Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học của tác giả Võ Trần Khánh Vy (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2018) tiếp cận vấn đề nhận thức vai trò giới trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang đẩy mạnh công tác bình đẳng giới nhưng vẫn chịu sự chi phối dai dẳng của các khuôn mẫu định kiến truyền thống và tư tưởng gia trưởng. Dù quyền bình đẳng nam nữ đã được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1946 và được củng cố qua các văn bản pháp luật, những rào cản về mặt nhận thức vẫn cản trở sự tiến bộ của phụ nữ cũng như sự tham gia bình đẳng của hai giới vào đời sống xã hội.
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS) – giai đoạn thiếu niên – là thời kỳ biến động mạnh mẽ về tâm sinh lý gắn liền với hiện tượng dậy thì. Đây là giai đoạn các em bắt đầu tìm hiểu sâu sắc về chuẩn mực, vai trò và bản sắc giới tính dưới sự tác động tổng hòa của yếu tố sinh học, gia đình, nhà trường, bạn bè và truyền thông. Nhận thức giới hình thành trong giai đoạn này định hình trực tiếp thái độ, hành vi và sự phát triển nhân cách sau này. Đặc biệt, học sinh THCS tại các khu vực đô thị cấp huyện/thị xã như Long Khánh (tỉnh Đồng Nai) ít có điều kiện tiếp cận các luồng quan điểm giới hiện đại hơn so với các đô thị lớn, do đó nguy cơ chịu ảnh hưởng từ các định kiến giới cũ là rất rõ nét.
Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng nhận thức về vai trò giới của học sinh THCS tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai trên các phương diện đời sống: gia đình, nhà trường và xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các khái niệm công cụ: giới, vai trò giới, nhận thức, nhận thức về vai trò giới và đặc điểm tâm lý của học sinh THCS.
- Khảo sát, tìm hiểu thực trạng nhận thức về vai trò giới của học sinh THCS tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; phân tích sự tương quan theo giới tính và trình độ học vấn của cha mẹ.
Giả thuyết nghiên cứu:
- Nhận thức về vai trò giới của học sinh THCS tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai còn chịu ảnh hưởng bởi một số định kiến giới.
- Có sự khác biệt trong nhận thức về vai trò giới giữa học sinh nam và học sinh nữ.
- Có sự khác biệt trong nhận thức về vai trò giới giữa các nhóm học sinh có trình độ học vấn của cha mẹ khác nhau.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh THCS tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về vai trò giới của học sinh THCS.
Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
- Nội dung: Khảo sát các chiều kích nhận thức về đặc điểm giới, vai trò giới trong gia đình, trường học, xã hội và đề xuất hướng giải pháp.
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2017 đến tháng 4/2018.
- Địa bàn: 3 trường THCS tại khu vực trung tâm thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (gồm THCS Hồ Thị Hương, THCS Nguyễn Trãi và THCS Lê Quý Đôn).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
Tác giả xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc đối chiếu giữa quan điểm Quyết định luận sinh học (cho rằng sự khác biệt vai trò xuất phát từ hóc môn, cấu trúc não bộ và chiến lược tái sinh sản) với Thuyết Nữ quyền và Xã hội học (tiêu biểu qua các công trình của Epstein, Thorne, Collier, Vũ Mạnh Lợi). Nghiên cứu khẳng định giới là một kiến tạo xã hội mang tính lịch sử, văn hóa, không đồng nhất với khái niệm giới tính sinh học (sex).
Hệ thống khái niệm công cụ được kế thừa từ các tài liệu học thuật và văn bản pháp lý:
- Giới tính (Sex): Chỉ các đặc điểm sinh học bẩm sinh giữa nam và nữ (nhiễm sắc thể, giải phẫu học, chức năng sinh sản).
