Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu tiềm năng du lịch xã Đại Dực, huyện Tiên Yên phục vụ phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh" được thực hiện bởi sinh viên Mai Văn Hải, chuyên ngành Văn hóa du lịch, Khoa Du lịch - Trường Đại học Hải Phòng (năm 2023), dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thúy An.

Bối cảnh thực tiễn của đề tài xuất phát từ đặc thù phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh. Trong khi các trung tâm du lịch biển đảo và tâm linh như vịnh Hạ Long, Yên Tử, Cửa Ông, Quan Lạn, Cô Tô đã được đầu tư và khai thác mạnh mẽ, thì khu vực đồi núi phía Đông Bắc của tỉnh, đặc biệt là huyện Tiên Yên, vẫn chưa được quan tâm tương xứng. Xã Đại Dực nằm ở phía Bắc huyện Tiên Yên, tiếp giáp huyện Bình Liêu, sở hữu hệ thống tài nguyên tự nhiên đặc trưng miền núi cùng bề dày văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số (Sán Chỉ, Tày, Thái đen). Tuy nhiên, hoạt động du lịch tại xã Đại Dực thời gian qua chỉ mang tính tự phát, chủ yếu giữ vai trò là điểm dừng chân phụ trợ trong các tuyến du lịch liên kết với Bình Liêu hoặc Móng Cái, chưa hình thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh để giữ chân du khách lưu trú lâu dài.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận:

  1. Chỉ rõ các nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa của xã Đại Dực có khả năng khai thác phục vụ phát triển du lịch trong hiện tại và tương lai.
  2. Đánh giá thực trạng, phân tích các ưu điểm và hạn chế trong hoạt động du lịch tại địa bàn xã Đại Dực giai đoạn 2017 – 2022.
  3. Xác định cơ hội và đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, định hướng phát triển du lịch xã Đại Dực trong giai đoạn 10 năm tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa và khảo tả chi tiết tài nguyên du lịch tự nhiên (địa hình, ruộng bậc thang, đồi Tình, khí hậu, tài nguyên nước, sinh vật) và tài nguyên du lịch văn hóa (văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của các tộc người Sán Chỉ, Tày, Thái đen) tại xã Đại Dực.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng lượng khách, công tác quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng phục vụ du lịch và các sản phẩm du lịch hiện hữu tại địa phương giai đoạn 2017 – 2022.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp về xây dựng sản phẩm, tour tuyến liên kết nội huyện và liên vùng, đầu tư cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực du lịch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiềm năng du lịch của xã Đại Dực, huyện Tiên Yên trong mối liên hệ phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh (bao gồm toàn bộ địa giới hành chính sau khi sáp nhập xã Đại Thành vào xã Đại Dực).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu hoạt động du lịch của địa phương trong giai đoạn 2017 – 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đề tài theo hướng nghiên cứu địa phương học và văn hóa du lịch ứng dụng. Khung thể chế và căn cứ pháp lý được tác giả sử dụng gồm:

  • Nghị định số 58/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành lập xã Đại Thành từ xã Đại Dực.
  • Nghị quyết số 837/NQ-UBTVQH14 ngày 17/12/2019 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ninh (sáp nhập toàn bộ xã Đại Thành trở lại xã Đại Dực, hiệu lực từ ngày 01/01/2020).
  • Các chủ trương, chính sách phát triển du lịch của Nhà nước; Chiến lược và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch huyện Tiên Yên và tỉnh Quảng Ninh tầm nhìn 2020 – 2030.
  • Hồ sơ di sản Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (ghi danh di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái tại Việt Nam ngày 12/12/2019).

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát điền dã: Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa tại các thôn bản thuộc xã Đại Dực để ghi nhận hiện trạng cảnh quan, khảo tả các công trình kiến trúc nhà ở, phong tục tập quán, nghề thủ công và phỏng vấn nghệ nhân dân gian địa phương.
  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, số liệu khách du lịch và hiện trạng cơ sở vật chất từ Ủy ban nhân dân xã Đại Dực, Ủy ban nhân dân huyện Tiên Yên và Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh.
  • Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: Đối chiếu các tài nguyên du lịch trên địa bàn với các nghiên cứu trước đây về du lịch Quảng Ninh để xác định nét đặc trưng riêng của du lịch vùng cao Tiên Yên.

