CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THỰC TIEN 1. Tổng quan nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Từ cuối thế ki XX, đã có nhiều nghiên cứu đưa ra quan niệm và mô hình mới về chương trình dạy học, đặc biệt có quan điểm dạy học định hướng phát triển nang lực được nhiều quốc gia quan tâm và áp dung. Do đó dé phù hợp với chương trình day học theo năng lực thì đòi hỏi các phương pháp KTDG cũng phải được thay đôi theo.
Năm 2004, Phil Race, Sally Brown và Brenda Smith đưa ra những chỉ dẫn, và chủ yếu, giới thiệu những hình thức KTĐG, cách đưa thông tin phản hồi và giám sát chất lượng KTDG kết quả học tập của sinh viên đại học và cao đăng. Năm 2013, Ralph Tyler là một trong những người dau tiên đưa ra khái niệm DG giáo dục. Ong sử dụng thuật ngữ DG dé biểu thị quy trình DG sự tiến bộ của người học theo các mục tiêu đạt được. Theo Tyler có ba yếu tô chính tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình giáo dục là: mục tiêu.
kinh nghiệm học tập và DG người học. Ông đưa ra luận điềm rằng KTĐG HS trong quá trình day học là rất quan trọng, bên cạnh việc kiêm tra được mức độ tối đa có thê đạt được các mục tiêu chương trình, thì nó còn giúp cung cấp thông tin để biết được trải nghiệm học tập là tốt hay không tốt, từ đó kịp thời đưa ra những biện pháp khắc phục trong hoạt động day học. Tyler xem DG như tâm điềm của quy trình giáo dục. Nhiều quốc gia đã day mạnh DGQT bang các hình thức mới như: quan sát, phỏng van, hồ sơ, dự án, HS tự DG, DG kết quả học tập thông qua dự án.
Ở Hoa Ki, dé KTDG mức độ tiếp nhận và cảm thụ văn học về một tác phẩm nào đó, GV yêu cầu HS hoạt động nhóm dé phân tích nội dung. nghệ thuật của tác phâm và có thé lập dự dn tham quan bảo tàng của nhà văn. HS được tự do trao đối, tìm hiểu thực tế, vận dụng nhiều kiến thức liên môn, hợp tác nghiên cứu và có thê đưa ra nhiều nhận định sáng tạo (Hà Huy Hiệp. Hiện nay, có rất nhiều công cụ KTDG hữu hiệu trong đó phái kế đến PISA (Programme for International Student Assessment) — Chương trình DG HS quốc tế ở lứa tuôi 15, theo chu kì 3 năm một lần (bắt đầu từ năm 2000) được thực hiện bởi Tô chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD).
Trong DG PISA, câu hỏi chú trọng đến các tình huồng trong thực tiễn gan gũi với kiến thức đã học ở phô thông. giúp cho các quốc gia tham gia có cơ hội nhìn nhận một cách khá toàn diện về những “ki năng cơ bản”, “nang lực ca nhân” mà HS quốc gia họ đạt được, đề từ đó đưa ra chính sách mới nhằm phát triển giáo dục một cách bên vững (OECD, 2014). Tình hình nghiên cứu trong nước Năm 1995, Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã thực hiện công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nha nước “Co sở lí luận của việc DG chat lượng học tập của HS phô thông”. Tài liệu này làm nên tảng cho việc tiếp cận các khái niệm.
thuật ngừ về KTDG giáo dục cũng như những yêu cầu về nội dung và kĩ thuật kiểm tra, DG. Năm 2003, tác giả Đặng Vũ Hoạt đã trình bày những vị trí, chức năng và các quan điểm KTDG tri thức của HS dưới góc độ lí luận dạy học hiện nay trong công trình “Một số van dé kiểm tra và DG tri thức của HS”. Theo tác giả “Khi KTDG tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chúng ta cần kiểm tra thường xuyên, có hệ thống, có kế hoạch, kết hợp nhiều dang, nhiều phương pháp kiểm tra. Đồng thời cần bồi dưỡng cho HS ý thức tự DG một cách đúng đắn và khiêm tốn”.
Dé dam bảo tính toàn điện, phat triển, khách quan, chính xác và công bằng tránh thiên vi, chi mang tính hình thức thì hoạt động KTDG cần phải được tô chức thật tốt, có kế hoạch và thường xuyên, không quá dé dai nhưng cũng không quá khắt khe. Điều này giúp cho việc KTDG kết qua học tập của HS mang lại kết quả cao mà còn góp phan hình thành va phát triển toàn điện nhân cách người học.TS Nguyễn Đình Nhâm và TS. Vũ Dinh Luận đã viết cuốn giáo trình “Phuong pháp kiểm tra DG trong day học Sinh học”, bàn về các phương pháp KTDG trong dạy học môn Sinh hoc: trong đó các tác giả đưa ra 6 yếu tô cơ bản trong dạy học môn Sinh học bao gồm: mục tiêu dạy học. nội dung dạy học, phương pháp day học, hình thức tê chức dạy học, phương tiện dạy học và KTĐG trong day học.
Những năm gan đây Bộ GD&ĐT đã triển khai tập huấn rộng rai cho GV về van đề dạy học, kiểm tra, DG theo định hướng phát triển năng lực. Tiêu biểu có thé nhắc đến các tài liệu biên soạn cho GV THPT như: “Tai liệu tap huấn dạy học và kiêm tra và DG kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực HS” của Bộ GD&DT (2014): “Tai liệu tập huấn xây dựng các chuyên dé day hoc va kiém tra va DG theo định hướng phát triển nang lực HS” của Bộ GD&DT (2014); “Tai liệu kiém tra va DG trong giáo dục” của Trường Dai học Sư phạm Hà Nội (2014). Trong các tài liệu này chủ yếu dé cập đến các lí thuyết về dạy học và kiểm tra và DG nói chung. theo định hướng phát triền năng lực nói riêng.
