với mực nƣớc biển; độ dốc trung bình 300. Địa hình Địa hình khu vực nghiên cứu phần lớn là đất dốc, độ chia cắt sâu với nhiều dông phụ gần nhƣ vuông góc với dông chính, độ dốc trung bình từ 15-30o, nhiều nơi dốc đến 30-35o, điểm cao nhất là 520 m.
Thổ nhưỡng Tổng diện tích tự nhiên của xã Nhi Sơn là: 3.786,03 ha; trong đó đất nông nghiệp là: 3.129,07 ha, đƣợc chia thành 2 nhóm đất chính nhƣ sau: - Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi chiếm khoảng 25,5%; - Nhóm đất feralit đỏ vàng chiếm khoảng 74,5 %. Khí hậu, thủy văn Nhi Sơn là xã có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 230C; chịu ảnh hƣởng của gió Phơn tây nam từ tháng 4 đến tháng 6, thời tiết khô hanh kéo dài, nhiệt độ lên đến 38 - 390C, mùa đông nhiệt độ xuống tới 50C, trời nhiều 4 sƣơng mù; ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây trồng; mùa mƣa tập chung chủ yếu vào cuối tháng 6 - 9. Nguồn nƣớc của xã Nhi Sơn chủ yếu đƣợc tích tụ bởi hệ thống khe suối, mó nƣớc tự nhiên (suối Cặt, suối Sâu, Suối Chim, suối Hộc); đây là nguồn nƣớc chính cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Tình hình dân sinh kinh tế, xã hội a.
Kinh tế Trong những năm vừa qua, đƣợc sự quan tâm đầu tƣ của đảng và nhà nƣớc, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban Thƣờng vụ huyện ủy, HĐND - UBND, các ban, ngành đoàn thể huyện. Sự nỗ lực của cán bộ và sự đồng thuận của nhân dân, vì vậy, kinh tế của xã đã có những bƣớc phát triển đáng kể, tốc độ phát triển kinh tế đang trên đà tăng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tích cực, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện, thu nhập bình quân đầu ngƣời đƣợc tăng lên. Nhƣng điều kiện địa hình phức tạp, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, sản xuất nông lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trƣởng kinh tế còn ở mức thấp so với bình quân của cả huyện, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao; Trong năm 2016: - Tốc độ tăng trƣởng kinh tế bình quân ƣớc tính đạt 10,3%. - Thu nhập bình quân đầu ngƣời ƣớc tính đạt 7 triệu đồng ngƣời/năm b.
X hội Toàn xã có 6 bản, 558 hộ, với 2.767 nhân khẩu, gồm 5 dân tộc sinh sống: gồm các dân tộc Mông, Kinh, Mƣờng, Thái và Dao, trong đó: + Dân tộc Mông: 98% dân số. + Dân tộc khác: 2% dân số. - Lao động: toàn xã có 1.359 lao động chiếm 50,95% dân số, trong đó: + Lao động nam: 709 lao động, chiếm 52,17 % + Lao động nữ: 652 lao động, chiếm 47,97 % - Về việc làm: Đa số lao động của xã đều làm việc trong lĩnh vực sản xuất, nông, lâm nghiệp, qua điều tra khảo sát thực tế cho thấy ngƣời lao động chỉ đủ 5 việc làm cho khoảng 65-75% thời gian lao động; điều kiện lao động khó khăn, trình độ lao động, sản xuất thấp kém. - Tập quán sản xuất và môi trường: Do tập quán sản xuất của nhân dân từ trƣớc đến nay là chủ yếu là sản xuất nƣơng rẫy, trình độ canh tác thấp phụ thuộc vào tự nhiên, nên hiệu quả kinh tế thấp.
Đất đai bị xói mòn gây ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng. Chƣa mạnh dạn đầu tƣ sản xuất, thiếu vốn, thiếu việc làm, thiếu kinh nghiệm, chƣa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhân dân vẫn còn sản xuất theo phƣơng thức truyền thống, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên năng suất cây trồng, vật nuôi chƣa cao. + Cơ sở hạ tầng còn hạn chế, đã làm ảnh hƣởng đến việc giao thƣơng trao đổi hàng hoá. Cơ sở h tầng Về giao thông Xã Nhi Sơn nằm trên trục đƣờng quốc lộ 15c, nên giao thông đƣợc thông suốt và thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa.
Nhƣng giao thông đi vào khu sản xuất của các bản chƣa đƣợc đầu tƣ, đa số là đƣờng nhỏ, độ dốc cao. Về thuỷ ợi Tuy nhiên kênh mƣơng bản Pá Hộc đã đƣợc đầu tƣ xây dựng hệ thống kênh mƣơng tại bản Pá Hộc gồm 1 đập dâng và 686,5m kênh mƣơng bê tông hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp cho hơn 10 ha lúa nƣớc. Các bản còn lại chƣa đƣợc đầu tƣ, sản xuất nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên và một số kênh mƣơng nhỏ dẫn nƣớc do dân tự tạo, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tƣới tiêu cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã. Văn ho , y tế, gi o dụ Đời sống văn hóa hội - Chợ nông thôn: Hiện nay trên địa bàn xã đã xây dựng đƣợc 1 chợ tạm để giao lƣu trao đổi hàng hoá, đây là lợi ích phát triển về dịch vụ kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn xã.
6 - Điện lƣới phục vụ sinh hoạt, sản xuất: Toàn xã có 07 trạm biến áp. Có 98% số hộ đƣợc sử dụng điện lƣới phục vụ sạt và sản xuất - Công trình nhà văn hoá xã và bản: Đến nay, có 2/6 bản có nhà văn hóa trong đó 01 nhà tạm cấp 4 cũ, kém chất lƣợng.