Nguồn dữ liệu tham khảo: Khóa luận kế thừa kết quả từ các công trình nghiên cứu: “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh” (Đồng Thị Huệ, 2015); “Phát triển du lịch theo hướng bền vững ở Quảng Ninh” (Vương Minh Hoài, 2011); “Nguồn lực phát triển sinh thái tại một số đảo Quảng Ninh (nghiên cứu trường hợp đảo Cô Tô)” (Đàm Thu Huyền, 2009); “Tìm hiểu tiềm năng phát triển du lịch huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” (Lê Thị Hà, 2009); Báo cáo kiểm kê hệ thực vật bậc cao có mạch tại xã Đại Dực của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (công bố năm 2014 tại Hội nghị Khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về tiềm năng du lịch xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Chương 1 chiếm dung lượng từ trang 5 đến trang 38, tập trung khảo tả điều kiện tự nhiên, dân cư và hệ thống tài nguyên du lịch tự nhiên cùng tài nguyên du lịch văn hóa của xã Đại Dực.

Về vị trí địa lý và hành chính: Xã Đại Dực nằm ở phía Đông Bắc huyện Tiên Yên, cách trung tâm huyện khoảng 23 km và cách thành phố Hạ Long 90 km. Xã tiếp giáp huyện Đầm Hà ở phía Đông, giáp xã Phong Dụ ở phía Tây, giáp xã Đông Ngũ và Yên Than ở phía Nam, giáp huyện Bình Liêu ở phía Bắc. Sau khi sáp nhập xã Đại Thành vào Đại Dực theo Nghị quyết số 837/NQ-UBTVQH14, toàn xã có tổng diện tích tự nhiên là 46,29 km², quy mô dân số 2.602 người (số liệu năm 2018), mật độ dân số đạt 56 người/km². Địa bàn xã có 4 dân tộc sinh sống chủ yếu: Sán Chỉ (chiếm 65%), Tày (12%), Kinh (10%), Thái đen (10%), các dân tộc khác chiếm 3%.

Nhóm tài nguyên Danh mục tài nguyên cụ thể Đặc điểm và số liệu ghi nhận trong văn bản
Địa hình, cảnh quan Ruộng bậc thang Phân bố tại các thôn Khe Quang, Khe Lặc, Khe Lục; gắn liền với canh tác lúa nước vụ mùa; mùa vàng lúa chín vào tháng 10; là không gian tổ chức Lễ hội Mùa vàng Tiên Yên từ năm 2020.
Đồi Tình Rừng thông tự nhiên trên 200 ha, độ cao hơn 400 m so với mực nước biển, cách thác Nặm Văm 200 m, diện tích rừng hoa sim ước tính khoảng 50 ha; nằm giáp ranh giữa xã Đại Dực (Tiên Yên) và xã Húc Động (Bình Liêu).
Thủy văn (Thác nước) Hệ thống thác tự nhiên Thác Nặm Văm (độ cao trên 30 m), thác Cô Bảy (độ cao trên 40 m), thác Khe Lục Mỷ (độ cao trên 50 m), thác Á Chu Lan (độ cao trên 60 m); giữ nguyên trạng hoang sơ.
Khí hậu & Sinh vật Khí hậu á nhiệt đới núi cao, hệ thực vật Khí hậu mùa hè mát mẻ, mùa đông lạnh khô (tháng 12 đến Tết âm lịch có khả năng xuất hiện băng tuyết khi nhiệt độ hạ thấp); mùa hoa tháng 3, mùa hoa lau cuối năm. Hệ thực vật bậc cao có mạch có ít nhất 508 loài, 347 chi thuộc 113 họ (Viện Sinh thái và TNSV, 2014); diện tích lâm nghiệp trồng quế, thông, dổi, lát và cây dược liệu (đẳng sâm, bách hợp, hoàng đằng, thạch tùng răng cưa).
Văn hóa Sán Chỉ (65% dân số) Vật chất & Tinh thần Nhà ở vách đất, gạch không nung và nhà sàn 5 gian 2 mái ngói âm dương (toàn xã còn 8 ngôi nhà sàn truyền thống); trang phục chàm nữ khâu chéo viền chỉ đỏ, nhuộm nước tro bếp - vôi hoặc củ nâu; ẩm thực đặc trưng: gà đồi Tiên Yên, bánh gật gù, khâu nhục, cà sáy (vịt lai ngan) chấm nước mắm Cái Rồng, miến dong, xôi ngũ sắc (lễ 3/3), bánh cốc mò; di sản hát Soóng Cọ (thơ thất ngôn tứ tuyệt đối đáp nam nữ, nghệ nhân Ưu tú Sằn A Sẹc); Lễ Cầu mùa (thờ thần Nông, Lý thần hoàng, thần Đỏ, đạo cụ gậy chọc lỗ "bu chồng", thầy cúng kiêng thịt chó/trâu trước 25 ngày và sau 7 ngày, lễ tạ thần "chì tài tàu" lúc 6 giờ sáng); Lễ hội Văn hóa, Thể thao dân tộc Sán Chỉ tháng 10 (đã tổ chức 9 lần, có giao lưu bóng đá nữ).
Văn hóa Tày (12% dân số) Vật chất & Tinh thần Nhà sàn 3-5 gian hoặc nhà đất 3 gian 2 mái; dệt thổ cẩm họa tiết "lái ăm", bố cục ô quả trám, chữ Vạn, hoa đào; ẩm thực: bánh gio (ngâm nước tro sấu, tầm gửi), xôi ngũ sắc (nhuộm từ nghệ, lá gừng, vỏ bưởi, lá sau sau, cây đỏ đen), thịt trâu khô, thịt chua; nghệ thuật hát Then và đàn tính (UNESCO ghi danh năm 2019); Lễ hội Lồng Tồng (mùng 8 tháng Giêng, dựng cột mai 20-30 m có vòng tròn Nhật - Nguyệt để tung còn).
Văn hóa Thái đen (10% dân số) Vật chất & Tinh thần Nhà sàn mái khum hình mai rùa, số bậc cầu thang và số gian là số lẻ (5, 7, 9), liên kết hoàn toàn bằng lạt tre, mây và mộng dầm gỗ (không dùng đinh sắt); trang phục khăn piêu, áo khóm cúc bạc, váy thổ cẩm, xà tích bạc; ẩm thực biểu trưng: cá nướng Pa pỉnh tộp (ướp hạt mắc khén, rau phắc nam, cải nương), lễ vật cá muối ống "pa bẳng" và cá sấy "pa háp" trong nghi thức cưới hỏi dâng họ nhà gái và ông bà vãi.