- Giới (Gender): Quan hệ xã hội giữa nam và nữ, các vai trò, trách nhiệm và quyền lợi do xã hội và văn hóa gán cho (Lê Thị Quý, 2009; Nguyễn Mạnh Tưởng, 2008; Thái Thị Ngọc Dư, 2013; UNESCO, 2012).
- Vai trò giới: Hệ thống hành vi, công việc, trách nhiệm mà xã hội kỳ vọng ở mỗi giới dựa trên 3 nhóm hoạt động chính: hoạt động sản xuất, hoạt động tái sản xuất (chăm sóc gia đình), và hoạt động cộng đồng (Đoàn Văn Trường & Nguyễn Thị Thanh Thúy, 2015).
- Định kiến giới: Sự khái quát hóa, tuyệt đối hóa hoặc đánh giá thiên lệch về đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ, làm hạn chế tiềm năng phát triển cá nhân (Luật Bình đẳng giới; Đỗ Hoàng, 2006; Trần Thị Minh Đức).
- Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên: Sự phát triển nhảy vọt về thể chất (dậy thì), sự chuyển dịch từ tư duy trực quan hình tượng sang tư duy trừu tượng, tính chủ định trong tri giác - trí nhớ, và nhu cầu tự khẳng định bản sắc giới tính.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về giới, định kiến giới và tâm lý học lứa tuổi.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
- Cấu trúc bảng hỏi gồm 2 phần: Phần I thu thập thông tin cá nhân; Phần II đo lường nhận thức về đặc điểm giới, vai trò giới trong gia đình, nhà trường và xã hội qua các câu hỏi lựa chọn phương án (Nam / Nữ / Cả hai giới) và thang đo mức độ đồng ý (Đồng ý / Phân vân / Không đồng ý).
- Quy trình thử nghiệm: Khảo sát thăm dò thử nghiệm trên nhóm nhỏ học sinh, xin ý kiến chuyên gia/giảng viên hướng dẫn để hoàn thiện trước khi phát chính thức.
- Thang đo đạt độ tin cậy nội tại cao với hệ số Cronbach's Alpha = 0,925.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để xử lý số liệu bằng thống kê mô tả (tần số, tỉ lệ phần trăm, điểm trung bình) và thống kê suy luận (kiểm định Chi bình phương $\chi^2$ với mức ý nghĩa $p \le 0,05$) nhằm tìm kiếm sự khác biệt giữa các nhóm khách thể.
Nguồn dữ liệu và mẫu nghiên cứu
Khảo sát phát ra 400 phiếu tại 3 trường THCS (Hồ Thị Hương, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn), thu về 342 mẫu hợp lệ theo cơ cấu:
| Tiêu chí phân loại |
Nhóm phân loại |
Số lượng (N) |
Tỉ lệ (%) |
| Khối lớp |
Khối 6 |
88 |
25,7% |
|
Khối 7 |
95 |
27,8% |
|
Khối 8 |
75 |
21,9% |
|
Khối 9 |
84 |
24,6% |
| Giới tính |
Học sinh Nam |
163 |
47,7% |
|
Học sinh Nữ |
179 |
52,3% |
| Học vấn của cha mẹ |
Dưới phổ thông |
122 |
35,6% |
|
Phổ thông (12/12) |
118 |
34,5% |
|
Trên phổ thông |
102 |
29,8% |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu giới tại Việt Nam qua ba thời kỳ phát triển:
- Giai đoạn đầu thập niên 90 (thế kỷ XX): Giai đoạn du nhập lý thuyết nữ quyền phương Tây, tổ chức tập huấn, hội thảo và triển khai các dự án truyền bá quan điểm giới bước đầu.
- Giai đoạn 5 năm cuối thế kỷ XX: Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh và các mục tiêu thiên niên kỷ, cử cán bộ đào tạo thạc sĩ/tiến sĩ ở nước ngoài, lồng ghép giới vào hoạch định chính sách.
- Giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay: Ứng dụng quan điểm giới sâu rộng trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.
