Tổng quan nghiên cứu

Khu hệ bò sát và ếch nhái Việt Nam sở hữu mức độ phong phú hàng đầu khu vực với khoảng 790 loài, bao gồm 502 loài bò sát và 288 loài ếch nhái phân bố trên nhiều dạng sinh cảnh. Khu Dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được thành lập chính thức theo Quyết định số 2156/QĐ-UBND ngày 25 tháng 06 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình với diện tích tự nhiên 22.595,94 ha. Nơi đây lưu giữ dải rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi đất thấp có độ che phủ rừng lên đến 99%, trong đó 90% diện tích nằm ở đai độ cao dưới 700 m – kiểu sinh cảnh tự nhiên đặc biệt quý hiếm đang bị suy thoái mạnh trên toàn quốc.

Mặc dù giữ vị trí xung yếu trong hành lang sinh thái Bắc Trường Sơn, dữ liệu về khu hệ động vật có xương sống tại khu vực còn nhiều khoảng trống, chỉ có duy nhất một đợt khảo sát sơ bộ ghi nhận 67 loài vào năm 2015 trước khi khu bảo tồn thành lập. Đề tài tập trung giải quyết các mục tiêu trọng tâm: đánh giá toàn diện tính đa dạng thành phần loài, phân tích đặc điểm phân bố theo sinh cảnh và độ cao, xác định các yếu tố đe dọa sinh học và đề xuất giải pháp bảo tồn bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát 22 tiểu khu rừng thuộc huyện Lệ Thủy trong thời gian 95 ngày thực địa (giai đoạn 2018 - 2020). Công trình đã xác lập bộ dữ liệu khoa học chuẩn mực với 83 loài bò sát, ếch nhái thuộc 21 họ, tạo cơ sở thực tiễn cho công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phân loại học hình thái động vật học kết hợp sinh thái học quần thể để phân tích cấu trúc khu hệ. Khung phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới của tác giả Thái Văn Trừng (1978) được ứng dụng để phân định 7 kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu, trong đó kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp chiếm ưu thế tuyệt đối với diện tích 12.555,09 ha (tỷ lệ 55,56%).

Khung phân chia đai cao sinh thái khu vực Đông Dương của Bain & Hurley (2011) được kế thừa và chuẩn hóa thành 3 đai độ cao thích ứng với địa hình thực tế: đai dưới 400 m, đai từ 400 m đến 800 m và đai trên 800 m. Các khái niệm trung tâm được vận dụng gồm: thành phần loài (species richness), chỉ số tương đồng sinh học Sorensen-Dice, tính đặc hữu và phân cấp tình trạng bảo tồn theo Danh lục Đỏ IUCN 2020, Sách Đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 06/2019/NĐ-CP và Nghị định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 207 cá thể, trong đó phân tích hình thái trực tiếp 204 mẫu vật thu thập và kết hợp quan sát định danh 3 mẫu rùa tại thực địa.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên việc thiết lập 10 tuyến điều tra chính cùng các tuyến phụ đi qua các dạng sinh cảnh đặc trưng từ độ cao 120 m đến 1220 m. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện sinh thái cao nhất nhờ bao phủ các sinh cảnh ven suối lớn, vách đá và thung lũng. Mẫu vật được thu thập trực tiếp bằng tay và gậy bắt rắn chuyên dụng trong hai khung giờ hoạt động mạnh nhất: ban ngày (09:00 - 16:00) và ban đêm (19:00 - 24:00).

Phương pháp phân tích hình thái thực hiện qua việc đo đạc 38 chỉ số kích thước chuẩn (như SVL, HL, HW, TAL) bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool có độ chính xác 0,01 mm, đối chiếu khóa định loại quốc tế chuyên ngành. Phương pháp phân tích định lượng sử dụng phần mềm PAST Statistic để tính toán chỉ số tương đồng Sorensen-Dice với 1000 lần lặp kiểm chứng. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm loại bỏ sai số ngẫu nhiên khi so sánh mức độ tương đồng giữa khu bảo tồn với Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa và Vườn Quốc gia Cúc Phương. Nghiên cứu thực hiện qua 4 đợt thực địa với 95 ngày và 38 lượt chuyên gia tham gia từ tháng 7/2018 đến tháng 8/2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Qua phân tích 204 mẫu vật thu thập và 3 quan sát thực địa, nghiên cứu đã định danh được 56 loài (34 loài bò sát, 22 loài ếch nhái) thuộc 42 giống và 18 họ. Tổng hợp cùng các công bố trước đó, danh lục bò sát và ếch nhái tại Khu Dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được cập nhật lên 83 loài thuộc 21 họ.