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Chương 2 trình bày từ trang 39 đến trang 57, phản ánh thực trạng khai thác du lịch tại địa bàn thông qua các chỉ tiêu:

  • Thực trạng lượng khách: Thống kê lượng khách du lịch đến xã Đại Dực giai đoạn 2018 – 2022 và diễn biến lượng khách theo các tháng trong năm 2022; phân tích cơ cấu mục đích chuyến đi của khách du lịch giữa năm 2017 và năm 2022.
  • Công tác quản lý và nguồn nhân lực: Hoạt động quản lý nhà nước về du lịch tại xã do cán bộ kiêm nhiệm phụ trách; lực lượng lao động du lịch trực tiếp tại địa phương chưa qua đào tạo bài bản, chủ yếu là người dân địa phương tham gia làm dịch vụ tự phát trong các dịp lễ hội.
  • Các sản phẩm du lịch hiện hữu: Chủ yếu là hoạt động tham quan ngắm cảnh mùa vàng ruộng bậc thang, trải nghiệm Lễ hội Văn hóa - Thể thao dân tộc Sán Chỉ (tháng 10), tham quan đồi Tình, tắm thác và thưởng thức ẩm thực địa phương. Các sản phẩm mang tính thời vụ cao, thiếu sản phẩm dịch vụ bổ trợ để giữ chân khách vào các mùa khác trong năm.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng phục vụ du lịch: Khóa luận tổng hợp số lượng cơ sở lưu trú (homestay), dịch vụ ăn uống, cơ sở hạ tầng giao thông kết nối liên thôn, liên xã tính đến năm 2022. Cơ sở lưu trú quy mô nhỏ, số lượng phòng hạn chế; mạng lưới giao thông từ trung tâm huyện về xã và các tuyến đường nhánh vào các điểm thác, đồi Tình còn nhiều đoạn khó khăn cho phương tiện vận chuyển du lịch cỡ lớn.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 trình bày từ trang 57 đến trang 72, xây dựng hệ thống giải pháp phát triển du lịch dựa trên các căn cứ pháp lý và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tiên Yên:

  1. Nhóm giải pháp về xây dựng và đa dạng hóa sản phẩm du lịch:

    • Xây dựng chương trình du lịch đặc trưng xã Đại Dực: Khai thác tour trải nghiệm nông nghiệp (trực tiếp gặt lúa cùng đồng bào Sán Chỉ trên ruộng bậc thang Khe Quang, Khe Lặc, Khe Lục), khám phá đồi Tình, hồ Tuyệt Tình Cốc (thôn Khe Ngàn), trải nghiệm ẩm thực truyền thống (gà đồi, khâu nhục, bánh gật gù, cá nướng Pa pỉnh tộp) và giao lưu văn nghệ dân ca Soóng Cọ.
    • Xây dựng tuyến du lịch khép kín nội huyện Tiên Yên: Kết nối xã Đại Dực với xã Yên Than (thác Pạc Sủi 16 tầng), xã Phong Dụ, xã Đông Ngũ và thị trấn Tiên Yên.
    • Xây dựng tuyến du lịch liên vùng kết nối với huyện Bình Liêu: Thiết lập tour liên kết Đại Dực - Húc Động - Bình Liêu (kết nối đồi Tình, thác Khe Lục Mỉ, thác Khe Vằn, đỉnh Cao Xiêm, sống lưng khủng long và cột mốc biên giới 1305).
  2. Nhóm giải pháp về đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật:

    • Nâng cấp mạng lưới hạ tầng giao thông kết nối các điểm du lịch trên địa bàn xã Đại Dực và tuyến đường liên xã sang huyện Bình Liêu, huyện Đầm Hà.
    • Hỗ trợ người dân bảo tồn, phục dựng các ngôi nhà sàn truyền thống của người Sán Chỉ, người Tày để phát triển mô hình lưu trú cộng đồng (homestay) đạt chuẩn vệ sinh môi trường.
    • Đầu tư các công trình phụ trợ, điểm dừng chân ngắm cảnh, bãi đỗ xe và khu vực vệ sinh công cộng tại khu vực ruộng bậc thang và đồi Tình.
  3. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực du lịch:

    • Tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ quản lý nhà nước về du lịch cho cán bộ văn hóa xã.
    • Mở các lớp đào tạo kỹ năng đón tiếp, phục vụ buồng phòng, nấu ăn và kỹ năng thuyết minh du lịch bản địa cho các hộ dân tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp một hệ thống dữ liệu chi tiết về tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên:

  • Xác định và định vị hệ thống tài nguyên tự nhiên gồm: ruộng bậc thang mùa vàng (Khe Quang, Khe Lặc, Khe Lục), quần thể đồi Tình (hơn 200 ha rừng thông, 50 ha rừng sim), 4 con thác tự nhiên (thác Nặm Văm >30 m, thác Cô Bảy >40 m, thác Khe Lục Mỷ >50 m, thác Á Chu Lan >60 m) và hệ thực vật phong phú với ít nhất 508 loài thuộc 113 họ.
  • Khảo tả chi tiết các giá trị văn hóa vật chất (kiến trúc nhà ở, trang phục dệt nhuộm, ẩm thực truyền thống) và văn hóa tinh thần (nghi lễ Lễ Cầu mùa, nghệ thuật diễn xướng dân gian hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ, nghệ thuật hát Then đàn tính và Lễ hội Lồng Tồng của người Tày, tập tục ẩm thực Pa pỉnh tộp và pa bẳng - pa háp của người Thái đen).
  • Phân tích thực trạng hoạt động du lịch giai đoạn 2017 – 2022, chỉ ra các "điểm nghẽn" về tính mùa vụ, sự thiếu hụt cơ sở lưu trú và hạ tầng giao thông kết nối.
  • Đề xuất 3 tuyến hành trình du lịch cụ thể (nội xã, liên xã trong huyện Tiên Yên và liên vùng kết nối huyện Bình Liêu).

Đóng góp của khóa luận:

  • Về mặt khoa học và tư liệu: Đây là công trình khóa luận đầu tiên đi sâu nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện về tiềm năng du lịch tại xã Đại Dực, khắc phục khoảng trống nghiên cứu vốn trước đây chỉ tập trung vào du lịch biển đảo Quảng Ninh hoặc dừng lại ở mức độ khái quát chung toàn huyện Tiên Yên (như nghiên cứu của Lê Thị Hà, 2009).
  • Về mặt thực tiễn: Đề tài cung cấp nguồn tư liệu thuyết minh chi tiết cho hướng dẫn viên du lịch tuyến điểm vùng Đông Bắc Quảng Ninh; hỗ trợ các doanh nghiệp lữ hành xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa - sinh thái mới; đồng thời cung cấp luận cứ thực tiễn cho chính quyền địa phương trong việc quy hoạch phát triển du lịch gắn với xây dựng nông thôn mới và bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ trên các nhận xét chuyên môn từ cán bộ phản biện (giảng viên Ngô Thị Giang) và nội dung văn bản, khóa luận tồn tại một số hạn chế:

  • Về bố cục và dung lượng: Sự phân bổ số trang giữa các chương có sự chênh lệch lớn (Chương 1 chiếm 34 trang, từ trang 5 đến 38; Chương 2 chiếm 19 trang, từ trang 39 đến 57; Chương 3 chiếm 16 trang, từ trang 57 đến 72), dẫn đến việc phân tích thực trạng và giải pháp chưa thực sự sâu sắc so với phần khảo tả tiềm năng.
  • Về phương pháp phân tích khoa học: Khóa luận chưa áp dụng các mô hình và công cụ ma trận đánh giá chiến lược chuyên ngành du lịch (như ma trận SWOT, ma trận TOWS, ma trận đánh giá yếu tố bên ngoài EFE, hoặc ma trận GE về vị thế cạnh tranh và sức hấp dẫn thị trường) để định lượng điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch địa phương.
  • Về phân loại tài nguyên và thuật ngữ: Phần tài nguyên địa hình, khí hậu, sinh vật ở Chương 1 còn trình bày chung chung, đưa ruộng bậc thang và đồi Tình vào địa chất địa hình chưa thật sự chặt chẽ về mặt khoa học địa lý; bảng thống kê tại trang 50 còn có sự nhầm lẫn giữa khái niệm cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng du lịch.
  • Về cấu trúc giải pháp: Các giải pháp ở Chương 3 chưa được phân định rõ theo tiến trình thứ tự ưu tiên (nhóm giải pháp cấp bách cần triển khai ngay và nhóm giải pháp chiến lược dài hạn); giải pháp nguồn nhân lực chưa xác định rõ cơ cấu và nguồn tuyển dụng cụ thể.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Ứng dụng các công cụ phân tích ma trận (SWOT/TOWS, EFE, IFE) nhằm đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch xã Đại Dực trong tầm nhìn 5 – 10 năm tới.
  • Nghiên cứu sâu cơ chế hợp tác công - tư (PPP) và mô hình quản lý du lịch cộng đồng (CBT) gắn với sinh kế bền vững của đồng bào Sán Chỉ, bảo tồn 8 ngôi nhà sàn truyền thống còn lại và khôi phục không gian diễn xướng hát Soóng Cọ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo ứng dụng trong nhiều lĩnh vực:

  • Đối với sinh viên và học viên ngành Du lịch, Văn hóa học, Việt Nam học: Cung cấp trường hợp nghiên cứu cụ thể về phương pháp khảo tả tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa tại một địa bàn miền núi đa dân tộc; làm tư liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái nông nghiệp.
  • Đối với doanh nghiệp lữ hành: Cung cấp thông tin chi tiết về các điểm đến (ruộng bậc thang Khe Quang - Khe Lặc - Khe Lục, đồi Tình, thác Nặm Văm, thác Khe Lục Mỷ), thời điểm du lịch thích hợp (tháng 3 mùa hoa, tháng 10 mùa vàng và lễ hội, mùa đông săn băng tuyết) để thiết kế các tour trải nghiệm mới lạ kết nối trục Tiên Yên - Bình Liêu.
  • Đối với hướng dẫn viên du lịch: Cung cấp tư liệu chuyên sâu về văn hóa bản địa phục vụ biên soạn bài thuyết minh về phong tục tập quán, ẩm thực truyền thống (gà đồi Tiên Yên, cà sáy chấm mắm Cái Rồng, khâu nhục, Pa pỉnh tộp) và nghi lễ dân gian (Lễ Cầu mùa, hát Soóng Cọ, hát Then).
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương: Cung cấp căn cứ thực tế về số liệu dân cư, hiện trạng nhà sàn truyền thống, hạ tầng cơ sở để phục vụ công tác lập quy hoạch phát triển du lịch nông thôn mới tại xã Đại Dực và huyện Tiên Yên.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu dân tộc và đặc trưng cư trú tại xã Đại Dực được khóa luận ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu trong khóa luận, xã Đại Dực có 4 dân tộc sinh sống chủ yếu: người Sán Chỉ chiếm đa số với 65% dân số, người Tày chiếm 12%, người Kinh chiếm 10%, người Thái đen chiếm 10% và các thành phần dân tộc khác chiếm 3%. Sau khi sáp nhập xã Đại Thành vào xã Đại Dực, toàn xã có diện tích 46,29 km² với quy mô dân số 2.602 người (số liệu năm 2018), mật độ đạt 56 người/km².

