CHƯƠNG 1 MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE TRÁCH NHIEM BOI THƯỜNG THIET HAI DO VI PHAM QUYỀN LỢI CUA NGƯỜI TIEU DUNG 1. Khai niệm về người tiêu ding và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng 1. Khái nệm về người tiểu ding Người tiêu ding (NTD) là chủ thé chính trong quan hệ BTTH do vi phạm quyên lợi của NTD. Đề xác đính chính xác quyên lợi, điều kiên áp dung trách nhiệm BTTH do vi pham quyên lợi của NTD thi trước hết cân có cách hiéu đúng đắn vệ loại chủ thể nay.
Dưới góc đồ kinh tế, NTD là một phạm trù khá rông chỉ chủ thé tiêu thu của cải được tạo ra bối nên kinh tê. NTD “là người mua, nhưng mục đích của hành vi mua của NTD là dé sử dung hàng hóa, dich vụ cuối cùng (customer goods/services hoặc final goods/services) và kết quả là làm hàng hóa, dich vụ đó tiêu hao hoặc biên mat”! Việc tiêu thu sản phẩm cuối cùng của NTD được kinh tế hoc ding dé xác định tổng sản phẩm quốc nội hay GDP, tức là giá tri thi trường của tất cả hàng hóa, dich vụ cuối cùng được sẵn xuất ra trong giới hạn lãnh thd quốc gia trong một giai đoạn nhất dinh. Qua đó, phân nào thay được vai trò quan trong của NTD đối với bất ky nén kinh té nào và trong bat ky thời ky nào. Dưới góc dé pháp lý, quan điểm về NTD có thé thay đôi tùy theo khu vực hay mỗi quốc gia.
Nhóm quan điểm thứ nhất cho răng NTD chỉ bao gồm cá nhân Cá nhân luôn có nhu cầu mua sắm hàng hóa và sử dung dich vụ dé đáp ứng các nhu cau của chính ho. Trong quan hệ với NSX hoặc nhà cung cấp địch vụ, họ thường yêu hon và cần được bảo vệ. Cá nhân thường không có đủ kiến thức pháp ly và tài chinh dé tự bảo vệ quyền lợi của minh. Nêu các tô chức cũng được cơi là NTD thì khó có thể là cho rang tổ chức là bên yêu thé, kém hiểu biết, thiểu thông tin, không có khả năng tai chính nên cân được bảo vệ và hưởng những đắc quyên như cá nhân đơn lẻ.
Một số nước trên thé giới hiện nay đang có cùng nhóm quan. Điều 1 Luật Bảo vệ NTD của Bang Quebec - Canada quy đnh: “NTD Ia tự nhién nhân (ca nhân) nhưng không phải là thương nhãn mua sắm hàng hóa, dich vụ cho mục dich lánh doanh của minh”. Điều 2 Luật về hợp đồng tiêu dùng Nhật Bản năm 2000 quy đính: “NTD theo ạt? !Trường Dai học Luật Hà Nôi, Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, NXB. Công an nhân dan, Hà Nội 2014 13 đình của Luật này là cá nhân nhưng không bao gồm cá nhân than gia hop đồng với mue dich kinh doanh”? Tại Nga, Luật BVQLNTD năm 1999 (sửa đổi gần nhất 2007) có đưa ra định nghĩa: “NTD là cá nhân người có mong muốn đặt hoặc yêu cau hàng hóa (công viée, dich vu) hoặc người đặt, yêu câu hàng hóa cho mục dich tiêu ding của cá nhân, gia đình, hồ gia dinh và các nhu câu khác không vì mục đích kinh doanh 3 Tuy nhiên, nhóm quan điểm nay van có hạn chế.