Đây là những tài liệu hữu ích cho việc đôi mới giáo dục hiện nay. Tuy nhiên, về công cụ kiêm tra, DG thi trong các tài liệu này chỉ trình bày những gợi ý mang tính chất chung chung, thiên vẻ lí thuyết, GV khó áp dụng cho từng môn học của mình (Nguyễn Đăng Nhật, 2020). Dến năm 2020, Nguyễn Thị Hằng Nga và cộng sự đã biên soạn Mô đun 3 - Kiém tra, DG HS THPT theo hướng phát triển phẩm chat, năng lực môn Sinh học thuộc bộ Tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng GV phô thông cốt cán trong việc thực hiện đôi mới KTDG kết quả học tập, rèn luyện của HS theo yêu cầu của chương trình giáo dục phô thông 2018. Mô đun được xây dựng theo cấu trúc tích hợp giữa lí thuyết và thực hành, nhằm nâng cao hiểu biết cho học viên những kiến thức cơ bản về KTDG HS theo hướng phát trién pham chất, năng lực HS trong quá trình dạy học môn học.
Thông tư Quy định về DG HS THCS và HS THPT số: 22/2021/TT-BGDĐT do Bộ GD&DT ban hành năm 2021 cũng chỉ rõ vai trò của hoạt động DG thường xuyên (ĐGQT) là: *cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS dé kịp thời điều chỉnh trong quá trình dạy học; hỗ trợ, thúc day sự tiễn bộ của HS; xác nhận kết quả đạt được của HS trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ rèn luyện và học tập”. Thông tư không giới hạn số lần kiểm tra thường xuyên, chỉ quy định số đầu điểm KTĐG thường xuyên được ghi nhận kết quả đối với từng môn học. Việc DG thường xuyên được áp dụng linh hoạt thông qua: hỏi - đáp, viết. thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập.
Do đó, HS được DG nhiều góc độ, phù hợp với định hướng phát triển năng lực. Như vậy, có thé thay trong những năm gần đây, nền giáo dục Việt Nam đã có những bước chuyên biến tích cực về khoa học KTĐG HS nói chung và hoạt động DG thưởng xuyên nói riêng trong quá trình dạy học theo hướng phát triên phầm chất, năng lực, nhưng nhìn chung vẫn còn chậm và chưa bắt kịp với thé giới. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Ba quan điểm về DG Cùng với sự phát trién của khoa học giáo dục, khoa học về KTĐG cũng được nghiên cứu, phát triển và xuất hiện một số khái niệm mới.
Ba đặc trưng quan trọng của xu hướng mới về KTĐG là: DG phát triển, DG thực tiễn va DG sáng tạo (Vũ Thị Phương Anh, 2006). DG phát triển (Fomative Assessment) Đây là thuật ngữ được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu về xu hướng KTDG mới. dùng với nghĩa DG quá trình trước đây dé chi các hoạt động KTDG được thực hiện trong quá trình đạy - học, phân biệt với kiểm tra giáo dục tại những thời điểm khác nhau như DG chat lượng đầu vào (PreTest) hoặc DG khi kết thúc một quá trình day - học, DG tông kết (Summative Assessment), DG quá trình là một loạt các quy trình DG chính thức và không chính thức được thực biện bởi nhiều GV trong quá trình học tập, rèn luyện của người học, đề thay đôi hoạt động day - học nhằm cải thiện thành tích đạt được của họ. Nó liên quan đến thông tin phản hoi về chất lượng học tập, rèn luyện của HS cho cả GV va HS.
Mỗi quan tam của DG quá trình là hiệu quả của hoạt động giảng day trong quá trình phát triển năng lực của người học, chứ không chứng minh HS dat được một mức thành tích nào đó. DG quá trình có giá trị phan hồi (Feedback) rat cao. DG tông kết là thực hiện chức nang DG dé phục vụ công tác quản lí. Mục tiêu của DG tông kết là mức độ thành tích đạt được của HS và thông qua đó, DG thành tích của GV, của nhà trường, sau một quá trình dạy - học.
DG nay không quan tâm đến HS đạt được thành tích đó như thế nào, mà chỉ quan tâm đến điểm số của từng HS, hoặc điểm trung bình của HS trong một lớp, một trường, một vùng; trên cơ sở đó so sánh HS này với HS khác, trường này với trường khác, suy rộng ra vùng này với vùng khác (Hỗ Sỹ Anh, 2013). DG thực tiễn (Authentic Assessment) Bao gồm mọi hình thức và phương pháp KTDG được thực hiện với mục đích KT các năng lực cần có trong cuộc sông hằng ngày và được thực hiện trong bối cảnh thực tế. Cách DG này nhắn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa yêu cầu của DG với thực tế cuộc sông. DG này khác với DG truyền thống, chỉ dựa vào DG trên giấy thông qua bài viết tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan (Vũ Thị Phương Anh, 2006).
DG sáng tao (Alternative Assessment) DG sáng tạo hay DG thay thé, nó trái ngược với cách DG truyền thống, và gan với các khái niệm DG thực tiễn, DG tích hợp, DG toàn diện. DG sáng tạo nhân mạnh sự mới mẻ, đa dạng và sáng tạo của những cách thức KTDG. Trong mô hình này, HS, GV và có khi cả phụ huynh, chọn một số mang hoạt động, những thành tích hay điểm KT môn học.