Nghiên cứu ghi nhận bổ sung 16 loài mới cho khu bảo tồn (11 loài bò sát, 5 loài ếch nhái) thuộc 10 họ, bổ sung 3 họ mới gồm họ Thằn lằn rắn (Anguidae), họ Rắn bồng (Homalopsidae) và họ Rắn hổ xiên (Pseudoxenodontidae). Đáng chú ý, loài Rắn khuyết lào (Lycodon laoensis) được ghi nhận phân bố lần đầu tiên tại tỉnh Quảng Bình.

Về cấu trúc đa dạng, ở lớp bò sát, họ Rắn nước (Colubridae) phong phú nhất với 14 loài (chiếm 28,57% tổng số loài) và 10 giống (chiếm 31,2% tổng số giống). Ở lớp ếch nhái, họ Ếch cây (Rhacophoridae) dẫn đầu với 10 loài (chiếm 29,4% tổng số loài), tiếp đến là họ Ếch nhái chính thức (Ranidae) với 8 loài (chiếm 23,5%). Hơn 85% số cá thể ghi nhận tập trung ở đai độ cao dưới 400 m và sinh cảnh rừng thường xanh ven suối Sa Ram, Khe Bang có độ ẩm không khí đạt từ 78% đến 93%.

Thảo luận kết quả

Cấu trúc đa dạng loài và mối quan hệ sinh thái được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ cột so sánh tương quan số giống - số loài giữa các họ, cùng sơ đồ hình cây (dendrogram) thể hiện chỉ số tương đồng sinh học.

Phân tích chỉ số Sorensen-Dice cho thấy khu hệ Động Châu - Khe Nước Trong có mức độ tương đồng cao nhất với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa (đạt trên 60%) nhờ tính liên tục của dải rừng thường xanh Bắc Trường Sơn. Ngược lại, khu hệ có sự phân hóa rõ rệt so với Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, bởi Phong Nha mang đặc trưng sinh cảnh núi đá vôi (Karst) còn Động Châu là sinh cảnh rừng nhiệt đới trên núi đất sa thạch và phiến thạch sét.

Việc không ghi nhận lại 27 loài từ đợt khảo sát năm 2015 phản ánh sự biến động theo mùa và tác động tiêu cực từ hoạt động khai thác quá mức. Phỏng vấn thực tế cho thấy áp lực săn bắt động vật hoang dã làm thực phẩm của cư dân vùng đệm và tình trạng tử vong do tai nạn giao thông trên tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh Tây (tiểu khu 534) đang đe dọa trực tiếp đến quần thể bò sát và ếch nhái bản địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn hiệu quả khu hệ động vật quý hiếm, luận văn đưa ra 4 giải pháp trọng tâm:

  1. Thiết lập mạng lưới tuần tra nghiêm ngặt tại các phân khu trọng điểm: Ban Quản lý Khu Dự trữ phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Lệ Thủy tổ chức tuần tra định kỳ 15 ngày/lần tại 5 tiểu khu có tính đa dạng cao (gồm các tiểu khu 523, 525, 527, 529 và 534), đặt mục tiêu giảm 80% tình trạng bẫy bắt trái phép trong giai đoạn 2021-2023.
  2. Xây dựng công trình giảm thiểu xung đột giao thông: Sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Bình phối hợp với Ban Quản lý lắp đặt 5 cụm biển cảnh báo động vật qua đường và xây dựng 3 cống chui sinh thái tại đoạn đường Hồ Chí Minh nhánh Tây chạy qua tiểu khu 534, hoàn thành trong vòng 18 tháng để giảm 90% nguy cơ tai nạn giao thông cho các loài bò sát.
  3. Phát triển sinh kế thay thế cho cộng đồng vùng đệm: Ủy ban nhân dân hai xã Kim Thủy và Lâm Thủy kết hợp cùng các tổ chức bảo tồn triển khai mô hình canh tác bền vững cho 73,6% số hộ người Vân Kiều, bảo đảm 100% thôn bản ký cam kết không săn bắt động vật rừng giai đoạn 2021-2025.
  4. Chuẩn hóa chương trình quan trắc sinh học định kỳ: Trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với cán bộ kỹ thuật địa phương duy trì điều tra giám sát 2 năm/lần trên 10 tuyến khảo sát cố định, số hóa 100% tọa độ ghi nhận loài phục vụ quản lý cơ sở dữ liệu không gian đến năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Ban quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Ứng dụng phương pháp phân vùng ưu tiên bảo tồn theo tiểu khu và bộ dữ liệu 83 loài để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững cấp cơ sở.
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Động vật học: Sử dụng nguồn tư liệu mô tả chi tiết 38 chỉ số đo hình thái của các loài mới ghi nhận như Lycodon laoensis, Dopasia harti, Megophrys microstoma phục vụ giảng dạy và nghiên cứu phân loại học.
  3. Các tổ chức bảo tồn phi chính phủ và quỹ môi trường: Tham khảo bức tranh toàn cảnh về hiện trạng sinh cảnh và các nhân tố đe dọa để xây dựng hồ sơ tài trợ các chương trình bảo vệ loài nguy cấp vùng Bắc Trường Sơn.
  4. Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý Tài nguyên - Lâm sinh: Tiếp cận quy trình nghiên cứu thực địa bài bản qua 10 tuyến khảo sát và kỹ thuật xử lý số liệu sinh học bằng phần mềm PAST Statistic.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã bổ sung bao nhiêu loài và họ mới cho Khu Dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong?
Nghiên cứu đã ghi nhận bổ sung 16 loài mới gồm 11 loài bò sát và 5 loài ếch nhái, đồng thời bổ sung 3 họ mới là Anguidae, Homalopsidae và Pseudoxenodontidae. Đáng chú ý, loài Rắn khuyết lào (Lycodon laoensis) lần đầu tiên được ghi nhận phân bố tại tỉnh Quảng Bình dựa trên phân tích mẫu vật chuẩn.