Tiếp đó, chương luận giải các khái niệm bản chất: phân định giới tính sinh học và giới xã hội; phân tích cơ chế hình thành vai trò giới qua 3 lĩnh vực lao động (sản xuất, tái sản xuất, hoạt động cộng đồng). Tác giả phân tích đặc điểm phát triển nhận thức và tâm lý của học sinh THCS: sự hoàn thiện của hệ thần kinh, sự hình thành ý thức bản ngã và nhận dạng giới, vai trò của tư duy trừu tượng trong việc tiếp nhận các chuẩn mực xã hội. Tác giả cũng tổng thuật các nghiên cứu thực nghiệm tiền nhiệm (như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hồng năm 2014 tại Tiền Giang về sự phân biệt đối xử của cha mẹ; nghiên cứu của Đỗ Hoàng năm 2006 về định kiến trụ cột kinh tế; nghiên cứu của Trần Thị Minh Đức về khuôn mẫu giới ở sinh viên) để làm nền tảng định hình tiêu chí khảo sát.
Chương 2: Thực trạng nhận thức về vai trò giới của học sinh THCS tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả phân tích số liệu thực nghiệm từ 342 học sinh THCS trên địa bàn khảo sát:
1. Nhận thức về đặc điểm tính cách của từng giới
Học sinh bộc lộ sự đóng khung định kiến rõ rệt đối với một số nét tính cách truyền thống:
| Đặc điểm tính cách |
Gán cho Nam (%) |
Gán cho Nữ (%) |
Cả hai giới (%) |
| Yếu đuối, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ |
0,0% |
80,1% |
19,9% |
| Nhẹ nhàng |
1,2% |
72,2% |
26,6% |
| Được đánh giá cao về sắc đẹp, sự dễ thương |
2,9% |
80,4% |
16,7% |
| Chung thủy |
3,2% |
16,7% |
80,1% |
| Kiên nhẫn, chịu khó, biết lắng nghe người khác |
5,8% |
18,7% |
75,4% |
| Tôn trọng người khác |
2,6% |
6,1% |
91,2% |
| Chịu khó, chăm chỉ |
3,8% |
21,1% |
75,1% |
Các phẩm chất đạo đức chung như "Tôn trọng người khác" (91,2%), "Chung thủy" (80,1%) được phần lớn học sinh nhận thức đúng đắn là thuộc về cả hai giới. Tuy nhiên, các đặc điểm mang tính xúc cảm, ngoại hình vẫn bị đồng nhất tuyệt đối hóa cho nữ giới.
2. Nhận thức về vai trò giới trong gia đình
- Phân công công việc: Có đến 87,1% học sinh cho rằng công việc "Sửa chữa các thiết bị, vật dụng trong gia đình" chỉ phù hợp với nam giới; 53,2% học sinh cho rằng "Công việc nội trợ: đi chợ, nấu ăn, giặt giũ, chăm sóc gia đình" chỉ phù hợp với nữ giới.
- Nhận định về trụ cột kinh tế: Mặc dù có trên 50% học sinh không đồng ý với nhận định "Không thể để phụ nữ làm trụ cột kinh tế vì sẽ làm mất đi sự dịu dàng, nữ tính", vẫn còn một tỷ lệ lớn học sinh đồng ý hoặc phân vân, cho thấy khuôn mẫu người chồng là trụ cột duy nhất vẫn tồn tại ngầm trong suy nghĩ của học sinh.
3. Nhận thức về vai trò giới trong nhà trường
- Phân công chức vụ: Các vị trí đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo như "Lớp phó văn thể mỹ" (23,1% gán riêng cho nữ), "Thủ quỹ" có tỉ lệ lựa chọn nữ giới áp đảo; trong khi chức vụ "Lớp phó lao động" bị định kiến gán phần lớn cho học sinh nam vì tính chất nặng nhọc.