Trước hit, tổ chức theo quy định của pháp luật có nhiêu loại: tổ chức kinh tê, tổ chức xã hội, tổ chức kinh té- xã hội. không phải tổ chức nào cũng là doanh nghiệp va không phải tổ chức, doanh nghiệp nao cũng có đủ các điều kiện về nhân lực, tai chính, hiểu biệt pháp luật dé bão vệ minh trước những xâm hại từ phía nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Mặt khác, không phải lúc nao việc mua sắm, tiêu dung của tổ chức cũng là dé nhẻm mục đích sinh lời. Do vậy, có những quốc gia trên thé giới theo nhóm quan điểm thứ hai.
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng NTD có thé là cá nhân hoặc tổ chức. Ngược lei với quan điểm thử nhật, nhóm quan điểm này cho rằng không phải lúc nào các tổ chức cũng là người đủ khả năng để đối mat được với vi pham từ phía NSX kinh doanh và hêu quả là nêu Luật BVQLNTD không bảo vệ ho như đổi với cá nhân tiêu dùng khác thì quyên lợi của một nhóm đối tượng này sẽ bi xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội. Tại An D6, Luật Bảo vệ NTD 2019, Điều 2(7) quy dinhNTD là: “Bắt cứ người nào: Mua hàng hoặc thuê dich vụ có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán. hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh toán một phan, hoặc theo cách trả dan,.
mà không có mục đích dé bản lại hoặc vì muc dich thương mại khác “'. Điều 27 œ9) giải thích chữ “người” ở đây được hiểu bao gồm: doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đính, hop tác xã, tô chức xã hội, tuy nhiên không bao gom người mua hàng hóa đó để bán lại hoặc vì các mục đích thương mại. Hay tại Malaysia, Luật Bảo vệ NTD Malaysia năm 1999 quy định: “NTD là người nhận hàng hóa hoặc dich vu để sử cing cho mục dich cá nhân, sử dung trong hộ gia đình, sử dung hoặc tiêu ding và không sir dung hàng hóa hoặc dich vu vào muc đích thương mại, féu dimg cho qua trình san xuat’> Quan điểm nay đã khắc phục được han chế của nhóm quan điểm thứ nhật, Vì không ? Luật Hợp dong tiêu dùng 2000 của Nhat Bản Nguôn: https://wnw cas go jpfip(seisaku/hourei/data/CCA pdf > Luật Bao vệ quyên lợi người tiêu dùng Liên Bang Nga Nguôn: hfpsJlwvww svto. orglenslisÌV the wvto elacc elrus ef WTACCRUSSS LEG 376.pdf : Thật Bảo vệ người tiêu dung 2019 của Ân Độ Nguôn: http Hegazette nic in/WriteReadData/2019/210422 pdf * Luật Bao vẻ người tiêu dùng Malaysia 1999, sửa doi 2016 14 phải tổ chức nào cũng có đủ điều kiện dé bảo vệ minh trước những xâm hai của NSX, kinh.
doanh Mặt khác, tô chức cũng có nhu cầu mua sắm, sử dung dich vụ dé phục vụ nhu câu sinh. hoạt thiệt yêu cho người lao động của mình Van đề can nhin nhân ở đây là da theo nhóm quan điểm nào thi pháp luật các quốc gia van thông nhật ở nội dung NTD phải vì mục đích tiêu dùng sinh hoạt, không vi mục đích tiêu ding sẵn xuất, kinh doanh, sinh lời. Ngoài ra, đối tượng của giao địch phải là những hàng hóa, dịch vụ được phép lưu thông và đáp ứng được các nhu câu của con người. Điều nay hoàn toàn hop lý bởi cá nhân, tổ chức tiêu dùng vì mục dich sinh lời đã được bảo vệ bởi pháp luật thương mại, pháp luật doanh nghiép, pháp luật cạnh tranh,.