Sinh cảnh và đai độ cao nào tập trung mức độ đa dạng loài cao nhất?
Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (chiếm 55,56% diện tích) ở độ cao dưới 400 m là nơi tập trung trên 85% số cá thể ghi nhận. Khu vực ven các khe suối ẩm ướt như Sa Ram và Khe Bang có độ ẩm từ 78% đến 93% cung cấp môi trường sống thuận lợi nhất cho khu hệ.

Những nguyên nhân chính nào đang đe dọa quần thể bò sát và ếch nhái tại đây?
Hai nhân tố đe dọa lớn nhất là áp lực săn bắt động vật hoang dã làm thực phẩm của cư dân bản địa tại hai xã vùng đệm (nơi có 78,9% dân số là đồng bào Vân Kiều) và tai nạn giao thông do xe cơ giới gây ra trên tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh Tây đoạn qua tiểu khu 534.

Chỉ số tương đồng Sorensen-Dice phản ánh điều gì về đặc điểm khu hệ?
Phân tích thống kê với 1000 lần lặp khẳng định khu hệ có mức độ tương đồng cao trên 60% với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Hướng Hóa do cùng dải sinh cảnh núi đất Trường Sơn, nhưng có sự phân hóa sâu sắc với Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng do tính chất sinh cảnh núi đá vôi tương phản.

Quy trình phân tích và định danh mẫu vật được thực hiện theo tiêu chuẩn nào?
Nghiên cứu tiến hành đo 38 chỉ số hình thái chi tiết trên 204 mẫu vật bằng thước kẹp điện tử độ chính xác 0,01 mm. Mẫu được cố định bằng cồn 80-90% và bảo quản dài hạn trong cồn 70%, đối chiếu trực tiếp với hệ thống khóa phân loại quốc tế chuẩn mực và tiêu bản lưu trữ.

Kết luận

  • Xác lập danh lục cập nhật toàn diện gồm 83 loài bò sát và ếch nhái thuộc 21 họ tại Khu Dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong.
  • Bổ sung 16 loài mới cho danh lục khu bảo tồn, trong đó có 01 loài ghi nhận phân bố mới cho tỉnh Quảng Bình.
  • Làm rõ quy luật phân bố của khu hệ theo 3 đai độ cao và 3 dạng sinh cảnh chính trên tổng diện tích 22.595,94 ha.
  • Xác định cụ thể hai nguy cơ đe dọa sinh cảnh trực tiếp từ áp lực bẫy bắt dân sinh và chia cắt sinh thái do hạ tầng giao thông.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp bảo tồn có tính ứng dụng cao, phân kỳ thực hiện rõ ràng theo các mốc thời gian 2023, 2025 và 2030.

Luận văn đã đóng góp nguồn dữ liệu thực địa xác thực, đặt nền tảng cho việc quy hoạch bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới núi đất thấp Bắc Trường Sơn trong giai đoạn 5 năm tới. Các nhà quản lý và cơ quan chuyên môn cần nhanh chóng đưa các khuyến nghị này vào kế hoạch hành động thực tiễn nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen động vật quý hiếm.