- Hoạt động thể chất: Hoạt động "Bóng đá" có 54,7% học sinh cho rằng chỉ phù hợp với nam giới (chỉ 0,1% chọn nữ); ngược lại, các hoạt động "Nhảy dây", "Múa" có tỉ lệ áp đảo gán cho nữ giới.
- Môn học: Học sinh có xu hướng coi môn Kỹ thuật điện thuộc về nam giới; các môn Công nghệ cắt may - nấu ăn, Thể dục nhịp điệu, Âm nhạc, Mỹ thuật thuộc về nữ giới.
- Định hướng học tập: Có trên 50% học sinh đồng ý hoặc phân vân trước nhận định "Học sinh nam nên tập trung học các môn tự nhiên; học sinh nữ nên tập trung học môn xã hội và năng khiếu". Tỉ lệ không đồng ý với định kiến này chỉ đạt từ 30% đến 40%.
4. Nhận thức về vai trò giới trong xã hội và nghề nghiệp
- Nghề nghiệp hành chính và dịch vụ: Nghề "Thư ký" có 68,7% học sinh cho rằng chỉ dành cho nữ; nghề "Nhân viên thư viện" có 52,0% gán cho nữ; nghề "Thợ dệt" có 70,5% gán cho nữ; "Thiết kế trang sức" có trên 50,0% chọn nữ.
- Nghề nghiệp kỹ thuật và môi trường nặng nhọc: Các nghề như "Tài xế", "Thợ cơ khí", "Kiến trúc sư" có trên 50,0% học sinh chọn nam giới. Đặc biệt, nghề "Kiểm lâm" có 71,7% và "Phi công, phi hành gia" có 61,8% học sinh cho rằng chỉ phù hợp với nam giới.
- Nghề nghiên cứu và nông nghiệp: Nghề "Nhà khoa học" có 70,2% và "Chăn nuôi, làm vườn" có 76,0% học sinh nhận thức phù hợp với cả hai giới (tuy nhiên vẫn còn 28,4% gán nhà khoa học riêng cho nam).
- Vị trí quản lý: Có 32,9% học sinh đồng ý và một tỉ lệ lớn phân vân đối với nhận định "Nữ giới không nên làm quản lý hay công việc lâu dài do bị gián đoạn bởi thiên chức làm mẹ", tổng tỉ lệ đồng ý và phân vân vượt mức 50%.
5. Sự khác biệt nhận thức theo giới tính (Kiểm định Chi-square)
Kết quả phân tích tương quan cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa học sinh nam và học sinh nữ ở nhiều chỉ báo ($p < 0,05$):
| Chỉ báo khảo sát |
Mức ý nghĩa ($Sig.$) |
Chiều hướng khác biệt |
| Đặc điểm: Tính độc lập, cạnh tranh, ra quyết định tốt |
$p < 0,05$ |
Tỉ lệ học sinh nam gán đặc điểm này cho nam giới cao hơn đáng kể so với học sinh nữ. |
| Đặc điểm: Được đánh giá cao về trí tuệ và sự thành đạt |
$Sig. = 0,042$ |
Học sinh nam có xu hướng mang định kiến nam giới vượt trội về trí tuệ cao hơn học sinh nữ. |
| Gia đình: Ra quyết định về các hoạt động trong gia đình |
$Sig. = 0,003$ |
Học sinh nam cho rằng việc này thuộc về nam giới nhiều hơn; học sinh nữ có xu hướng chọn cả hai giới cao hơn. |
| Gia đình: Ra quyết định về cách dạy dỗ con cái |
$Sig. = 0,007$ |
Học sinh nam gán việc dạy con cho nữ giới cao hơn tỉ lệ ở học sinh nữ. |
| Nhận định: Chỉ con trai mới là chỗ dựa khi về già |
$p < 0,05$ |
Học sinh nam đồng ý với tư tưởng trọng nam cao hơn học sinh nữ. |
| Nhận định: Chia tài sản cho con trai nhiều hơn |
$Sig. = 0,004$ |
Sự khác biệt rõ nét; học sinh nam ủng hộ thiên vị tài sản cho nam giới cao hơn. |
| Nhận định: Ưu tiên đầu tư việc học cho con trai |
$p < 0,05$ |
Tỉ lệ học sinh nam đồng ý cao hơn học sinh nữ. |
| Nhận định: Không thể để phụ nữ làm trụ cột kinh tế |
$Sig. = 0,000$ |
Khác biệt rất có ý nghĩa; học sinh nam giữ định kiến về vai trò kinh tế chặt chẽ hơn học sinh nữ. |