2. Địa bàn xã Đại Dực sở hữu những tài nguyên du lịch tự nhiên tiêu biểu nào?
Tài nguyên tự nhiên của xã bao gồm: hệ thống ruộng bậc thang tại các thôn Khe Quang, Khe Lặc, Khe Lục gắn với mùa lúa chín tháng 10; quần thể đồi Tình rộng hơn 200 ha rừng thông và khoảng 50 ha rừng hoa sim ở độ cao trên 400 m; hệ thống 4 con thác tự nhiên gồm thác Nặm Văm (>30 m), thác Cô Bảy (>40 m), thác Khe Lục Mỷ (>50 m) và thác Á Chu Lan (>60 m); cùng hệ thực vật bậc cao có mạch phong phú với ít nhất 508 loài thuộc 113 họ.

3. Khóa luận khảo tả những nét văn hóa phi vật thể đặc trưng nào của người Sán Chỉ tại xã Đại Dực?
Các di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của người Sán Chỉ gồm: Lễ Cầu mùa diễn ra sau Tết âm lịch (thờ thần Nông, Lý thần hoàng, thần Đỏ, sử dụng gậy chọc lỗ "bu chồng", kết thúc bằng lễ tạ thần chì tài tàu lúc 6 giờ sáng); làn điệu dân ca Soóng Cọ (hát đối đáp nam nữ theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt); và Lễ hội Văn hóa - Thể thao dân tộc Sán Chỉ tổ chức định kỳ vào giữa tháng 10 hàng năm với các hoạt động thi giã bánh dày, thi gói bánh cốc mò, xôi ngũ sắc và giao lưu bóng đá nữ.

4. Những tuyến du lịch liên kết nào được tác giả đề xuất để phát triển du lịch xã Đại Dực?
Tác giả đề xuất 3 tuyến du lịch: (1) Tuyến nội xã Đại Dực tập trung vào trải nghiệm gặt lúa trên ruộng bậc thang, khám phá đồi Tình, tắm thác và giao lưu văn hóa bản địa; (2) Tuyến liên kết nội huyện Tiên Yên kết nối xã Đại Dực với thác Pạc Sủi (xã Yên Than), xã Phong Dụ và xã Đông Ngũ; (3) Tuyến liên kết liên vùng kết nối xã Đại Dực với huyện Bình Liêu qua các điểm đến đồi Tình - Húc Động, thác Khe Vằn, đỉnh Cao Xiêm, sống lưng khủng long và cột mốc 1305.

5. Hội đồng chấm và cán bộ phản biện đã chỉ ra những hạn chế chính nào trong khóa luận?
Cán bộ phản biện chỉ ra các hạn chế: dung lượng giữa 3 chương mất cân đối (Chương 1 chiếm số trang quá lớn); văn phong một số đoạn còn mang tính thuyết minh du lịch, xưng hô chưa thống nhất; thiếu các công cụ phân tích ma trận khoa học (SWOT, TOWS, EFE, GE); có sự nhầm lẫn giữa bảng số liệu cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tại Chương 2; các giải pháp ở Chương 3 chưa phân loại rõ theo mức độ cấp bách hay lâu dài và chưa xác định cụ thể nguồn bổ sung nhân lực.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mai Văn Hải đã tổng hợp tương đối toàn diện nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa đặc sắc tại xã Đại Dực, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Công trình làm rõ thực trạng hoạt động du lịch địa phương giai đoạn 2017 – 2022 và đề xuất các định hướng giải pháp về sản phẩm, liên kết tour tuyến, hạ tầng và nhân lực. Dù còn một số hạn chế về mặt bố cục dung lượng và phương pháp phân tích chiến lược, đề tài vẫn là một công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị thực tiễn cao, đóng góp nguồn tư liệu hữu ích cho hoạt động quản lý, xúc tiến lữ hành và bảo tồn di sản văn hóa vùng cao tỉnh Quảng Ninh.