Ở Việt Nam, khái niém NTD chính thức được ghi nhận lan đầu trong Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999. Năm 2010, Luật BVQLNTD được ban hành, tiếp tục kế thừa Điều 1 của Pháp lệnh ghi nhận tại Khoản 1 Điều3: “NTD là người mua, sử ding hàng hóa, dich vu cho muc dich tiêu đừng. sinh hoat của cá nhân, gia đình té chức”. Có thé thay, so với pháp luật của nhiều nước trên thé giới thì đối tượng được bảo vệ theo phép luật bão vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng hơn Ngoài đối tương là cá nhân theo quan.
điểm của đa số quốc gia trên thé giới thì pháp luật Viét Nam còn coi tô chức cũng là NTD khi ho mua, sử dung hang hóa, dich vụ cho mục dich sinh hoạt, tiêu ding Vi đụ, một trường tiểu hoc mua vật phẩm trang tri dé phục vụ cho sự kiện nội bộ của nhà trường thì trong trường hợp nay, tô chức nay sẽ được bảo vệ với tư cách NTD. Hay trường hợp thương nhân mua hang hóa của thương nhân khac nhưng không phải dé trực tiếp phục vụ kinh doanh ma dé phuc vụ nhu câu ấn uống, giải trí, nghĩ ngơi của nhân sự, theo tinh thân của Luật BVQLNTD năm 2010 thi trong trường hop này, thương nhân cũng được coi là NTD. Tuy nhiên hiện nay, việc xác đính tổ chức nói chung và thương nhân nói riêng có được coi là NTD hay không là van đề còn nhiều y kiên khác nhau. Có ý kiên cho rang khi tô chức (thương nhân) mua hàng hóa không nhằm mục dich bán lại được coi là NTD.
Có ý kiến phản đối cho rằng trong moi trường hợp thương nhân mua hang hóa, dich vụ đều là những hành vi thương mại phụ thuộc, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của thương nhân nên đều phải được điều chỉnh theo pháp luật hợp đông thương mai chứ không được bảo vệ theo pháp luật bão vệ NTDẾ. Tác giả đồng tình với ý kiên thứ hei. Vi vậy, theo quan điểm của tác giả, NTD là cá nhân và các tổ chức không có chức năng kinh doanh. Như vậy, có thể kết luận: “NTD là cá nhâm/ tô chức mua, sử dung hàng hóa dich vụ cho muc dich tiểu dimg sinh hoat của cá nhân, gia đình, tổ chức.
NTD có thé trực tiếp hoặc không trực tiếp giao dich với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hay phân phối hàng hóa. Các quyều lợi cơ ban của người tiên dimg Quyên lợi của NTD là một trong những quyền con người được ghi nhân trong Hiền pháp và pháp luật của nhiêu rước trên thé giới và được xã hội tôn trong Hiện nay chưa có mat khái niém chính thông nao giải thích về quyền lợi của NTD. Theo V iên nghiên cứu Nhà nước và pháp luật: “Lợi ích của người tiêu đàng ở đây được hiểu là những đều có lot, có ich (trong đó có lợi ích kinh tế) cho người tiêu ding thông qua việc thực hiện được những quyền của NTD”. Theo đó, có thé hiểu “BVQLNTD” là việc đâm bão quyên lợi cho những cá nhân, tổ chức mua, sử dụng hàng hóa, địch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia định, tổ chức.
Những quyên lợi mà cá nhân tổ chức mua, sử dung hàng hóa, địch vụ cho mục dich tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đính, tô chức được pháp luật quan tâm bao vệ bao gam các quyên sau Một là. quyền được bảo đấm an toàn tính mang, sức khỏe, tải sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dich, sử dung hàng hóa, dich vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh. hang hóa, dich vụ cung cap. quyền được cung cấp thông tin chính xác, day di vệ tô chức, cá nhân kinh doanh hang hỏa, dich vụ, nội dung giao dich hang hóa, dich vụ, nguén gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa don, chúng từ, tài liệu liên quan đền giao dịch và thông tin cân thiết khác về hang hóa, địch vụ ma người tiêu ding đã mua, sử dung.