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Nhận thức của học sinh THCS tại thị xã Long Khánh về vai trò giới mang tính hai mặt: đã có bước tiến bộ trong việc công nhận sự bình đẳng ở các giá trị đạo đức chung (tôn trọng, chung thủy, chăm chỉ) và một số ngành nghề (nhà khoa học, nông nghiệp), nhưng vẫn tồn tại định kiến giới rất sâu sắc trong phân công lao động gia đình (sửa chữa đồ đạc: 87,1% nam; nội trợ: 53,2% nữ), phân luồng môn học (trên 50% định kiến nam học tự nhiên, nữ học xã hội), cơ cấu chức vụ lớp và nghề nghiệp kỹ thuật - quản trị xã hội (kiểm lâm: 71,7% nam; thư ký: 68,7% nữ; thợ dệt: 70,5% nữ).
- Tồn tại sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa hai giới: học sinh nam duy trì mức độ định kiến khuôn mẫu giới cao hơn học sinh nữ ở hầu hết các khía cạnh (đặc điểm trí tuệ, quyền ra quyết định gia đình, ưu tiên học tập, thừa kế tài sản và vị thế trụ cột kinh tế, với $p < 0,05$).
- Tác giả phát hiện hiện tượng mâu thuẫn nhận thức: khi trả lời về các tình huống cụ thể (công việc, môn học, nghề cụ thể), học sinh bộc lộ định kiến cao hơn so với khi đánh giá các nhận định lý thuyết chung.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Củng cố khung lý thuyết tâm lý học giới áp dụng cho lứa tuổi thiếu niên tại Việt Nam; cung cấp dẫn liệu minh chứng cho thấy nhận thức giới là một quá trình tiếp biến văn hóa chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ bối cảnh xã hội hóa cá nhân.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm chuẩn xác với độ tin cậy cao (Cronbach's Alpha = 0,925) về thực trạng định kiến giới của học sinh THCS tại địa bàn thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai; làm cơ sở khoa học để các nhà trường xây dựng chương trình giáo dục bình đẳng giới và tư vấn tâm lý học đường phù hợp.
- Giải pháp đề xuất của tác giả: Đề xuất nhà trường và gia đình cần tích cực đổi mới phương pháp giáo dục, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, lồng ghép bình đẳng giới vào việc phân công nhiệm vụ học tập, không rập khuôn nghề nghiệp và chức vụ theo giới tính để giúp học sinh tiếp cận hệ thống giá trị hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát mới chỉ tập trung tại 3 trường THCS ở khu vực trung tâm thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai trong năm học 2017–2018 (quy mô 342 mẫu hợp lệ), chưa bao quát các trường vùng sâu, vùng xa hoặc các địa bàn nông thôn lân cận để so sánh diện rộng.
- Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra định lượng bằng bảng hỏi, chưa kết hợp các phương pháp định tính chuyên sâu như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm hoặc nghiên cứu trường hợp.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau (thành thị lớn đối chiếu nông thôn).
- Triển khai các nghiên cứu thực nghiệm can thiệp tâm lý học đường (tập huấn, giáo trình trải nghiệm) nhằm đánh giá sự biến đổi nhận thức giới của học sinh trước và sau tác động can thiệp.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Xã hội học, Công tác xã hội và Giới & Phát triển.
- Giáo viên THCS, cán bộ Đoàn - Đội, chuyên viên tư vấn tâm lý học đường tại các trường phổ thông.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Cấu trúc bảng hỏi khảo sát nhận thức vai trò giới chia theo 3 không gian tương tác (gia đình, nhà trường, xã hội) với hệ số tin cậy đã được kiểm chứng ($Alpha = 0,925$).
- Quy trình ứng dụng kiểm định Chi-square trên SPSS 16.0 để xử lý các biến số định danh và thứ bậc trong nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm.
- Nguồn tư liệu tổng quan sâu sắc về lịch sử nghiên cứu giới tại Việt Nam từ đầu thập niên 90 đến nay.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng thang đo nào và độ tin cậy của công cụ khảo sát đạt bao nhiêu?
Khóa luận xây dựng bảng hỏi khảo sát gồm 2 phần với các câu hỏi lựa chọn phương án (Nam, Nữ, Cả 2 giới) và thang đo mức độ ý kiến (Đồng ý, Phân vân, Không đồng ý). Toàn bộ phiếu khảo sát được kiểm định qua phần mềm SPSS 16.0 và đạt hệ số Cronbach's Alpha là 0,925, chứng minh thang đo có độ tin cậy rất cao.
2. Quy mô mẫu và địa bàn khảo sát cụ thể của nghiên cứu được tiến hành ở đâu?
Nghiên cứu khảo sát trên 342 mẫu hợp lệ (thu về từ 400 phiếu phát ra) thuộc 4 khối lớp (6, 7, 8, 9) tại 3 trường THCS trung tâm thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai: THCS Hồ Thị Hương, THCS Nguyễn Trãi và THCS Lê Quý Đôn, trong giai đoạn từ tháng 9/2017 đến tháng 4/2018.
3. Tỉ lệ học sinh gán việc sửa chữa đồ đạc và nội trợ theo khuôn mẫu giới truyền thống là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát Bảng 2.3 trong văn bản, có 87,1% học sinh cho rằng công việc "Sửa chữa các thiết bị, vật dụng trong gia đình" chỉ phù hợp với nam giới; và 53,2% học sinh cho rằng "Công việc nội trợ: Đi chợ, nấu ăn, giặt giũ, chăm sóc gia đình" chỉ phù hợp với nữ giới.
4. Có sự khác biệt nào có ý nghĩa thống kê giữa học sinh nam và học sinh nữ về nhận thức vai trò giới trong gia đình?
Có. Kiểm định Chi-square cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rõ rệt giữa hai nhóm: ở các nhận định "Ra quyết định hoạt động gia đình" ($Sig. = 0,003$), "Ra quyết định dạy dỗ con cái" ($Sig. = 0,007$), "Chia tài sản cho con trai nhiều hơn" ($Sig. = 0,004$) và "Không thể để phụ nữ làm trụ cột kinh tế" ($Sig. = 0,000$), học sinh nam luôn có tỉ lệ duy trì định kiến truyền thống cao hơn học sinh nữ.
5. Nhận thức của học sinh đối với các nghề Thư ký, Kiểm lâm và Phi công thể hiện như thế nào?
Học sinh bộc lộ định kiến nghề nghiệp rất rõ rệt: nghề "Thư ký" có 68,7% học sinh gán cho nữ giới; trong khi nghề "Kiểm lâm" có 71,7% và nghề "Phi công, phi hành gia" có 61,8% học sinh cho rằng chỉ phù hợp với nam giới.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Trần Khánh Vy đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giới và tâm lý học lứa tuổi thiếu niên, đồng thời cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về thực trạng nhận thức vai trò giới của học sinh THCS tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu khẳng định giả thuyết rằng định kiến giới truyền thống vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của học sinh trong gia đình, học đường và việc phân luồng nghề nghiệp xã hội, trong đó học sinh nam có mức độ định kiến cao hơn học sinh nữ. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu tâm lý học giáo dục và xây dựng các chương trình truyền thông bình đẳng giới trong trường phổ thông.